BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
*********
VŨ VĂN SÁNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC
HỌC ĐƯỜNG TRONG TRƯỜNG THPT
HUYỆN TỨ KỲ TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số
: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRƯƠNG XUÂN CỪ
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 10 năm 2016 tôi đã được
học Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục tại khoa Quản lý giáo dục, trường
ĐHSP Hà Nội. Trong thời gian đó bản thân tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa Quản lý giáo dục, các khoa khác và
phòng Đào tạo sau đại học của nhà trường. Trên cơ sở đó tôi đã có điều kiện thuận
lợi để hoàn thành khóa học.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trương Xuân Cừ đã
cho các ý tưởng định hướng và hết lòng giúp đỡ trong suốt quá trình tôi nghiên cứu
và hoàn thành luận văn với đề tài: “QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG
THCS
THPT
Ý NGHĨA
Bạo lực học đường
Giáo viên
Cha mẹ học sinh
Cán bộ quản lý
Cán bộ
Đoàn thanh niên.
Giáo dục kỹ năng sống.
Giáo dục và đào tạo
Giáo viên chủ nhiệm
Kỹ năng sống.
Nhân viên
Trung học cơ sở.
Trung học phổ thông.
MỤC LỤC
HÀ NỘI, NĂM 2016.........................................................................................1
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số liệu cấp trung học phổ thông trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương năm học 2015-2016.............................................................................40
Bảng 2.2: Số lượng học sinh khảo sát tại các trường THPT...........................41
trong và ngoài nhà trường...............................................................................68
Biểu đồ 2.6. Khen thưởng và kỷ luật trong trường học...................................70
Biểu đồ 3.1. Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
.......................................................................................................................100
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, ở Việt Nam vấn nạn bạo lực học đường đang có chiều
hướng gia tăng cả về số lượng và sự phức tạp, gây ra sự bức xúc trong dư luận. Nó
trở thành mối lo ngại của các bậc cha mẹ học sinh, của ngành giáo dục và toàn xã
hội. Hiện nay, cùng với sự phát trIUiển của công nghệ thông tin, điện thoại thông
minh trở nên phổ biến, khi có bạo lực học đường xảy ra các em học sinh thường ghi
lại bằng các video, sau đó phát tán trên mạng Internet để tung hô, cổ vũ tạo ra
những luồng dư luận trái chiều. Bạo lực học đường cũng đã trở thành những chủ đề
nóng trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo viết và báo mạng, đài phát
thanh, đài truyền hình. Chỉ cần vào Google tìm kiếm với cụm từ “Bạo lực học
đường” thì trong khoảng 0,36 giây cho kết quả 2.480.000 kết quả là hình ảnh, video,
bài viết có liên quan đến bạo lực học đường. Hoặc chúng ta chỉ cần vào trang
Youtube tìm kiếm bạo lực học đường sẽ được những hình ảnh, những đoạn phim
của học sinh với những cảnh đấm, đá nhau có khi rất dã man.
Thực tiễn cho thấy bạo lực học đường không những không giảm mà còn có
chiều hướng gia tăng ở tất cả các cấp học, số vụ và tính chất phức tạp. Điều này đã
ảnh hưởng xấu đến công tác giáo dục thế hệ trẻ. Bạo lực học đường đang là một
trong những lực cản lớn đối với thực tiễn giáo dục, làm cho môi trường học đường
bị ô nhiễm, mất an toàn. Khi bạo lực học đường xảy ra cùng với sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin sẽ nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội dẫn đến những hiệu ứng
xấu trong học sinh, gây hoang mang, lo lắng cho các bậc làm cha mẹ và xã hội; lòng
tin của xã hội đối với việc giáo dục đạo đức của các nhà trường giảm đi. Nó gây ra
sự ám ảnh cho người chứng kiến và nỗi đau về sự suy thoái của một bộ phận thế hệ
Trong những năm qua, các trường THPT trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương đã có nhiều biện pháp quản lý phòng chống bạo lực học đường và đạt được
những kết quả nhất định. Song trên thực tế, bạo lực học đường vẫn diễn ra, thậm chí
ở một số trường còn gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp. Nếu Hiệu trưởng
mỗi nhà trường đề xuất được các biện pháp quản lý phòng chống bạo lực học đường
dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao thì sẽ góp phần
quan trọng vào việc ngăn ngừa bạo lực học đường xảy ra.
