A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lý do chọn đề tài:
Trong trường tiểu học, cùng với những môn học khác ,Tiếng Việt là môn học
có nhiều đổi mới cả về mục đích, nội dung và quan điểm dạy học. Tiếng Việt lớp 2
bao gồm sáu phân môn, mỗi phân môn có một vị trí đặc biệt quan trọng. Học tốt
từng phân môn là học tốt Tiếng Việt. Tiếng Việt là môn học cơ sở để tiếp thu và lĩnh
hội tri thức các môn học khác.
Mỗi phân môn Tiếng Việt có một sắc thái riêng. Phân môn Luyện từ và
câu tuy bản chất là cung cấp vốn từ (từ ngữ) và học về câu (ngữ pháp), song
trong sách giáo khoa không đưa ra “những kiến thức đóng khung có sẵn” mà là
“hệ thống các bài tập”. Học sinh muốn lĩnh hội tri thức không thể khác là thực
hành làm tất cả các bài tập trong sách giáo khoa. Vậy một giờ Luyện từ và câu
(LTVC) ở lớp 2 được tiến hành ra sao ?
Thực tế cho thấy mỗi giáo viên đều tích cực đổi mới phương pháp dạy học
nhưng nhiều tiết dạy LTVC ở lớp 2 diễn ra vẫn còn trầm lắng và chưa thật sự
hiệu quả. Tuy chưa phải học những kiến thức sâu rộng như thành phần chính, phụ
của câu hoặc những khái niệm mang tính bản chất, phức tạp nhưng với hệ thống bài
tập cũng dễ làm học sinh chán học nếu giáo viên không có sự thay đổi linh hoạt các
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Đối với học sinh lớp 2, ở lứa tuổi này các em tâm lí các em còn hồn nhiên,
sự tập trung chú ý chưa cao. Bên cạnh học là hoạt động chủ đạo thì nhu cầu
chơi, nhu cầu được giao tiếp với bạn bè… vẫn tồn tại và cần thoả mãn. Hiểu
được điều đó, trong quá trình dạy học, người giáo viên biết lựa chọn phương
pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của các em sẽ
đem lại hiệu quả cao. Dạy học bằng phương pháp “ trò chơi học tập” là đưa học
sinh đến với các hoạt động vui chơi, giải trí có nội dung gắn liền với bài học.
Trò chơi trong học tập có tác dụng giúp học sinh thay đổi động hình, chống mệt
mỏi, tăng cường khả năng thực hành kiến thức của bài học, phát huy hứng thú,
tạo thói quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh…
Xuất phát từ lý do trên tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, đưa một số trò chơi vào
trong bài giảng của mình, nhằm gây hứng thú cho học sinh lớp 2 khi học phân
- Khảo sát chất lượng học sinh.
3. Phương pháp thực nghiệm:
- Dự giờ đồng nghiệp.
- Tiến hành dạy thực nghiệm, đối chứng, trao đổi rút kinh nghiệm, đánh giá của
việc vận dụng đổi mới nội dung - phương pháp dạy học vào lớp 2C trường Tiểu học
Thị Trấn
- Quan sát việc học tập LTVC của học sinh.
- Thống kê chất lượng thông qua bài khảo sát.
2
PHẦN B : NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN LTVC
1. Vị trí, vai trò của phân môn luyện từ và câu
Ở lớp 2, phân môn luyện từ và câu là một môn học giữ vị trí chủ đạo trong
chương trình Tiếng Việt mới của lớp 2. Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở
trường, học sinh đã được làm quen với lí thuyết của từ và câu. Sau đó, kiến thức
được mở rộng thêm và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một cao trong
cuộc sống của các em cũng như trong lao động, học tập và giao tiếp.
Luyện từ và câu là môn học nền tảng để học sinh học các môn học khác trong
tất cả các cấp học sau, cũng như trong lao động và giao tiếp trong cuộc sống, bởi
nó giúp học sinh có kĩ năng nói đúng. Từ đó, sử dụng Tiếng Việt một cách
thành thạo làm công cụ tư duy để học tập giao tiếp và lao động.
2. Trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi. Trò chơi học tập
không chỉ nhằm chơi vui giải trí mà còn nhằm góp phần củng cố tri thức, kỹ
năng học tập của các em. Với các đặc điểm riêng, trò chơi mở ra cho học sinh
tiểu học một khả năng phát triển lớn. Các em được tiếp cận hoàn cảnh chơi,
nhiệm vụ chơi, hoạt động chơi … từ đó các em lĩnh hội các tri thức sống động
đồng nghiệp vẫn còn một số tồn tại:
- Một số tiết dạy chưa có sự đầu tư : đổi mới PPDH chưa triệt để, các hình
thức tổ chức hoạt động trong giờ học Luyện từ và câu còn đơn điệu, nghèo nàn,
phương tiện, đồ dùng dạy học chuẩn bị chưa chu đáo.
- Nhiều tiết dạy LTVC giáo viên đã sử dụng phương pháp “trò chơi học
tập”, tuy nhiên chủ yếu chỉ ở những tiết thao giảng, dự giờ. Còn những tiết dạy
hàng ngày trên lớp giáo viên còn ngại tổ chức trò chơi cho học sinh. Việc sử
dụng phương pháp trò chơi trong dạy học chưa thực sự được chú trọng và chưa
mang lại hiệu quả: tổ chức qua loa, chưa bài bản, chưa xác định rõ mục tiêu và
tác dụng của trò chơi, lớp học ồn... dẫn đến giờ học chưa hiệu quả, chưa lôi cuốn
được học sinh tham gia vào hoạt động học tập.
- Tài liệu nói về hình thức tổ chức trò chơi học tập còn hạn chế, một số tài
liệu có đưa ra các hình thức trò chơi phong phú song chưa sát thực, không mang
tính khả thi.
2. Thực trạng của học sinh.
Trường tiểu học Thị Trấn là một trong những trường chuẩn quốc gia mức
độ 2 tốp đầu tiên của Tỉnh Thanh Hóa. Học sinh Trường Tiểu học Thị Trấn vốn
có truyền thống hiếu học và có bề dày thành tích về học tập. Học sinh chủ yếu là
con gia đình cán bộ, được các bậc phụ huynh quan tâm, tạo điều kiện về vật
chất, tinh thần cho các em học tập tốt. Vì vậy đại đa số học sinh của nhà trường
tự tin, giao tiếp tốt, chất lượng học tập khả quan.
Bên cạnh những học sinh chăm học, vẫn còn một số em đang còn rất thờ ơ
với việc học Tiếng Việt (vì có phân môn Luyện từ và câu ,Tập Làm Văn). Đây
là một phân môn mới lạ với các em từ lớp một lên, có một số em bố mẹ cho đặt
câu, viết đoạn ở nhà là khóc( Phụ huynh em Nguyễn Trí, Tấn Dũng, Lê Vy phản
ánh lại). Vì vậy, kĩ năng giao tiếp, vốn từ ngữ, kiến thức về câu của các em rất
hạn chế, điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập của các em nói chung.
Một số phụ huynh chưa có phương pháp để hỗ trợ cho các em tiếp thu, củng
cố kiến thức môn Tiếng Việt. Vì vậy nói đến học Tiếng Việt là các em thấy sợ,
lo lắng, không muốn học, từ đó chất lượng học môn Tiếng Việt của học sinh
%
18,3
Với thực trạng trên, cùng với những băn khoăn, trăn trở của mình tôi mạnh
dạn tìm hiểu nội dung chương trình, tài liệu hướng dẫn, thực tế kinh nghiệm
giảng dạy trên lớp, trao đổi cùng đồng nghiệp để lựa chọn một số trò chơi cho
học sinh phù hợp với từng kiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh trong
lớp nhằm tạo hứng thú học tập cho các em khi học LTVC, từ đó nâng cao chất
lượng môn Tiếng Việt nói riêng và chất lượng giáo dục nói riêng.
