A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Trường Tiểu học Nga Vịnh là một trong 4 trường của huyện Nga Sơn thực
hiện dạy học theo mô hình “Trường học mới Việt Nam” (VNEN), một trong các
mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu đổi mới của giáo dục
tiểu học. Với mô hình này, nhà trường, giáo viên cùng cộng đồng hướng tới việc
tạo điều kiện giúp người học phát huy tính tích cực, độc lập, phát triển năng lực
tự học, năng lực tìm tòi, phát hiện, giải quyết vấn đề. Tức là học sinh chủ động
và tự học là chủ yếu, dưới sự trợ giúp của thầy cô (khi cần thiết). Học sinh được
học theo nhóm phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân. Nội dung học thiết
thực, gắn kết với thực tiễn hàng ngày của học sinh. Kế hoạch dạy học được bố
trí linh hoạt, môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, ý thức
tập thể. Tài liệu có tính tương tác cao và là tài liệu hướng dẫn tự học, chú trọng
kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác, phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh, cộng
đồng và nhà trường; Tăng quyền chủ động cho giáo viên và nhà trường, phát
huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấp quản lí giáo dục và địa phương, cùng
cộng đồng tham gia vào quá trình dạy học theo mô hình trường học mới Việt
Nam (VNEN).
Trong dạy và học môn toán ở lớp 4 nói riêng, ở Tiểu học nói chung còn gặp
không ít khó khăn, nhất là chưa tạo được hứng thú, tạo được niềm đam mê học
tập thực sự cho các em. Điều đó dẫn đến các em còn thụ động trong học tập,
chưa tích cực và chưa tự giác, hiệu quả, chất lượng của môn toán chưa cao.
Những điều đó đã gây khó khăn, cản trở không nhỏ đến hoạt động của nhà
trường, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng giáo dục học sinh.
Bên cạnh đó, Mục tiêu giáo dục phổ thông đã và đang chuyển hướng từ chủ
yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học
sinh. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã và đang được đổi mới theo
hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù
hợp đặc điểm của từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh. Đặc biệt trong những năm gần đây toàn ngành đang thực
phương pháp thống kê, xử lí số liệu. Cụ thể như sau:
a) Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Là phương pháp
nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến hứng thú học toán nói chung, học toán
lớp 4 nói riêng.
b) Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Đây là phương pháp nghiên cứu
thực tế việc dạy và học để tạo hứng thú học toán cho học sinh lớp 4 trường Tiểu
học Nga Vịnh nói riêng (dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam –
VNEN) và một số trường Tiểu học nói chung trên địa bàn huyện Nga Sơn,
Thanh Hóa.
c) Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Sau khi áp dụng các giải pháp của đề
tài vào thực tiễn dạy học tại lớp 4A, trường Tiểu học Nga Vịnh, kết hợp thu thập
các tài liệu, dữ liệu phục vụ cho đề tài, tôi đã tiến hành phân tích, tổng hợp các
số liệu minh chứng cụ thể qua các thời điểm kiểm tra của giáo viên, Tổ chuyên
môn và Nhà trường. Từ đó rút ra kết luận và hiệu quả về việc áp dụng: Một số
biện pháp nâng cao hứng thú học toán cho học sinh lớp 4.
