SKKN mầm non: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẶT HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐÀM THOẠI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI THƠ CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON NGA HẢI - Pdf 41

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẶT HỆ THỐNG CÂU HỎI
ĐÀM THOẠI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI THƠ CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON NGA HẢI

Người thực hiện: Mai Thị Hà
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường Mầm non Nga Hải
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA NĂM 2016

1


A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học là một loại hình nghệ thuật mà trẻ được tiếp xúc từ rất sớm. Ngay
từ tuổi ấu thơ, các em đã được làm quen với các giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết
của lời hát ru. Lớn hơn một chút các câu chuyện dân gian, các tác phẩm thơ
truyện hiện đại đã gieo vào lòng các em sự mến yêu với thế giới xung quanh,
giúp cho các em hiểu về truyền thống lao động, chiến đấu bền bỉ nhưng vô cùng
anh dũng của dân tộc. Thơ, truyện cũng dẫn dắt các em đi khắp mọi miền đất
nước, giới thiệu cho các em những danh lam thắng cảnh như Đồng Đăng:
“ Đồng Đăng có phố Kì Lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh”.

Thực trạng trong hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm thơ trong trường
mầm non Nga Hải hiện nay chưa đạt hiệu quả cao do khả năng và kiến thức về
văn học của giáo viên còn hạn chế, giáo viên chưa biết cách xây dựng câu hỏi
hợp lý để khai thác đúng và đủ nội dung hoạt động làm quen với thơ của trẻ. Vì
vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp đặt hệ thống câu hỏi đàm
thoại trong hoạt động làm quen với thơ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trường mầm
non Nga Hải” để nghiên cứu.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng sử dụng các câu hỏi đàm thoại khi cho trẻ mẫu giáo
nhỡ làm quen với Thơ ở trường mầm non Nga Hải; đưa ra “Một số hệ thống câu
hỏi đàm thoại khi cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi làm quen với Thơ”. Từ đó tổng kết
kết quả của hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nói chung, cũng
như một số các hoạt động khác nhằm góp phần nâng cao công tác chăm – sóc
giáo dục trẻ trong trường mầm non.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Việc sử dụng câu hỏi đàm thoại trong hoạt động làm quen với thơ của trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi trường mầm non Nga Hải.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành nhiệm vụ và đề tài đặt ra. Tôi sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu một số đề tài để giải
quyết những vấn đề lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài.

3


- Phương pháp quan sát: Trong quá trình nghiên cứu, tôi tiến hành quan sát
một số giờ dạy thơ cho trẻ mẫu giáo nhỡ ở trường mầm non Nga Hải, huyện
Nga Sơn
- Phương pháp thực nghiệm (là phương pháp chính của đề tài): Việc sử

phẩm, nhạc điệu của những vần thơ, tính chuẩn xác, biểu cảm của ngôn ngữ
được các cháu yêu thích. Cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ từ đó trẻ ghi nhớ
và hứng thú đọc và kể lại câu chuyện, bài thơ. Vốn từ ngữ tăng lên, ngôn ngữ
của trẻ trở nên phong phú, tích cực. Tình yêu ngôn ngữ nghệ thuật của trẻ cần
được giáo dục ngay từ thời thơ ấu trẻ sẽ mang tình yêu đó đến trường phổ thông
và mai sau các cháu sẽ thêm yêu văn học nước nhà.
Trẻ tuổi mẫu giáo đặc biệt là ở tuổi mẫu giáo nhỡ, đây chính là giai đoạn
phát triển mạnh của tư duy trực quan hình tượng. Do đó ở tuổi này tư duy trực
quan hình tượng phát triển mạnh và chiếm ưu thế. Phần lớn trẻ mẫu giáo nhỡ đã
có khả năng suy luận tuy nhiên những kết luận mà trẻ đưa ra còn rất ngây ngô và
ngộ nghĩnh. Ở giai đoạn này, bước đầu bộc lộ tính nhạy cảm đối với các hiện
tượng ngôn ngữ, vì thế tốc độ phát triển ngôn ngữ của trẻ phát triển khá mạnh.
Hầu hết trẻ mẫu giáo sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp và sinh hoạt
hàng ngày.
Trẻ nắm vững ngữ âm, ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ. Trẻ mẫu giáo
nhỡ đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp. Trẻ biết
dùng ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến. Ngược lại khi
giận dữ trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh. Khả năng này khi nghe trẻ đọc thơ
cho người khác nghe.
Ngoài việc phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp, ngôn ngữ mạch lạc cũng
dần phát triển ở giai đoạn này. Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện ở trình độ phát triển
tương đối cao, không những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư
duy.
Để từ đó trí nhớ của trẻ cũng được hình thành. Trí nhớ không chủ định của
trẻ tiếp tục phát triển và chiếm ưu thế. Trẻ ghi nhớ những gì có ý nghĩa và để lại
ấn tượng mạnh và rõ rệt với nó.
Quá trình tưởng tượng của trẻ phong phú, phát triển mạnh và trải qua
những giai đoạn khác nhau, ở lứa tuổi này tưởng tượng tái tạo là chủ yếu và
thường phụ thuộc rất nhiều vầo đối tượng đang tri giác.