III. CÁC BIỆN PHÁP:
Việc áp dụng phương pháp: “trò chơi học tập” khi dạy LTVC chính là việc
giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mê học tập, tạo không khí sôi nổi cho
một giờ học. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải xác định rõ yêu cầu đạt của tiết học,
mục tiêu của trò chơi học tập là gì? Trên cơ sở đó cần lựa chọn trò chơi gì? đưa
trò chơi vào lúc nào? bài tập nào? Cách tổ chức ra sao? Nếu giáo viên không tổ
chức tốt thì trò chơi không gặt hái được kết quả như mong muốn mà còn bị phản
tác dụng gây sự mất trật tự trong giờ học. Chính vì vậy việc giảng dạy một tiết
LTVC ở lớp 2 được tiến hành ra sao để học sinh chủ động, hào hứng lĩnh hội tri
thức, đó là điều tôi đã nghiên cứu, nhận biết và tìm hiểu được một số kinh
nghiệm về vận dụng một số trò chơi vào tiết dạy LTVC ở lớp 2. Đó là những trò
chơi gì? được vận dụng vào từng bài dạy như thế nào cho hiệu quả? Giáo viên
cần nghiên cứu kĩ chương trình và phân ra từ dạng bài
cụ thể, rồi đưa các trò chơi phù hợp vào từng bài :
1. Giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình, phân ra các dạng bài
trong phân môn Luyện từ và câu:
Việc nắm vững nội dung, chương trình giúp giáo viên có cái nhìn tổng quát
và xác định rõ được mục tiêu cần đạt của môn học. Khác với SGK chương trình
cũ, LTVC lớp 2 chương trình mới không có bài học lí thuyết riêng. Các kiến
30, 31, 33, 34.
c. Dạng bài tích cực hóa vốn từ:
Dạng bài tập này không chỉ giúp học sinh nắm được nghĩa mà còn làm
rõ khả năng kết hợp từ. Những bài tập được sử dụng ở lớp 2 là bài tập điền
từ, bài tập đặt câu, bài tập tạo từ….
Chương trình LTVC lớp 2 gồm các tiết: Tuần 10,11,13,12,14,32,34.
d. Dạng bài khái niệm câu:
Quá trình hình thành khái niệm câu có thể chỉ ra theo các bước sau :
Đưa ngữ liệu và phân tích ngữ liệu với mục đích làm rõ những dấu
hiệu bản chất của khái niệm câu.
Khái quát hóa dấu hiệu thiết lập quan hệ giữa các dấu hiệu của khái
niệm
đưa thuật ngữ (học sinh nắm thao tác so sánh và tổng hợp)
Để chuẩn bị dạy khái niệm câu giáo viên cần đặt trong hệ thống
chương trình để thấy rõ vị trí của nó đồng thời phải nắm chắc nội dung
khái niệm. Đây
chính là nội dung mà giáo viên cần đưa đến cho học sinh.
Chương trình LTVC lớp 2 gồm các tiết: Tuần 3, 6, 13,14,15,16
2 . Xác định mục tiêu của trò chơi, xây dựng và thiết kế trò chơi:
Trong thực tế , khi dạy LTVC nhiều giáo viên đã sử dụng trò chơi học tập.
Tuy nhiên, nhiều giáo viên chưa xác định rõ được mục tiêu của trò chơi, chưa
khai thác hết được tầm quan trọng của trò chơi học tập.Việc sử dụng trò chơi
học tập chủ yếu ở khâu củng cố bài với mục đích thay đổi không khí lớp học,
củng cố lại kiến thức bài học. Vì vậy giáo viên chưa quan tâm đến cách xây
dựng và thiết kế trò chơi nên hiệu quả của trò chơi học tập chưa cao.