2
B. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong các môn học của chương trình giáo dục Tiểu học, môn Toán có vai
trò hết sức quan trọng. Đặc biệt, nó giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn
luyện thói quen suy nghĩ và suy luận lôgic nhằm giải quyết những vấn đề cần
thiết, tạo đà phát triển năng lực học tập của học sinh, tạo tiền đề vững chắc về
toán học để các em tiếp tục học lên các lớp trên. Hơn thế nữa, môn Toán còn
góp phần phát triển ở các em trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, tính cẩn
thận, thận trọng, ý tưởng sáng tạo, tự tin, ham học hỏi và ham hiểu biết…đáp
ứng yêu cầu phát triển con người toàn diện trong thời đại mới: thời đại công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bảng 1: Số liệu thông kê về hứng thú môn toán trước khi thực hiện sáng
kiến:
Sĩ số
Hứng thú
SL
%
4
17,4
23 em
Ít hứng thú
SL
%
17
73,9
Không hứng thú
SL
%
2
8,7
Bảng 2: Số liệu thông kê về kết quả học tập môn toán trước khi thực hiện
sáng kiến:
Sĩ số
23 em
Từ kết quả thực trạng trên cho thấy: Số em hứng thú học toán chiếm tỉ lệ
chưa cao (17,4%), tỉ lệ các em ít hứng thú (73,9%), không hứng thú học toán
(8,7%) chiếm tỉ lệ còn cao. Hơn thế nữa, về kết quả học tập môn toán cũng cho
thấy số em ở mức Hoàn thành xuất sắc chiếm tỉ lệ còn khiêm tốn (13,1%).
Nguyên nhân của thực trạng trên là do:
Một số giáo viên chưa đổi mới kịp với phương pháp dạy học theo mô hình
trường học mới Việt Nam (VNEN), chưa tích cực học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu..
nâng cao chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu cấp bách mà giáo dục đặt
ra hiện nay. Kinh nghiệm về dạy học theo mô hình trường học mới ở nước ta
chưa nhiều.
Phần lớn các em học sinh của trường là con em các gia đình nông thôn, đời
sống kinh tế gia đình các em còn nhiều khó khăn, sự chăm sóc, giáo dục tới các
em chưa được gia đình quan tâm đúng mức. Hơn nữa, các em rất nhút nhát, e dè,
tiếp thu kiến thức còn thụ động, thiếu nhiệt tình, thiếu tích cực trong hoạt động
nhóm. Một vài em hổng 1 số kiến thức căn bản của môn toán từ lớp trước dẫn
đến tình trạng chán học và không muốn làm bài tập, rồi còn có thể không thích
điều gì đó trên lớp (như bạn bè xa lánh, không chơi chung…) khiến cho việc học
toán của các em là “cực hình”. Có những tiết học có đại biểu và các thầy cô đến
dự giờ, rất ít em phát biểu, không khí học trầm lắng, chưa cá thể hóa được hoạt
động dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao. Điều đó thể hiện qua chất lượng bộ
môn, bài kiểm tra, bài thi vẫn còn 1 số bài chưa đạt yêu cầu.
Nếu tình trạng trên tiếp diễn kéo dài, học sinh không có hứng thú học tập
môn toán thì giờ học sẽ không có hiệu quả, các em đi học chỉ là đối phó và cách
học đó sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai của các em, của đất nước, thế hệ trẻ
của chúng ta sẽ mất đi khả năng sáng tạo, năng động mà thời đại công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đang rất cần. Như thế là chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới
của nền giáo dục Tiểu học ở Việt Nam hiện nay. Khắc phục thực trạng trên là
điều vô cùng cần thiết và cấp bách.
III. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
4
giúp giáo viên và học sinh khai thác, sử dụng công cụ học tập vào mục đích
giảng dạy và học tập một cách có hiệu quả. Chính vì thế, ngay từ đầu năm học,
Ban giám hiệu nhà trường đã quan tâm, chăm lo đến cơ sở vật chất, phối kết hợp
với UBND xã, hội cha mẹ học sinh tu sửa cơ sở vật chất, trồng và chăm sóc cây
xanh khu khuôn viên của trường. Không những thế, Ban giám hiệu nhà trường
còn mua sắm nhiều vật dụng cần thiết để trang trí lớp học khang trang, khoa học
theo mô hình trường học mới. Cùng với nhà trường, tôi đã phối hợp với Ban
chấp hành phụ huynh của lớp làm thêm một số công cụ hỗ trợ học tập như:
“Hòm thư vui”, “góc cộng đồng”, “nội quy lớp học”,… Các em cùng tôi tham
gia trang trí lớp học, trồng thêm cây xanh,… một cách khoa học, sạch sẽ, gọn
gàng, ngăn nắp, sáng sủa, tạo điều kiện tốt cho việc dạy và học.