chơi, học liệu trong các góc chơi.
2. Khó khăn:
- Có một số cháu năm nay mới bắt đầu đi học nên vẫn còn nhút nhát như
cháu: Mai, cháu Lan, cháu Thư….
6


- Bên cạnh các trẻ nhút nhát còn có một số trẻ quá hiếu động nên ảnh
hưởng đến quá trình giảng dạy như cháu: Hoàng Anh, cháu Phương, cháu
Việt….
-Trẻ hứng thú trong hoạt động chưa cao.
- Vẫn còn một số cháu nói ngọng như cháu Quỳnh, cháu Hương…..
3. Kết quả thực trạng trên
Vào đầu năm học tôi đã khảo sát chất lượng trẻ với kết quả như sau:
Kết quả
Đạt
Tổng số
trẻ

Tốt

Nội dung khảo sát

Số

Tỉ

khá
Số


35

9

26

5

15

7

21

10

29

10

29

7

21

7

21


Tạo cảm hứng ban đầu cho trẻ là một hình thức lên lớp mà ngay từ giây
phút đầu tiên cô gây hứng thú và tạo sự chú ý, gây ấn tượng sâu sắc cho trẻ. Đặt
câu hỏi là hình thức đối thoại giữa cô và trẻ trước khi vào bài học. Hình thức này
chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sống của trẻ mà dẫn dắt, tạo cho trẻ hứng thú
trước khi vào bài mới.
Đàm thoại với trẻ thật ngắn gon một vài phút trước khi làm quen với tác
phẩm. Câu hỏi phải tích hợp nội dung và có thể gắn với chủ đề.
- Ví dụ1: Với bài thơ “Trăng sáng” của nhà thơ Trần Đăng Khoa, tôi cho trẻ
hát bài “ Rước đèn dưới ánh trăng” và hỏi trẻ:
+ Các bạn trong bài hát làm gì ?
+ Rước đèn vào ngày nào ?
+ Cô có tập tranh các con xem trong tranh vẽ gì nhé !
+ Cho trẻ xem lần lượt từng tranh cô chuẩn bị, trò chuyện nội dung tranh
+ Trong tranh vẽ gì ?
+ Trong tranh có trăng sao rất là đẹp. Nên chú Trần Đăng Khoa đã sáng tác
bài thơ “Trăng sáng” rất là hay để tặng cho chúng ta. Các con hãy lắng nghe cô
đọc nhé.
- Ví dụ 2: Khi dạy bài thơ “ Bạn mới ” của tác giả Nguyệt Mai thì tôi lại trò
chuyện với trẻ:
+ Khi các con đến lớp các con được gặp ai?
+ Các bạn trong lớp chơi với nhau như thế nào?
+ Có một bạn lần đầu tiên đi học nhưng bạn đang còn rụt dè, nhút nhát lắm
chúng mình sẽ làm gì để giúp bạn nhỉ?
Nhà thơ Nguyệt Mai đã sáng tác bài thơ “ Bạn mới ” để tặng chúng mình
đấy.
- Ví dụ 3: Với bài thơ “Cây đào” của tác giả Hồng Thu sưu tầm, trước khi
cho trẻ nghe cô đọc hai câu thơ cuối:
“Hễ thấy hoa cười
Đúng là tết đến.”.
Và hỏi: “hai câu thơ nói về hoa gì? Trong bài thơ nào? Các con cùng lắng