Ngoài việc củng cố kiến thức, trò chơi học tập còn có thể dùng để hình
thành kiến thức, kỹ năng mới, tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt
6
giáo viên không tổ chức qua loa, ngẫu hứng , trò chơi không đảm bảo mục tiêu, học
sinh nắm rõ luật chơi, khi thực hiện thì không lúng túng, không mất trật tự …
3. Lựa chọn các trò chơi:
Việc lựa chọn các trò chơi học tập trong môn Luyện từ và câu phải đáp ứng
được
mục tiêu của bài học. Các trò chơi phải đặt ra cho học sinh các nhiệm vụ học tập
tương ứng với nội dung dạy học. Mỗi trò chơi cần có một vị trí đóng góp cụ thể
trong tiến trình thực hiện mục đích dạy học. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu dạy học
phân môn Luyện từ và câu lớp 2, hệ thống các trò chơi phải được lựa chọn sao
cho đa dạng về chủ đề, phong phú về cách chơi. Dựa vào hình thức, cách chơi
và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt dựa theo
nội dung từng bài dạy mà giáo viên tổ chức trò chơi phù hợp với đối tượng học
7
sinh của mình. Để từ đó các em cảm thấy : “Mỗi ngày đến trường là một ngày
vui”.Vì vậy khi lựa chọn trò chơi, giáo viên cần lưu ý:
- Lựa chọn trò chơi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, vừa sức với học sinh.
- Lựa chọn thời điểm thích hợp khi tổ chức các trò chơi học tập cho học sinh
lớp.
- Các thời điểm có thể tổ chức trò chơi khi dạy phân môn Luyện từ và câu là:
+ Hình thành kiến thức, kỹ năng mới .
+ Củng cố kiến thức, kỹ năng đã học và mở rộng vốn từ cho các em.
4. Vận dụng các trò chơi vào trong từng dạng bài cụ thể:
Mỗi một dạng bài LTVC có mục tiêu riêng và cách khai thác riêng. Mỗi trò
chơi học tập có mục đích, vai trò và hiệu quả nhất định. Vì vậy, giáo viên cần
căn cứ vào từng dạng bài cụ thể để lựa chọn trò chơi chủ đạo:
a. Dạng bài lí thuyết về từ.
Kết quả của nhóm 1 và nhóm 2 các em đều viết đúng được 8 từ vào 8 tranh
ảnh phù hợp của bài tập 1. Riêng nhóm thứ ba, các tìm từ chỉ sự vật ở hình 2 là
nông dân, ban giám khảo đánh giá là sai, tôi đã hướng dẫn học nhận xét: Người
nông dân ngày nay cũng đã sử dụng máy móc trong sản xuất rất nhiều để tăng
năng xuất và tiết kiệm được thời gian nên vẫn chấp nhận kết quả đúng cho tổ ba
và khẳng định người công nhân chủ yếu trong các công trường nhà máy thì sử
các loại máy móc để sản xuất.
* Hiệu quả: Với cách tổ chức trò chơi: Ghép nhanh tên cho sự vật, tôi thấy
tất cả học sinh trong lớp đều tích cực học tập tìm đúng các từ phù hợp với hình
ảnh đã cho. Tôi cho một học sinh đọc to lại cả 8 từ các em vừa viết ở bài tập 1
và chốt: các từ bạn vừa đọc đó là từ chỉ sự vật. Tôi hỏi:
Hỏi:Từ chỉ sự vật thường là những từ chỉ gì ?
Hầu hết học sinh đều trả lời: Từ chỉ sự vật là những từ chỉ người, đồ vật,
cây cối, con vật... và các em đã tìm thêm được nhiều từ chỉ sự vật khác. Như
vậy, các em đã nắm vững về từ chỉ sự vật và các em sẽ vận dụng để làm tốt bài
tập 2.
Trò chơi được vận dụng ở các bài : Bài 1( Tuần 1 – Tr 8) , Bài 1( Tuần 3 –
Tr 26), Bài 1( Tuần 15 – Tr 122)
Trò chơi 2: Tìm nhanh các từ cùng chủ đề:
* Ví dụ:
Khi dạy bài tập 2( Tuần 1 – tr 8) Tìm các từ chỉ đồ dùng học tập (hoặc: hoạt
động của học sinh, tính nết của học sinh (trong thời gian 3 phút)
- Từng nhóm trao đổi, tìm từ ngữ để nhóm trưởng ghi lại thật nhanh vào tờ
giấy to (hoặc bảng phụ).