Hơn nữa, tôi còn xây dựng lớp học thân thiện, học sinh hòa đồng, đoàn kết,
yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, một lớp học nề nếp, đảm
bảo tình thương và trách nhiệm. Ở những ngày đầu gặp lớp, tôi đã ổn định nề
5
nếp lớp bằng cách phát huy tính dân chủ trong lớp học, cho các em bình bầu
Chủ tịch Hội đồng tự quản, phó Chủ tịch Hội đồng tự quản, các trưởng ban, phó
ban, các trưởng nhóm. Các em còn được thảo luận về nhiệm vụ của các ban, nội
quy lớp theo Nên – không nên, thi đua giữa các mặt: học tập, nề nếp, kỉ luật, vệ
sinh. Hàng tuần, cứ vào tiết cuối (tiết sinh hoạt tập thể) của chiều thứ 6 các em
lại được bình bầu những bạn xuất sắc về học tập và nề nếp để tuyên dương trước
lớp, trước toàn trường vào những buổi chào cờ đầu tuần. Những em đó được cô
giáo thưởng 1 bông hoa vào bảng “ theo dõi thi đua của tổ”. Cứ 2 bông hoa của
tổ thì được thưởng 1 bông hoa của lớp. Các em rất hăng hái tham gia các hoạt
động học tập, cũng như thực hiện các nội quy, nề nếp của lớp, của trường. Vì
thế, lớp tôi luôn đứng tốp đầu về mặt thi đua nề nếp của trường.
(Hình ảnh lớp 4A, trường TH Nga Vịnh trong môi trường học tập xanh, sạch, đẹp).
cao chất lượng giáo dục thì yếu tố quyết định phụ thuộc vào bản lĩnh sư phạm,
năng lực thực sự và cái “Tâm” của người thầy. Thật vậy, người Thầy có tâm
huyết với nghề nghiệp thì mới không dạy đối phó, mới chịu khó tìm tòi và học
hỏi để tìm ra phương pháp truyền đạt cho học sinh một cách tối ưu nhất, mới có
thể tạo và nâng cao hứng thú cho học sinh học tập. Và cũng chính vì cái “Tâm”
của người thầy mà người thầy không ngừng học hỏi, trau dồi để nâng cao bản
lĩnh sư phạm, có phương pháp sư phạm tốt, hết lòng vì học sinh thân yêu. Hiểu
được những lẽ đó, bản thân tôi luôn tự học, tự bồi dưỡng không ngừng: Thường
xuyên đọc các tài liệu tham khảo liên quan đến chuyên môn như: Báo giáo dục
và thời đại, các tài liệu tập huấn chương trình VNEN, báo tuổi thơ, các tài liệu
của chương trình Bồi dưỡng thường xuyên hàng năm, các tài liệu liên quan đến
việc đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học hiện nay…. Tích cực thao
giảng, dự giờ, học hỏi từ đồng nghiệp, bạn bè những kinh nghiệm trong thực tế
giảng dạy. Ngoài ra, tôi còn tham gia đầy đủ, có hiệu quả các giờ sinh hoạt
chuyên môn của trường, tổ, của cụm…. Trong các giờ sinh hoạt đó, tôi luôn lắng
nghe, tiếp thu, phân tích để thấu hiểu, từ đó nắm vững những nội dung chuyên
môn từ Ban giám hiệu nhà trường, cũng như các cấp lãnh đạo truyền tải để tích
lũy, rút kinh nghiệm cho chính bản thân, nâng cao năng lực sư phạm. Có như thế
tôi mới cảm thấy tự tin, giảng dạy hết mình, tạo và nâng cao hứng thú học toán
cho học sinh. Từ đó, học sinh thấy được khi tham gia học toán sẽ mang lại cho
các em nhiều điều có ích cho cuộc sống, các em hứng thú, say mê, yêu thích
môn toán, tự giác học tập, tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh
kiến thức, qua đó các em hiểu bài sâu hơn, nhớ lâu hơn, biết vận dụng và ứng
dụng linh hoạt những kiến thức đã học.
3) Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, áp dụng phù hợp với
từng nhóm đối tượng học sinh, nâng cao chất lượng dạy học.
Hiện nay có rất nhiều phương pháp dạy học để giáo viên có thể lựa chọn,
việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp có ý nghĩa to lớn đối với việc tạo
hứng thú học Toán, phát huy tính tích cực của học sinh. Cụ thể:
7
.
8
Bài 2: Tổng số cam trong cả hai rổ là 49 quả. Số cam trong rổ thứ nhất bảng
3
4
số cam trong rổ thứ hai. Hỏi trong mỗi rổ có bao nhiêu quả cam?
Bài 3: Cho một số có hai chữ số, chữ số hàng đơn vị là 0. Nếu xóa chữ số 0
đó ta được số mới, biết số đã cho lớn hơn số mới 549 đơn vị. Tìm số đã cho.”
Bài tập 1, 2: Dành cho nhóm đối tượng HS trung bình và yếu. Khuyến khích
các em làm thêm bài tập 3(nếu có thể).
Bài tập 1, 2, 3: Dành cho nhóm đối tượng HS khá, giỏi.
Sau khi giao nhiệm vụ, tôi đã quan tâm, giúp đỡ các em hoàn thành nhiệm
vụ, đặc biệt là các em học sinh yếu. Khi đánh giá, cần căn cứ vào mức khởi
điểm, không áp dụng đồng loạt. Vì nếu áp dụng theo một thang bậc đánh giá
chung cả lớp sẽ không thấy được nỗ lực của những em yếu kém và không tạo
được động lực cho những em khá, giỏi. Với cách làm này đã đem lại hiệu quả
rất cao trong giờ học toán: Các em hăng hái, say mê, phấn khởi khi nhận nhiệm
vụ và tích cực, chủ động làm bài, tùy theo khả năng của mình nhưng khuyến
khích các em hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao (tức làm thêm được
8
những bài toán khó của đối tượng học sinh khá, giỏi). Trong mỗi em, ai cũng
được gặt hái thành công (dù nhỏ). Chính điều đó là động lực thúc đẩy các em
vượt lên chính mình. Đặc biệt, các em tự tin, nhiệt tình tham gia vào câu lạc bộ
Toán của lớp rất hiệu quả. Vào 15 phút đầu giờ thứ 2, thứ 4 hàng tuần, dưới sự
điều hành của Ban chủ nhiệm câu lạc bộ Toán, các em mạnh dạn đưa ra những
cho hoạt động 1: Mỗi nhóm 6 thẻ phân số theo yêu cầu hoạt động 1 để các em
chơi trò chơi: “ghép các cặp phân số bằng nhau”, và tôi còn làm sẵn 26 băng
giấy như nhau cho 13 cặp đôi (mỗi cặp đôi 2 băng giấy như nhau để tô màu theo
yêu cầu trong sách hướng dẫn – hoạt động 2).
- Các đồ dùng trực quan được huy động từ chính bàn tay của học sinh. Giáo
viên hướng dẫn cho các em nghiên cứu, giao cho các em tự làm (nếu có thể), khi
làm sẽ nảy sinh những vấn đề cần thiết, những nhân tố sáng tạo, khi tìm vật liệu,
9
khi thực hiện làm. Qua đó kiểm tra mức tiếp thu, sức sáng tạo, sự sáng tạo, sự
hứng thú trong lao động và kích thích tính thi đua giữa các học sinh trong lớp.
