ỨNG DỤNG một số TRÒ CHƠI vận ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN tố CHẤT THỂ lực CHO học SINH KHÔI 4, 5 TRƯỜNG TIỂU học QUYẾT THẮNG - Pdf 41

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe được coi là vốn quý giá của con người. Thiếu sức khỏe là thiếu
hạnh phúc, thiếu tinh thần sáng suốt. Quan tâm và chăm sóc tới sức khỏe con
người chính là quan tâm đến sự phát triển mọi mặt, không chỉ đối với mọi
người, mọi gia đình mà còn là cả dân tộc, quốc gia và toàn nhân loại. Chỉ thị số
36/CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư TW Đảng cộng sản Việt Nam về
công tác TDTT trong giai đoạn mới đã khẳng định phương hướng "Phát triển thể
dục thể thao là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng và Nhà Nước, nhằm phát huy nhân tố con người, công tác thể dục thể
thao phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân dân, đạo
đức lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân và phấn
đấu đạt vị trí xứng đáng trong hoạt động thể thao quốc tế trong sạch về mặt đạo
đức, phong phú về mặt tinh thần, hoàn thiện về mặt thể chất". Đó là mục tiêu
của toàn Đảng, toàn dân ta và là điều bác Hồ mong muốn.
Mỗi môn thể thao đều mang lại cho riêng nó những đặc điểm, những tính
ưu việt khác nhau, tùy thuộc vào khả năng, năng lực, điều kiện hoàn cảnh của
mỗi người sẽ chọn môn phù hợp để tập luyện nhưng cho dù tập bất kỳ môn thể
thao nào thì yếu tố "thể lực" luôn được xem là nền tảng quyết định trực tiếp đến
sự tập luyện thành công của vận động viên.
Trong TDTT thể lực của mỗi vận động viên được thể hiện qua các tố chất
vận động: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sức mềm dẻo, linh hoạt khéo léo. Do
đó phát triển các tố chất vận động trên cũng chính là phát triển và nâng cao thể
lực của vận động viên. chất lượng kết quả huấn luyện được thể hiện qua thành
tích của vận động viên. Thành tích trong môn TDTT phụ thuộc vào trình độ phát
triển toàn diện thể lực của vận động viên. Nội dung chính của nhiệm vụ chuẩn bị
thể lực là phát triển sức bền, sức mạnh, sức nhanh. Những tố chất đó là tiền đề
quan trọng trong thành tích thể thao đỉnh cao. Cơ sở để phát triển các tố chất, đó
1


là khả năng chịu đựng cao đối với các yêu cầu của lượng vận động, khả năng

tượng trực tiếp tôi giảng dạy môn Thể dục.
- Thời gian nghiên cứu: Năm học 2013-2014.
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trường Tiểu học Quyết Thắng - Mạo Khê Đông Triều - Quảng Ninh.
1. Cơ sở lí luận.
Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Thì yếu tố con người luôn
chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí minh đã chỉ rõ “Muốn có chủ
nghĩa xã hội phải có con người chủ nghĩa xã hội”. Trong hình mẫu và phẩm chất
con người, sức khoẻ và thể chất chiếm vị trí hết sức quan trọng để đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó thể dục thể thao là một bộ phận của nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa, nó tổng hợp các phương tiện, phương pháp nhằm tạo
nên những con người phát triển toàn diện, hài hoà, đặc biệt hoạt động thể dục
thể thao là một trong những hình thức cơ bản, chuẩn bị thể lực phục vụ cho lao
động và các hoạt động khác.
Vì thế mỗi quốc gia đều chú trọng đến công tác thể dục thể thao và đưa
nền TDTT nước mình lên đỉnh cao nhất cũng như giữ vững và phát triển những
môn TDTT mang tính bản sắc dân tộc. Kinh nghiệm của các nước phát triển cho
thấy rằng “Truyền thống dân tộc là một trong những động lực thúc đẩy sự phát
triển của đất nước”. TDTT là một lĩnh vực của nền văn hoá vì vậy nó cũng mang
tính dân tộc đậm nét, ở Việt Nam cũng đã trải qua hàng nghìn năm các môn thể
thao dân tộc như: Vật, đua thuyền, đánh đu…. vẫn tồn tại và trở thành một nội
dung hấp dẫn trong các dịp lễ hội của dân tộc.
Trong công tác ngoại giao TDTT có chức năng là nhịp cầu nối giao lưu,
nối tình hữu nghị và thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc, các quốc gia trên
3


thế giới. Thông qua việc thi đấu thể thao giữa các quốc gia trên thế giới có sự
trao đổi tiếp thu tinh hoa của nhau, qua đó tìm hiểu học tập, giúp đỡ lẫn nhau
đưa thế giới vào cuộc sống hoà bình đầy tình hữu nghị.