9
- Cách chơi : Cho ba nhóm, mỗi nhóm 4 em tham gia chơi, lần lượt từng
cá nhân trong nhóm bắt thăm( Là hình ảnh các con vật quen thuộc) và nêu các
câu tục ngữ hoặc thành ngữ nói về con vật trong tranh ảnh đó.
Với cách làm này, tôi thấy hầu hết các em nêu được đúng các câu thành
ngữ, tục ngữ nói về các con vật như:
- Chó treo, mèo đậy; Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng; Chó ngáp phải
ruồi; Chó chê mèo lắm lông; …
- Trâu chậm uống nước đục; Trâu buộc ghét trâu ăn; Ruộng sâu trâu nái
không bằng con gái đầu lòng,
- Nhanh như sóc, …
- Chậm như rùa.
- Ngựa non háu đá; Ngựa quen đường cũ, …
- Đen như quạ; quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; …
- Hót như khướu; Học như cuốc kêu
- Nói như vẹt ; Hôi như cú …
- Không ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau;
- Gà què ăn quẩn cối xay; Chữ như gà bới…
Trò chơi: Thi tìm nhanh tục ngữ, thành ngữ về loài vật.
*Trò chơi này có thể áp dụng dạy cho các tiết học LTVC tuần 22, 24.
Như vậy, cùng một dạng bài: mở rộng vốn từ, chúng ta có thể dụng bằng
nhiều phương pháp và hình thức tổ chức khác dạy học khác nhau. Người giáo
viên cần đọc kĩ nội dung bài dạy để lựa chọn các hình thức và các trò chơi cho
phù hợp với nội dung bài .
11
Dạng bài tập này không chỉ giúp học sinh nắm được nghĩa mà còn
làm rõ khả năng kết hợp từ. Những bài tập được sử dụng ở lớp 2 là bài tập
điền từ, bài tập đặt câu, bài tập tạo từ….
Ví dụ : Bài “ Từ ngữ về tình cảm” (tuần 12)
Thông thường, khi dạy bài tập 1 của tuần 12, giáo viên hướng dẫn các em
làm:
Dùng mũi tên () nối các tiếng sau thành những từ có hai tiếng rồi ghi
các từ tìm được vào dòng dưới
yêu
thương
quý
mến
kính
12
- Giáo viên hướng dẫn học sinh bằng cách : Hướng dẫn các em tạo các
từ theo từng tiếng dưới dạng sơ đồ cây. Như tiếng“ yêu” ta có các từ: yêu
thương, yêu quý, yêu mến..tương tự như vậy học sinh sẽ tạo các từ tiếp
theo. Nhưng nhiều em không biết nối, nên khi đọc kết quả các em chỉ nêu
được khoảng 5, 6 từ.
Tôi đã nghiên cứu nội dung của bài và đã lựa chọn trò chơi:
Trò chơi 5 : Thi ghép tiếng thành từ.
* Chuẩn bị :
- Dựa theo bài tập 1, tiết luyện từ và câu tuần 12 (sách giáo khoa TV 2 tập
1- Tr.99) Giáo viên làm các bộ quân bài ghi tiếng (đủ cho số nhóm học sinh
tham gia thi); mỗi bộ quân bài có kích thước khoảng 5cm x 12cm . Mỗi bộ gồm
24 quân ghi các tiếng sau: yêu (8 quân); thương (4 quân); quý (3 quân); mến (6
+ Hiệu quả: Đại diện hai nhóm ghép từ, nhóm một xếp được 12 từ là: (Yêu
thương, thương yêu, yêu mến, mến yêu, kính yêu, yêu kính, yêu quý, quý yêu,
thương mến, mến thương, quý mến, kính mến), nhóm hai xếp được 11 từ. ( So
với kết quả để các em tự ghép từ với các tiếng đã cho thì các em ghép được
nhiều hơn khoảng 4, 5 từ).