Ví dụ: Khi dạy bài 60: “Hình bình hành” (trang 8,9), bài 61: “Diện tích hình
hành” (trang 12,13- Tập 2A – Sách HD học toán lớp 4), tôi đã cho học sinh về
cắt các hình vuông, hình tam giác để ghép thành hình bình hành (theo yêu cầu
HĐ 1), chuẩn bị hình bình hành, kéo, thước kẻ để thực hiện hoạt động 1 (trang
12).
Dựa trên đồ dùng trực quan học sinh tự thực hành, trải nghiệm và tự rút ra
kết luận dưới sự trợ giúp của giáo viên (khi cần thiết). Đó chính là kiến thức của
bài cần cung cấp. Việc sử dụng đồ dùng trực quan vào dạy học đem lại hiệu quả
tích cực, học sinh thích thú, hiểu bài và nhớ lâu các kiến thức, kĩ năng môn toán.
Tuy nhiên, từ trực quan sinh động, giáo viên cần giúp các em hiểu rõ bản chất
của vấn đề, từ đó phát triển tư duy trìu tượng ở các em.
c) Chú trọng dạy học phát huy tính tích cực của học sinh:
Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy
học là một trong những trọng tâm của đổi mới phương pháp dạy học Toán nói
chung và phương pháp dạy học môn Toán 4 nói riêng. Hoạt động này chỉ có
hiệu qủa khi học sinh học tập một cách hứng thú, tích cực, tự giác với một động
cơ đúng đắn. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân học sinh chứ
không phải là giáo viên nên cần tạo hứng thú học Toán cho các em, tạo điều
Bài toán: Có một băng giấy màu, bạn Hà lấy
1
1
băng giấy, bạn An lấy
2
3
băng giấy. Hỏi cả hai bạn lấy bao nhiêu phần băng giấy màu.
Sau khi học sinh đọc bài toán tìm hiểu, phân tích bài toán tôi gợi mở: Muốn
tìm số phần băng giấy của bạn Hà và An đã lấy, ta cần thực hiện phép tính gì?
( phép cộng
1 1
+ ). Để cộng hai phân số này (khác mẫu số) ta làm thế nào?
2 3
Trong khi ta mới biết cách cộng hai phân số có cùng mẫu số. Đây là một tình
huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà học sinh chưa thể giải quyết
được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình. Tuy nhiên, từ tình
huống này, nếu học sinh chịu khó suy nghĩ cùng sự trợ giúp của giáo viên các
em có thể tìm cách biến đổi hai phân số khác mẫu này đưa về cộng hai phân số
cùng mẫu (bằng cách quy đồng mẫu số hai phân sô). Từ đó, học sinh có thể giải
quyết vấn đề kết hợp với PPDH vấn đáp để hình thành cách cộng hai phân số
khác mẫu số.
Như vậy, với cách dạy như trên giáo viên đã phát huy tính tích cực nhận
thức của học sinh, gây hứng thú cho các em. Trong cách dạy này, người giáo
viên không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức điều khiển quá
trình học tập của học sinh, học sinh không còn là người tiếp nhận kiến thức một
cách thụ động như trước kia mà chuyển sang chủ động lĩnh hội kiến thức, tự tổ
thức dạy học theo nhóm đề cao vai trò tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập
thể, tránh tình trạng hợp tác nhóm chỉ là hình thức, không có sự chia sẻ, sự hợp
tác thực sự.
(Ảnh minh họa học sinh lớp 4A, trường Tiểu học Nga Vịnh đang
thảo luận nhóm tích cực trong tiết học Toán).
c) Dạy học theo lớp: Tôi thường sử dụng hình thức này khi muốn khắc chốt
kiến thức một bài nào đó hoặc khi phần lớn học sinh của lớp cùng khó khăn,
vướng mắc một bài tập, nội dung nào đó. Lưu ý khi dạy trước lớp, giáo viên cần
gợi mở, dẫn dắt các em hiểu ra bản chất của vấn đề. Để cuốn hút, hướng các em
tập trung suy nghĩ vào bài giảng giáo viên cũng cần nói rõ ràng, rành mạch, dễ
hiểu, nhấn giọng những trọng tâm của bài.