Mục đích câu hỏi nhằm giúp trẻ hiểu nội dung tác phẩm. Sau khi giáo viên
đọc tác phẩm thơ cho trẻ nghe. Câu hỏi giúp trẻ nắm được tên bài thơ, tên tác
giả, nắm được hình ảnh cảm xúc chính của bài thơ. Khi đặt câu hỏi ta nên đặt ít
câu hỏi hơn, nhưng câu hỏi phải khiến trẻ suy nghĩ, không hỏi tràn lan. Với
lượng câu hỏi ít, sẻ có thời gian để trẻ trẻ suy nghĩ trả lời. Giáo viên không nên
chỉ nêu câu hỏi nhưng không để cho trẻ thời gian suy nghĩ hoặc không nên vội
đánh giá, hãy động viên, khuyến khích để nhận được câu trả lời tốt hơn từ trẻ.
- Ví dụ 1: Với bài: “ Gà mẹ đếm con” tôi đặt hệ thống câu hỏi sau:
+ Các con vừa nghe bài thơ gì? Sáng tác của ai?
+ Gà mẹ đã làm gì khi đàn gà con mới nở ra?
+ Khi thấy hạt nắng các chú gà đã làm gì? Tại sao?
+ Vì sao gà mẹ phải đếm lại lần nữa?
- Ví dụ 2: Với bài thơ “Tết đang vào nhà” tôi đã sử dụng hệ thống câu hỏi
sau:
+ Bài thơ có tên là gì? Của tác giả nào?
+ Trong bài thơ có nhắc đến loại hoa gì và mầu sắc như thế nào?
+ Mọi người đang làm gì để chuẩn bị đón tết?
+ Khi tết đến thì mọi người và cảnh vật như thế nào?
- Ví dụ 3: Với bài thơ: “Cây dừa” tôi sử dụng câu hỏi sau:
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? Do ai sáng tác?
+ Bài thơ nói về hình ảnh cây gì?
+ Cây dừa dang tay làm gì? Và gật đầu gọi ai?
+ Theo năm tháng thân dừa như thế nào?
+ Vẻ đẹp của cây dừa đã được tác giả miêu tả như thế nào?
+ Các con cần phải làm gì để có cây dừa?
- Ví dụ 4: Với bài thơ “ Nàng tiên ốc” tôi sử dụng câu hỏi sau:
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? Do ai sáng tác?
+ Tác giả đã kể về cuộc đời của ai?
+ Bà già sống bằng nghề gì?
+ Bà già bắt được con gì?



Câu hỏi được sử dụng tuân theo trình tự diễn biến tác phẩm. Câu hỏi giúp
trẻ nhớ lời và thể hiện được ngữ điệu, giọng điệu.
- Ví dụ 1: Với bài thơ: “Chiếc cầu mới” tôi sử dụng các câu hỏi sau:
+ Chiếc cầu được xây dựng ở đâu?
“ Trên dòng song trắng
Cầu mới dựng lên”
+ Chiếc cầu được xây để làm gì?
“ Nhân dân đi bên
Tàu xe chạy giữa”
+ Các phương tiện giao thông và mọi người đi trên cầu cảm thấy như thế
nào?
“ Khách ngồi trên tàu
Đoàn người đi bộ
Cùng cười hớn hở”
+ Nhờ có chiếc cầu mà các phương tiện qua lại như thế nào?
+ Khi đi qua cầu, mọi người đã nói gì về các cô, chú công nhân xây dựng?
“ Tấm tắc khen tài
Công nhân xây dựng”
- Ví dụ 2: Bài thơ “ Hạt gạo làng ta ” tôi sử dụng các câu hỏi sau:
+ Mở đầu bài thơ tác giả đã giới thiệu hình ảnh gì về làng quê Việt Nam?
“ Hạt gạo làng ta
………………..
Có lời mẹ hát ngọt bùi hôm nay “
+ Để làm ra hạt gạo, những người nông dân phải làm việc vất vả như thế
nào?
“ Hạt gạo làng ta
………………..
Mẹ em xuống cấy”