Tôi chốt kiến thức, tất cả các từ các em vừa ghép được ở bài tập 1 là những
từ chỉ tình cảm gia đình và lưu ý học sinh các từ: yêu mến, mến yêu, thương
mến, mên thương là những từ chỉ tình cảm của người nhiều tuổi đối với người ít
tuổi, khi các em nắm vững nghĩa của từ ở bài tập 1 thì hầu hết các em đều chọn
đúng từ để điền vào bài tập 2 thành câu hoàn chỉnh. Ví dụ : Cháu kính yêu
ông bà.
+ Tác dụng của trò chơi: Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng; Rèn khả
năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn.
Trò chơi này có thể áp dụng cho:
+ Bài tập 1 ( Tuần 2- tr 17) và bài 1 ( Tuần 25- tr 64)
Trò chơi 6: “ Xếp từ theo nhóm ”
* Mục đích:
- Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra những điểm giống nhau của sự vật mà
từ gọi tên.
- Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh của đối tượng.
*Chuẩn bị :
- Làm các thẻ quân bài trên mỗi thẻ ghi một từ cần phân nhóm.
- Hoặc hình ảnh các sự vật mà từ gọi tên.
14
- Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để hoặc băng
dán.
*Cách tiến hành :
nhúm hc tp) thỡ cú hai nhúm cỏc em xp cỏ chim vo cỏ nc ngt. Tụi ó
giỳp cỏc em hiu cú mt s loi cỏ cú th sng c c nc mn v nc
ngt nh cỏ chim, cỏ nanh...T ú giỳp cỏc em t tin hn trong hc tp, cui
cựng tụi cho cỏc em tỡm thờm cỏc loi cỏ khỏc sng nc mn v sng nc
ngt.
d. Dng bi khỏi nim cõu:
Dy bi dng khỏi nim cõu, giỏo viờn thng a ra mu cõu nh: Ai
l gỡ? Hoc Ai lm gỡ? Ri hng dn hc sinh tỡm b phn cõu tr li cõu
hi Ai? hoc cõu hi l gỡ? Lm gỡ? Cho hc sinh lm mu, cui cựng l
hc sinh lm bi vo v, ri c bi lm, lp cha bi, hu ht cỏc em u
t c cõu nhng cỏc cõu gn ging nhau nh: M em ang git qun
ỏo. Hoc: Em ang quột nh.Cõu no cng ch núi v ngi, cõu no cỏc
em cng cú t ( ang) i vi mu cõu Ai lm gỡ?...............
Trũ chi 7: Thi t cõu theo mu
Tụi ó t chc cho hc sinh chi trũ chi hc tp: Thi t câu theo
mẫu dy mu cõu: Ai ? ( cỏi gỡ, con gỡ? )l gỡ?
- Mục đích: Luyện tập kỹ năng đặt câu theo mẫu: Ai? (Cái gì, con gì ?) là
gì ?
Củng cố kỹ năng nhận biết nhanh các từ chỉ ng ời, vật (danh từ);
biết tìm nhanh những từ ngữ giới thiệu ngắn gọn về ng ời,vật đó để
tạo thành câu (kể).
- Kết hợp luyện tập kỹ năng giải nghĩa từ ở mức độ sơ giảm dựa theo sự suy nghĩ
và cảm nhận bớc đầu của học sinh lớp 2.
- Chuẩn bị:
Yêu cầu hc sinh quan sát ngời, vật xung quanh và nhớ lại các đối tợng sẽ
nói đến để tìm các danh từ (ai, cái gì, con gì? Vế A); suy nghĩ tìm ra những từ
ngữ giới thiệu về danh từ đó (là gì - vế B) sao cho ngắn gọn và thích hợp tạo
thành câu (kể)
tại chỗ (bị điện giật) và ngời khác xung phong nêu hộ; ngời xung phong nói
đúng sẽ đợc quyền chỉ định tiếp (nếu sai thì không phải đứng nhng không đợc
quyền chỉ định)
Ví dụ:
HS1: Cái ô( Chỉ định nhanh HS2)
HS2: là vật che mát ( chỉ định nhanh HS3)
HS3: Cây bàng/ ( Chỉ định nhanh HS4)
HS4: Không nói đợc ( Hoặc : Xoè tán rộng - sai mẫu)
HS5 : Xung phong: là cây bóng mát ( chỉ định HS6)
Tuỳ điều kiện thời gian để chơi nhiều lợt hay ít.