d)Trò chơi học tập: Sách hướng dẫn học toán lớp 4 thiết kế các trò chơi học
tập có hầu như ở các tiết học. Trò chơi trong toán học là những trò chơi có tính
12
thi đua và tính thách thức đối với người tham gia. Kiến thức đến với học sinh
một cách tự nhiên thông qua trò chơi, đồng thời giúp học sinh rèn luyện các kĩ
năng, khai thác khai thác được vốn kinh nghiệm của bản thân và quan trọng hơn
cả, người chơi – người học được trải nghiệm- thực hành kiến thức đã học và
được củng cố, mở rộng kiến thức. Các trò chơi này sẽ gây hứng thú và khắc sâu
kiến thức hay nói cách khác những kiến thức tưởng chừng như khô khan sẽ đến
và được lưu giữ trong trí nhớ học sinh một cách nhẹ nhàng và mang lại những
hiệu quả lâu dài. Phần thưởng có thể là những trang vỗ tay, có thể là những lời
khen ngợi, những bông hoa, những lá cờ thi đua của tổ, nhóm…
(Ảnh minh họa học sinh lớp 4A, trường Tiểu học Nga Vịnh chơi trò chơi
trong tiết học Toán).
5. Động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời, đúng lúc, tạo không
lại. Chuyện là vậy, tôi thường khen ngợi em Bình (Chủ tịch Hội đồng tự quản
của lớp) và đưa em lên làm tấm gương cho các bạn noi theo. Thỉnh thoảng tôi có
bỏ qua một số lỗi lầm nhỏ của em. Nhưng đến khoảng một tháng sau lại có
chuyện xảy ra. Tôi lắng nghe ý kiến phản ánh của các em học sinh trong lớp về
tính tự kiêu, thiếu tôn trọng bạn, có ý muốn làm đàn anh, đàn chị của Bình. Tôi
còn chứng kiến được cảnh Bình bắt nạn bạn trong giờ học hay giờ ra chơi, Bình
còn dõng dạc tuyên bố: “Cô không bao giờ phạt mình đâu, vì mình là Chủ tịch
Hội đồng tự quản mà”. Tôi băn khoăn: Sẽ làm gì để khắc phục chuyện này? Mặc
dù, em quản lí lớp rất tốt nhưng cách nói năng và đối xử với các bạn cần xem
lại. Làm sao để vừa giữ được nề nếp của lớp, vừa tiếp tục phát huy năng lực của
em và giúp em sửa được tính xấu. Cuối cùng, tôi quyết định nói chuyện trực tiếp
với em vào lúc giờ ra chơi. Là một học sinh thông minh, nhạy bén và hiểu vấn
đề rất nhanh nên buổi nói chuyện giữa tôi và học sinh đã khiến em hiểu ra nhiều
điều bổ ích quanh em. Từ đó, những gì em làm tốt, tôi động viên, khích lệ và
khen ngợi. Nhưng với những lỗi em mắc phải, tôi không thờ ơ bỏ qua mà
nghiêm túc nhắc nhở, phân tích và chỉ tận tình cái sai, cái chưa được trong cách
làm để em hiểu. Thế là tôi được một tập thể đoàn kết yêu thương và biết giúp đỡ
nhau. Từ đó, em Bình lấy lại tình cảm của các bạn trong lớp, trở thành một con
người chững chạc, biết yêu cái đẹp, ghét cái xấu, yêu cái đúng, ghét cái sai, sống
đầy trách nhiệm với công việc được giao và giàu lòng tình yêu thương với bạn
bè. Lớp tôi, trở thành một lớp học thực sự đoàn kết, yêu thương nhau, sẵn sàng
chia sẻ mọi buồn vui, khó khăn trong học tập, nhất là trong giờ học toán.