2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận quản lý hoạt động phòng chống bạo lực học đường các
trường THPT.
5.2. Làm rõ thực trạng quản lý hoạt động phòng chống bạo lực học đường các
trường THPT trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
5.3. Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động phòng chống bạo lực học đường ở
các trường THPT trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống bạo lực
học đường ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Các trường THPT trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương gồm:
- Trường THPT Tứ Kỳ;
- Trường THPT Cầu Xe;
- Trường THPT Hưng Đạo;
- Trường THPT Tứ Kỳ II (trường dân lập).
6.3. Giới hạn về khách thể điều tra
04 Hiệu trưởng và 08 Phó hiệu trưởng.
tụ tập.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Thực hiện phỏng vấn trực tiếp Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, giáo viên chủ
nhiệm lớp, đại diện cha mẹ học sinh để có thêm thông tin, bổ sung cho kết quả
nghiên cứu của hai phương pháp trên.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công thức Spearman để xử lý các số liệu thu thập được qua các
phiếu điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời thực hiện đánh giá mức độ
tin cậy của phương pháp điều tra trên cơ sở đó rút ra kết luận khoa học cho đề tài.
Sử dụng thêm các phần mềm hỗ trợ cho việc nghiên cứu và xử lý số liệu.
4
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
các cụm từ viết tắt, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống bạo lực học
đường trong các trường trung học phổ thông.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống bạo lực học đường
trong các trường THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống bạo lực
học đường các trường THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
9. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả.
9.1. Những luận điểm cơ bản:
Từ việc nghiên cứu tài liệu, luận văn nêu nên các luận điểm cơ bản về quản
lý, quản lý giáo dục, các chức năng của quản lý, nhà trường, trường THPT. Khái
niệm bạo lực, BLHĐ, những yếu tố liên quan đến quản lý hoạt động phòng chống
BLHĐ của Hiệu trưởng; những nội dung quản lý của Hiệu trưởng trong hoạt động
phòng chống BLHĐ.
thuộc[5].
Liang H và các cộng sự nghiên cứu đề tài “Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy
hiểm ở học sinh trung học Nam Phi” tiến hành tại Anh năm 2007. Nghiên cứu nhằm
kiểm tra tỉ lệ của hành vi bắt nạt của 5074 học sinh vị thành niên đang học lớp 8
(tuổi trung bình là 14,2) và lớp 11 (tuổi trung bình 17,4) ở 72 trường học ở Cape và
Durban, Nam Phi đã làm rõ mối liên quan giữa hành vi bạo lực, các hành vi nguy
hiểm ở thanh thiếu niên[10].
Mỹ là quốc gia báo động đỏ về tình trạng bạo lực học đường. Theo kết quả
nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Mỹ được công bố trên tạp chí Journal of
Developmental and Behavioural Pediatrics, có gần 90% học sinh từ lớp 3 đến lớp 6
tại Mỹ từng ít nhất một lần bị bạn học bắt nạt, ức hiếp, ngoài ra 59% thừa nhận đã
từng có hành động bắt nạt những em khác. Trong khi đó, Bộ Giáo dục Mỹ cho biết,
6
cứ 3 học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 tại nước này thì có một em báo cáo đã bị bắt nạt tại
trường. Theo Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Bệnh tật Mỹ (CDC), mỗi ngày tại
nước này có 160.000 học sinh không dám đi học vì sợ bị bắt nạt ở trường. [20].