Lu ý: Học sinh không nên chỉ định một ngời lên nhiều lợt.
- Kết thúc trò chơi, tuyên dơng những ngời thực hiện đúng yêu cầu và bình chọn
ngời nói đúng nhiều lần ( hoặc ngời nên đợc vế B hay nhất ) để khen thởng.
* Hiu qu:
Vi cỏch t chc trũ chi ny, tụi thy hu nh tt c hc sinh c ch nh
cỏc em tỡm c nhiu t c cõu khỏc nhau núi v ngi, vt, cõy ci
v cng qua trũ chi ny tụi thy cỏc em ó hiu c cõu chia theo mc ớch
núi, xỏc nh c hai b phn chớnh ca cõu: Ai? ( Con gỡ, Cỏi gỡ) l gỡ?
Hoc lm gỡ? Nh th no?
* Trò chơi này áp dụng dạy phân môn LTVC ở tuần 3, 5. Hình thức trò chơi
còn áp dụng cho những tiết dạy mẫu câu: Ai ( con gì, cái gì)? làm gì ? Ai (con
gì , cái gì?)? nh thế nào ? - Tuần 13, 14, 15, 16, 17.
Trũ chi 8: Thi t cõu theo tranh
Vớ d: Dy bi 3( tun 1 - Tr9)
- Mc ớch:
+ Luyn tp k nng tỡm t t cõu (theo mu) theo ni dung bc tranh v
cnh sinh hot gn gi vi la tui hc sinh Tiu hc.
+ Tp cho hc sinh thúi quen quan sỏt, nhn xột v s vt hot ng, c im
ca i tng c din t qua tranh v; Bit t cõu ỳng ng phỏp Ting Vit.
- Chun b: Hai tranh nh SGK phúng to v tụ mu.
Kếtquả
Số bài
33
Thích học
SL
%
25
75,8
Bình thường
SL
%
8
14,2
Không thích
SL
%
0
0
Năm học 2015-2016, tôi đã áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy - học
phân môn luyện từ và câu tôi thấy 100% học sinh hứng thú học, các giờ học mất
đi sự trầm lắng thay vào đó là không khí sôi nổi, hào hứng . Việc áp dụng những
trò chơi vào dạy Luyện từ và câu là một hướng đi đúng góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện học sinh mở ra một triển vọng tốt đẹp trong môn Tiếng
Việt nói chung, phân môn luyện từ và câu nói riêng.
PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I, Kết luận:
- Trò chơi phải góp phần thực hiện được mục tiêu bài học.
- Trò chơi phải được chuẩn bị kỹ, chu đáo phù hợp với đối tượng học sinh
(về thẩm mỹ và nội dung)
- Luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
- Không nên lạm dụng trò chơi. Chỉ nên chọn 1 trò chơi hay áp dụng cho 1
bài. Trong 1 tiết chỉ nên tổ chức từ 1 đến 2 trò chơi. Tuyệt đối tránh hiện tượng
tổ chức 2 trò chơi trong 1 bài tập. Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ.
- Giáo viên cần “khéo” tổ chức trò chơi để trò chơi học tập mang đúng nghĩa
của nó: Học mà chơi, chơi mà học. Giáo viên cần kích thích sự thi đua giành
phần thắng giữa các bên tham gia.
Trò chơi không nên tổ chức kéo dài vì nó sẽ ảnh hưởng tới mạch kiến thức.
II. Kiến nghị, đề xuất:
Nhà trường và ngành giáo dục nên tổ chức triển khai, nhân rộng những
SKKN có tác dụng thực tiễn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Thị Trấn, ngày 20 tháng 04 năm
2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
19
người khác.
Ngô Thị Thảo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên , sách giáo khoa – Lớp 2.