+ Theo các con lửa ở đây là gì?
- Ví dụ 4: Với bài thơ “ Hoa kết trái ” tôi sử dụng các câu hỏi sau:
+ Bài thơ nói đến những loại hoa nào?
+ Hoa cà màu gì?
+ Hoa mướp màu gì?
+ Hoa lựu giống như cái gì?
+ Hoa vừng, hoa đỗ thì sao?
+ Vì sao các bạn nhỏ lại không hái hoa? Thể hiện qua câu thơ nào?
“ Này các bạn nhỏ
Đừng hái hoa tươi
Hoa yêu mọi người
Nên hoa kết trái”
+ Các con sẽ làm gì để bảo vệ cây?
- Ví dụ 5: Với bài thơ “Vì con” tôi sử dụng các câu hỏi sau:
+ Mẹ dạy em bé làm những gì?
+ Tại sao mẹ lại dạy em tập đi rồi mới tập nói?
+ Mẹ dạy em bé yêu những ai?
+ Trong bài thơ tác giả so sánh mẹ giống những ai?
+ Câu thơ nào nói lên tình cảm của em bé dành cho mẹ?
“Con không hư không quấy
Vì con lo mẹ buồn”
Khi trẻ đọc thơ tôi cho cả lớp đọc bài thơ khoảng 2 đến 3 lần, tiếp theo tôi
cho các tổ thi đua nhau đọc bài thơ, rồi từng nhóm, cá nhân trẻ lên thể hiện bài
thơ.

13


Hình ảnh trẻ thể hiện bài thơ “Vì con”
Kết quả: Với việc đặt câu hỏi theo trình tự của bài thơ trẻ lớp tôi đa thuộc

Trong câu thơ trên tác giả đã dùng từ “ hả hê ”. Vậy “hả hê” có nghĩa là gì?
+ “ Hả hê ” nói về sự vui mừng của đất khi được đón nhận những giọt mưa
rơi xuống. Cho trẻ đọc từ “ Hả hê”
- Ví dụ 3: Với bài thơ “ Chim chích bông ” tôi đã cung cấp cho trẻ từ:
+ “ Bé tẻo teo ” có nghĩa là rất bé. Cho trẻ đọc từ “ bé tỏe teo”.
+ “ Sà xuống ” có nghĩa là chim đang ở trên cao bay xuống thấp để bắt sâu
cho cây. Cho trẻ đọc từ “ Sà xuống ”.
Kết quả: Như vậy sau mỗi lần đàm thoại tôi luôn để trẻ tự suy nghĩ để trả
lời câu hỏi. Sau đó tôi giảng giải cho trẻ hiểu các từ khó và đọc lại các từ khó.
Vì vậy mà ngôn ngữ của trẻ luôn luôn được phát triển.
5. Đặt câu hỏi đàm thoại liên hệ giáo dục trẻ.
Là những câu hỏi nhằm giúp trẻ liên hệ thực tế với bản thân mình sau khi
được tìm hiểu về bài thơ.
- Ví dụ 1: Với bài thơ “ Ếch con học bài ” tôi sử dụng câu hỏi sau:
+ Câu thơ nào nói Ếch con chăm chỉ học bài?
“ Đêm đêm tiếng ộp kêu giòn
Nghe ra có tiếng ếch con học bài”
Thông qua bài thơ, các con nên học tập ở bạn Ếch tính siêng năng, chăm
chỉ học bài, ngoan ngoãn nghe lời cô dạy.
- Ví dụ 2: Trong bài thơ “Bác Hồ của em ” tôi sử dụng câu hỏi sau:
15


+ Mọi người ai cũng kính yêu Bác Hồ, còn các con thì sao? Kính yêu Bác
Hồ các con phải như thế nào?
Bác Hồ tuy không còn nữa nhưng hình ảnh của Bác luôn in đậm trong trái
tim mỗi người Việt Nam, các bạn nhỏ ai ai cũng muốn nhận danh hiệu Cháu
ngoan Bác Hồ, vì thế các con cùng phấn đấu học giỏi, ngoan ngoãn nhé.
- Ví dụ 3: Với bài thơ “ Mèo đi câu cá ” tôi sử dụng các câu hỏi sau:
+ Khi quay về lều tranh, hai anh em Mèo như thế nào?