Hàn Quốc cũng được coi là một trong những quốc gia có nạn bạo lực học
đường nhức nhối trên thế giới. Theo kết quả khảo sát của Quỹ Phòng chống bạo lực
thanh thiếu niên Hàn Quốc, 20% thừa nhận từng bị bắt nạt ở trường, 63% nạn nhân
phải “nếm” đòn bạo lực ngay khi mới học Tiểu học. Con số này càng ngày càng gia
tăng và tệ nạn này xảy ra nghiêm trọng đối với học sinh nữ hơn học sinh nam. Đáng
lưu ý, nhiều học sinh đã không ý thức được hành vi bạo lực của mình. Khoảng 36%
học sinh Hàn Quốc coi việc bắt nạt như một trò đùa, 20% thừa nhận hành vi bắt nạt
bạn là không có lý do đặc biệt. Theo điều tra, số học sinh thường xuyên bắt nạt các
bạn học khác thường hay xem phim bạo lực, hoặc do hoàn cảnh gia đình. 51,5%
người được hỏi thừa nhận, thường xuyên chơi và xem phim, game bạo lực[20].
1.1.2. Một số công trình nghiên cứu về bạo lực học đường ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây, bạo lực học đường ở Việt Nam đang có chiều
- Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp của trẻ
vị thành niên (Mã Ngọc Thể, 2004);
Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng các công trình trên đây chủ yếu đi tìm hiểu
và vạch ra thực trạng của bạo lực học đường, dự đoán chiều hướng gia tăng, có
những công trình nghiên cứu về mặt tâm lý-xã hội của hành vi bạo lực. Tuy nhiên,
chưa có nhiều đề tài đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động phòng
chống bạo lực học đường tại các trường THPT. Do đó, nghiên cứu “Quản lý hoạt
động phòng chống bạo lực học đường ở các trường THPT” là vấn đề mới, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần làm phong phú thêm lý luận về vấn đề bạo lực
học đường và đặc biệt là việc quản lý các hoạt động trong nhà trường THPT để
phòng chống bạo lực học đường diễn ra làm cho môi trường giáo dục của nhà
trường ngày càng tốt hơn.
1.2. Một số khái niệm cơ bản.
1.2.1. Quản lý.
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý.
Trong thực tiễn, quản lý là một hoạt động cần thiết và quan trọng trong tất cả
8
các lĩnh vực hoạt động của con người. Ở bất kỳ nơi nào, lĩnh vực nào con người tạo
lập nên nhóm xã hội thì ở đó cần đến quản lý, bất kể đó là nhóm chính thức hay
không chính thức, quy mô nhóm lớn hay nhỏ. Tổ chức nào có hoạt động quản lý
hiệu quả thì sự thành công lớn và phát triển mạnh.
Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học.
Xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau cũng như từ những vấn đề đặc
trưng khác nhau mà nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra các định nghĩa
khác nhau về quan lý. Sau đây là một số định nghĩa về quản lý của một số tác giả:
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì “Quản lý = Quản + lý”, trong đó “Quản” có
nghĩa là giữ, “lý” có nghĩa là chỉnh sửa, nói cách khác “Quản lý = Ổn định + phát triển”.
Trong cuốn giáo trình Tâm lý học quản lý của Vũ Dũng đã đưa ra định nghĩa
Theo Fayel thì “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh
nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm năm yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo,
điều chỉnh và kiểm soát ấy” .[4]
Từ góc độ kinh doanh, các nhà doanh nghiệp Mĩ thì cho rằng: “ Quản lý là
đưa những nguồn vốn về con người và của cải vào các đơn vị tổ chức và năng động
để đạt được mục tiêu, một mặt bằng cách đảm bảo thảo mãn tối đa người hưởng lợi,
mặt khác, đảm bảo tinh thần và tình cảm về thực hiện cho người cấp vốn”.[4]
Harold Koontz viết “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phổi
hợp những lỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi cá
thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của
cá nhân ít nhất” .[7]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức. [3]
Nói đến quản lý là nói đến hoạt động của con người, diễn ra ở một nhóm.
Trong hoạt động này có người quản lý và người bị quản lý, hai đối tượng này có
những ràng buộc nhất định có thể bằng những quy định, những luật lệ, chủ thể quản
lý có một quyền lực nhất định đối với khách thể quản lý, ví dụ trong một nhà trường
10
thì Hiệu trưởng có những quyền lực nhất định đối với giáo viên, nhân viên trong
nhà trường đó được pháp luật quy định. Quản lý luôn hướng đến một mục đích cụ
thể, để đạt được mục đích đó thì cần có kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của các tác giả, trong khuôn khổ của
luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm quản lý như sau:
“Quản lý là những tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) diễn ra trong một tổ chức thông
biện pháp động viên, khen thưởng kể cả trách phạt.