14
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Trong quá trình giảng dạy gần một năm học vừa qua, tôi đã áp dụng kinh
nghiệm trên để soạn giảng và vận dụng vào thực tế dạy và học tôi nhận thấy có
21,5
0
0
Bảng 2: Số liệu thông kê về kết quả học tập môn toán:
Sĩ số
(23 em)
Đầu năm
Giữa học kì II
Hoàn thành
xuất sắc
SL
%
3
13,1
17
74,2
Hoàn thành
tốt
SL
%
11
47,8
5
21,5
Hoàn thành
động tích cực lớn đến sự tiến bộ của học sinh. Các em hăng hái, tích cực, tự tin,
say mê học toán, tạo nên những giờ học toán sôi nổi, hào hứng, thoải mái, nhẹ
nhàng, lí thú, chất lượng môn toán của lớp tôi thực sự tăng lên đáng kể. Kết quả
đó góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường,
của địa phương, của ngành giáo dục.
Bên cạnh đó, việc áp dụng các giải pháp như đã thực hiện cũng giúp bản
thân tôi không ngừng tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu các tài liệu, đổi mới phương
15
pháp và hình thức tổ chức dạy học, nâng cao năng lực sư phạm để đem đến
những giờ học toán (nói riêng), các giờ học khác (nói chung) thật sự đạt hiệu
quả cao.
Qua việc thực hiện các giải pháp trong dạy học toán lớp 4 mà bản thân tôi
đã áp dụng, qua việc chia sẻ với đồng nghiệp trong sinh hoạt chuyên môn, nhất
là trong nội dung viết sáng kiến kinh nghiệm, chú trọng đổi mới phương pháp
dạy học, tôi đã nhận được nhiều sự ủng hộ từ các đồng nghiệp cũng như Ban
giám hiệu nhà trường, các bậc phụ huynh và lãnh đạo địa phương. Các giải pháp
mà tôi đã thực hiện còn có thể áp dụng linh hoạt đối với các môn học khác trong
các nhà trường Tiểu học như: môn Tiếng Việt, HĐGD Đạo Đức,… Từ đó, nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
đã đề ra, đáp ứng yêu cầu đổi mới nền giáo dục của nước ta hiện nay.
16
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Thực tiễn dạy học trong thời gian qua và áp dụng các biện pháp dạy học trên
vào quá trình giảng dạy, tôi đã rút ra một số bài học sau:
người của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa: năng động, bản lĩnh, sáng tạo,
tự tin, dám nghĩ, dám làm.
II. Kiến nghị và đề xuất:
17
Để dạy học tốt và đạt hiệu quả cao hơn trong công tác giáo dục, giảng dạy
toán nói chung, dạy học toán lớp 4 nói riêng, tôi xin mạnh dạn đề xuất ý kiến
nhỏ:
Các cấp lành đạo tổ chức những buổi giao lưu cụm, giao lưu huyện chia sẻ
những sáng kiến kinh nghiệm hay để các đồng nghiệp có thể học hỏi, nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ, áp dụng các sáng kiến kinh nghiệm hay vào thực tiễn
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
của nước nhà.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, năng lực
và trình độ còn hạn chế, chắc chắn đề tài không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được những đóng góp, bổ sung của các nhà chuyên môn và các bạn
đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 29 tháng 3 năm 2016
CAM KẾT KHÔNG COPPY!
Người viết
Phạm Thị Hòa
18
2A, 2B.
(Sách dự án VNEN)
Vở Bài tập toán 4 (tập 1,2)
Nhà xuất bản
GDVN
Vở Bài tập Bổ trợ và nâng cao Toán 4(tập 1,2)
NXB Đại học Sư
phạm
HD thực hiện Chuẩn kiến thức và kĩ năng các môn NXB giáo dục
học ở Tiểu học (lớp 4)
19
PHỤ LỤC
MỤC
NỘI DUNG
TRANG
A
I
II
III
IV
MỞ ĐẦU
1
I
II
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị.
I
II
III
1
2
3
4
5
1
2
2
2
3
3
3
4
5
7
8
12