Tổng
số
trẻ

Kết quả
Nội dung khảo sát

Đạt
khá

Tốt
Số trẻ

Trung bình

% Số trẻ %

Số trẻ

%

Chưa đạt
Số trẻ %

Khả năng hứng thú
nghe các tác phẩm

34


7

21

0

0

15

44

12

35

7

21

0

0

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay “Giáo dục đào tạo
là quốc sách hàng đầu” nên con người phải năng động sáng tạo trong công
việc. Để góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện. Vấn đề đổi mới phương pháp
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học cũng là một vấn đề được đặc biệt quan

được những ấn tượng đầu tiên của mình về tác phẩm.
Vai trò tích cực của tập thể trẻ sẽ giúp cô giáo giải quyết được nhiệm vụ và
mục đích đặt ra trong quá trình đàm thoại. Cô nên cố gắng động viên để tất cả
các trẻ cùng tham gia vào đàm thoại. Trong quá trình đàm thoại, cô cũng nên kết
hợp với giảng giải khi phát hiện ra những chi tiết mà trẻ chưa hiểu hoặc chưa rõ
để kịp thời điều chỉnh nhận thức của trẻ.
Bên cạnh đó việc quan trọng không kém đó là:
- Giáo viên cần phải thực hiện đúng, đầy đủ theo các nguyên tắc khi cho
trẻ làm quen với các tác phẩm văn học.
- Giáo viên cần phải kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo, linh hoạt, có hiệu quả

với các phương pháp khác như: đọc diễn cảm, sử dụng đồ dùng trực quan, thực
hành cho trẻ đọc thơ diễn cảm ở mọi lúc, mọi nơi…
- Giáo viên cần phối hợp chặt chẽ giữa gia đình-nhà trường và xã hội để

tạo không khí văn chương và chuẩn bị tâm thế để trẻ có thể cảm thụ thơ được
18


tốt, rèn phát triển ngôn ngữ cho trẻ cho trẻ; mở các hội thi: “Đọc-kể diễn cảm”,
“Những ngôi nhà trẻ thơ”…
- Giáo viên cần tích hợp phù hợp, có chất lượng khi cho trẻ làm quen với
tác phẩm văn học vào các hoạt động khác để trẻ được phát triển toàn diện.
- Giáo viên cần thường xuyên đánh giá các hoạt động học tập dựa trên mục

đích yêu cầu của chủ đề ở mạng nội dung, mạng hoạt động khi cho trẻ mẫu giáo
nhỡ làm quen với thơ.
II. KIẾN NGHỊ
- Để biện pháp đặt hệ thống câu hỏi đàm thoại trong hoạt động làm quen
với thơ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nhằm nâng cao chất lượng môn văn học, rất

làm quen với tác phẩm văn học, NXB Giáo dục.
2. Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Phạm Thị Việt (2006) , Phương pháp cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học, NXB Đại Học Quốc gia Hà Nội.
3. Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết, Hướng dẫn tổ
chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non dành cho trẻ mẫu giáo
nhỡ (4-5 tuổi).
4. Phạm Thị Châu, Nguyện Thị Oanh, Trần Thị Sinh, Giáo dục học trẻ em,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa, Tâm lý
học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư Phạm.
6. PGS.TS. Lã Thị Bắc Lý (2009), Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa
tuổi mầm non, NXB Đại học sư phạm Hà Nội.

21


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
I - Lí do chọn đề tài…………..…………………………………………….........1
II – Mục đích nghiên cứu………….…………….………………………………2
III – Đối tượng nghiên cứu……………………..….……………………………2
IV – Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..2
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ................................................3
I. Cơ sở lí luận……………………………..………...…………………………3
II. Thực trạng……………………………..……………………………………5
1. Thuận lợi................................................................................. ..........................5
2. Khó khăn...........................................................................................................5
3. Kết quả thực trạng trên......................................................................................6
III. Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề...............................................6
1. Đặt câu hỏi đàm thoại giúp trẻ hứng thú với bài thơ.........................................7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status