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của quản lý với chức năng
này, chủ thể quản lý thực hiện các hoạt động theo dõi, giám sát việc làm của các
thành viên, các bộ phận. Để tránh những sai sót, kiểm tra phải được tiến hành từ khi
bắt đầu các công việc có thể thực hiện kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất. Kết quả
kiểm tra cần được phân tích, đánh giá trên cơ sở đó tiến hành các hoạt động điều
chỉnh, sửa chữa, uốn nắn kịp thời.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau về giáo dục nên những khái
niệm quản lý giáo dục có nội dung khác nhau. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục. Sau đây là một số
quan điểm:
Tác giả Trần Kiểm trong cuốn Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý
giáo dục đưa ra quan điểm quản lý vĩ mô (một nền/một hệ thống giáo dục) và quản
lý vi mô (một trường học/ tổ chức giáo dục cơ sở) trong giáo dục. Theo đó thì
“Quản lý cấp vĩ mô được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của
hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có
chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đòa tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
của xã hội”. Hoặc “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/tính trồi
(emergence) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo
sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động”. Còn “Quản lý vi mô,
12
quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường bao gồm hệ thống những tác động có
hướng đích của Hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên,
cán bộ, nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông
giáo dục.
Mỗi một quốc gia có một hệ thống giáo dục quốc dân riêng phù hợp với điều
kiện tự nhiên, văn hóa và mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn của quốc gia đó.
Ở Việt Nam việc quản lý giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục quốc dân vận
hành và thực hiện đường lối giáo dục của Đảng vì giáo dục chịu sự chi phối đường
lối của Đảng. Đây là nét đặc trưng của giáo dục xã hội chủ nghĩa, lấy mục tiêu giáo
dục là sự phát triển của con người. Trong hệ thống giáo dục quốc dân có nhiều phân
cấp quản lý về giáo dục, cấp nhỏ nhất trong hệ thống đó là quản lý giáo dục trong
một nhà trường.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm
quản lý giáo dục ở cấp nhà trường như sau: “Quản lý giáo dục là những tác động
có định hướng, có mục đích của Hiệu trưởng đến các nguồn lực (nhân lực, vật lực,
tài lực, tin lực), đến các hoạt động giáo dục, đến các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài
phù hợp với các quy luật để thực hiện được đường lối giáo dục của Đảng”
1.2.3. Quản lý nhà trường.
1.2.3.1. Nhà trường, trường phổ thông.
Theo điều 48 Luật giáo dục năm 2005 thì:
(1). Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại
hình sau đây:
a) Trường công lập do Nhà nước thầnh lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên.
b) Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư cơ sở vật
chất và đảm bảo kinh phí hoạt động.
c) Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế kinh tế cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo
kinh phí hoạt động bằng vốn ngân sách ngoài nhà nước.
(2). Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều
được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp
14
cấp THPT do Sở giáo dục và đào tạo quản lý;
15
(3). Trường chuyên biệt có quy chế tổ chức và hoạt động riêng thì thực hiện
phân cấp quản lý theo quy chế tổ chức và hoạt động của loại trường chuyên biệt đó.
Theo Trần Kiểm thì “Trường học là tổ chức giáo dục, là một đơn vị cấu trúc
cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Do đó, xét về bản chất, trường học là tổ chức
mang tính nhà nước – xã hội – sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội
và bản chất sư phạm”
Theo Đặng Quốc Bảo “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra
quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy – Trò.
Trường học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục
quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” .[2]
Nhờ có giáo dục mà con người thực hiện việc truyền kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người của các thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau, giúp thế hệ sau kế
thừa, phát triển một cách sáng tạo qua đó làm cho bản thân con người và xã hội liên
tục phát triển. Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội thực hiện chức năng
quan trọng đó của giáo dục thông qua con đường chính là dạy học.
1.2.3.2. Quản lý nhà trường.
Nhà trường là một đơn vị, một phần tử trong hệ thống giáo dục quốc dân
thực hiện việc đào tạo thế hệ trẻ theo đường lối của Đảng. Hoạt động trọng tâm
trong nhà trường là hoạt động giáo dục thông qua con đường cơ bản là dạy học. Xét
cho cùng thì quản lý nhà trường là quản lý con người và các hoạt động sư phạm của
con người, trong nhà trường phải kể đến hai lực lượng chính là giáo viên và học
sinh, họ vừa là đối tượng vừa là chủ thể quản lý. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về
mọi mặt hoạt động của nhà trường, trong công tác quản lý hàng ngày, hiệu trường
sẽ có tác động đến giáo viên và học sinh, tức họ là đối tượng quản lý của hiệu
trưởng. Để các hoạt động của nhà trường có hiệu quả cao thì giáo viên và học sinh
phải chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động dạy và học một cách sáng tạo,
tức họ là chủ thể quản lý. Như vậy trong nhà trường, việc quản lý không chỉ là trách
Theo từ điển xã hội học “bạo lực” có nghĩa là dùng sức mạnh để giải quyết
mọi tranh chấp giữa các bên đối địch nhau. Trong chiến tranh xã hội (giữa các giai
cấp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái ...) bạo lực là dùng mọi hình thức sức mạnh (vũ khí,
trừng phạt bằng luật pháp, quần chúng, thậm chí cả khủng bố) để chiến thắng và tiêu
17
diệt đối thủ. Chiến tranh (bao gồm cả nội chiến) là hình thức bạo lực cao nhất.
Trong tiếng Việt có những từ gần nghĩa hoặc đồng nghĩa với từ “bạo lực”
như: hành vi bạo lực, bắt nạt, gây hấn, lấn át, hiếu chiến, côn đồ, công kích, hung
tính, nhục mạ v.v...
Trên cơ sở tìm hiểu các quan điểm, định nghĩa khác nhau về “bạo lực”, trong
khuôn khổ luận văn này tác giả sử dụng khái niệm về “bạo lực” như sau: “ Bạo lực
là hành vi một người hoặc nhóm người dùng sức mạnh, quyền lực, lời nói hay các
hành động khác để đe dọa, cững bức, xúc phạm...làm tổn hại đến tinh thần, thể
chất, vật chất của người hoặc nhóm người khác”
1.2.5. Bạo lực học đường.
Khái niệm “Bạo lực học đường” là một khái niệm mới xuất hiện trong những
năm gần đây do vậy chưa có sự thống nhất trong cách gọi.
Dan Olweus, trong cuốn sách “Bắt nạt trong trường học, chúng ta biết gì và
chúng ta có thể làm gì” đã đưa ra định nghĩa theo một cách chung nhất, bắt nạt
trong trường học như một “hành vi tiêu cực được lặp đi lặp lại, có ý định xấu của
một hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, người có khó khăn
trong việc tự bảo vệ bản thân” .
Milton Keynes (1989) định nghĩa: “Bắt nạt là một hành động lặp đi lặp lại
một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho người
khác. Bắt nạt là đặc trưng của một cá nhân hành xử theo một cách nào đó để đạt
được quyền lực trên người khác”.
Một khái niệm khác cho rằng: bạo lực học đường là bất kỳ hình thức hoạt
động bạo lực hoặc các hoạt động bên trong các cơ sở trường học. Nó bao gồm các
Bạo lực học đường nhìn một cách chung nhất là các hành vi lệch chuẩn, thực
tế cho thấy những hành vi này thường tập chung ở một số dạng sau:
+ Sử dụng vũ lực với nhau: Là những hành vi sử dụng sức mạnh cơ bắp,
hung khí để hành hung người khác.
+ Sử dụng lời nói, cử chỉ, đe dọa, khủng bố, lăng mạ, bêu rếu người khác.
Bạo lực học đường chủ yếu diễn ra đối với học sinh có trường hợp còn
ngược từ học sinh tới giáo viên, nhân viên.
19