người phát triển toàn diện do vậy trò chơi vận động cũng là một nội dung học
tập, đồng thời là phương pháp, phương tiện rèn luyện sức khoẻ. Giáo dục đạo
đức cho học sinh đạt kết quả cao, được trẻ yêu thích, hầu hết các trò chơi vận
động được sử dụng trong giáo dục thể chất đều mang tính mục đích rõ ràng.
Trong quá trình chơi trò chơi học sinh tiếp súc với nhau, cá nhân phải hoàn
thành nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có nhiệm vụ của
mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có nhiệm vụ động viên giúp đỡ cá nhân
hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể…được
hình thành cũng trong quá trình chơi, xây dựng cho các em học sinh tác phong
khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỉ luật, sự sáng tạo để hoàn thành với chất lượng
cao.
Trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất thể lực cho học sinh là vô cùng
cần thiết và chiếm một vị trí quan trọng vì ở lứa tuổi này quá trình thần kinh
hưng phấn chiếm ưu thế hơn nên các em rất hiếu động, do vậy quá trình phát
triển thể lực của các em cần sử dụng các bài tập đa dạng với các hình thức tập
luyện phong phú, các nhà khoa học cho rằng: “Khi phát triển thành tích đỉnh cao
phải có trình độ học tập tốt, muốn có thể lực tốt chỉ có một con đường duy nhất
là thông qua quá trình tập luyện lâu dài, liên tục, có hệ thống, có khoa học mới
đảm bảo các tố chất thể lực phát triển tốt ”, song mỗi tố chất thể lực mang đặc
trưng “Nhanh, mạnh, bền, khéo léo”, đóng một vai trò quan trọng trong việc
nâng cao thành tích của các môn TDTT. Việc phát triển thể thao đối với trẻ em
được đặc biệt quan trọng vì nó là nền tảng cho việc tăng cường sức khoẻ và giáo
dục đối với thế hệ trẻ.
5


II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của đề tài này là tìm ra được hệ thống những bài tập trò chơi
vận động nhằm phát triển tố chất thể lực cho học sinh và ảnh hưởng của trò chơi

tâm chăm lo sức khỏe của toàn dân, Người thường nói: “... mỗi một người dân
mạnh khỏe... góp phần cho cả nước mạnh khỏe”, “... Dân cường thì nước thịnh.
Tôi mong đồng bào bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi ngày nào cũng tập.”
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ
trẻ. Trong văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VII nêu rõ “Giáo dục đào tạo cùng với
khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt
hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỉ 21” và khẳng định: “Sự cường tráng về thể
chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quí để tạo ra tài sản trí tuệ
và vật chất cho xã hội”.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí Thư TW Đảng: “Thực hiện GDTC trong tất
cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày
cho hầu hết học sinh sinh viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước”.
Điều 41 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992
cũng nêu rõ: “Việc dạy và học thể dục là bắt buộc trong nhà trường”.
* Tóm lại: Qua những chỉ thị, nghị quyết, thông tư của Đảng, nhà nước
chứng tỏ các cấp chính quyền rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất của
học sinh nói riêng, và nhân dân nói chung, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để
các em phát triển toàn diện về Đức – Trí - Thể – Mĩ, góp phần cải tạo nòi giống,
đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
b. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan.
7


Ở nhiều nước, giờ học thể dục là một bộ phận không thể thiếu được trong
nhà trường và nó được tiến hành không dưới 3 tiết/ tuần.
Chương trình học thể dục ở Việt Nam từ những năm 1991 đã áp dụng cho
tất cả các học sinh là 2 tiết/tuần (chỉ riêng khối lớp 1 các em học 1 tiết/tuần) và
những hoạt động thể dục thể thao khác đã phần nào nâng cao được chất lượng
giáo dục thể chất. Rất nhiều đề tài nghiên cứu trong những năm qua ở nước ta
cũng đã đề cập đến sự phát triển thể lực ở học sinh như:

nội dung của nó phải thể hiện hoàn chỉnh các vốn tri thức sau:
- Hệ thống tri thức về hiểu biết tác dụng phong phú của thiên nhiên tới
việc nâng cao, bảo vệ sức khoẻ (Không khí, Ánh sáng, Môi trường,…).
- Hệ thống tri thức cơ bản về vệ sinh (Cơ thể, Lao động, Học tập, Vui
chơi,…).
- Hệ thống tri thức cơ bản về phòng bệnh (Bệnh học đường, Cận thị, Cong
vẹo cột sống,…).
- Hệ thống tri thức cơ bản về phương pháp tập luyện TDTT hiện đại và
dân tộc (Trò chơi, kĩ thuật TDTT,…).
Trong đó hệ thống tri thức cơ bản về phương pháp tập luyện TDTT và trò
chơi có ý nghĩa to lớn.
Đối với trẻ em trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu, là thế giới thu nhỏ
của các em. Thông qua trò chơi, trẻ em được chuẩn bị từng bước để đi vào cuộc
sống xã hội. Trò chơi là một nội dung quan trọng để thực hiện chức năng chuẩn
bị thế hệ trẻ làm quen với đời sống cho mỗi xã hội. Do vậy, không thể đối lập
hoặc tách rời giữa việc học và chơi của trẻ.
Xuất phát từ thực trạng trên nghiên cứu ứng dụng các bài tập trò chơi vận
động cho trẻ em học sinh Tiểu học là một cộng việc hết sức cần thiết. Mục đích
9


của đề tài này là khai thác hiệu quả nội dung tổ chức các trò chơi vận động, phát
triển thể chất cho các em, đa dạng hoá các loại hình TDTT trong nhà trường.
4. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học (10 đến 12 tuổi) và đặt
điểm các phương pháp giảng dạy thể dục, trò chơi vận động.
a. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 10 đến 12 tuổi.
Các em học sinh TH ở độ tuổi từ 10 đến 12, việc lựa chọn bài tập thể dục
và trò chơi có vận động hợp lý với lứa tuổi này là rất quan trọng. Do vậy đòi hỏi
người giáo viên cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lý và tâm lý lứa tuổi này.
Hệ thần kinh: Quá trình thần kinh đã có sức mạnh và sự ổn định, các

thực hiện động tác hoặc sử dụng theo kiểu soi gương thì phải giải thích cho các
em biết như :(Thầy bước chân phải thì các em nhìn theo và bước chân trái ). Tri
giác về nhịp độ có đặc điểm riêng khi làm sai không tự nhận thấy mà chỉ nhờ
nhịp điệu mới hoàn thành.
Khả năng tập trung chú ý: Ở lứa tuổi này chú ý không chủ định chiếm
ưu thế sức tập trung, chú ý thấp. Tuy nhiên cũng có nhiều em biết tập
trung chú ý. Sự di chuyển chú ý chưa linh hoạt, khối lượng chú ý chưa lớn.
Sự phân phối chú ý chưa đúng mức.
Trí nhớ: Đặc điểm trí nhớ ở lứa tuổi này là trí nhớ trực quan hình tượng,
các em dễ dàng nhớ sự việc với những hình ảnh cụ thể. Một đặc điểm nữa của trí
nhớ trong lứa tuổi này là: tính không chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ vận động
chưa hoàn thiện, chưa chính xác, tiếp thu động tác máy móc không có phê
phán… nên các em hay lẫn lộn với những động tác có cử động giống nhau, do
ức chế phân biệt của các em chưa phát triển, cần giải thích kỹ sự khác nhau giữa
các động tác.

11


Tư duy: Do có sự chuyển biến, từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng,
có thể dạy các em phân tích quá trình thực hiện động tác của bản thân và người
khác.
Tưởng tượng: Có những tiến bộ rõ rệt, quán trình tưởng tượng thường
phản ánh chủ quan được phát triển chủ yếu trong quá trình tập luyện và vui chơi.
Cảm xúc: Cảm xúc phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của hệ thần kinh. Quá
trình hưng phấn chiếm ưu thế nên dễ mệt mỏi. Do vậy, ảnh hưởng đến quá trình
cảm xúc của các em. Cảm xúc luôn xuất hiện trong vui chơi và tập luyện, thoải
mái khi làm được bài, nghi ngờ khi gặp khó khăn. Cảm xúc được biểu lộ ra bên
ngoài, chưa biết che dấu, vui buồn nhất thời. Tâm trang đó thường gặp và
chuyển hoá qua lại rất nhanh. Vì vậy giáo viên cần thận trọng nhận xét và phê

cân đối các tố chất thể lực, cần chú ý phát triển tố chất nhanh, linh hoạt mềm
dẻo. Vì vậy trong 10 – 12 tuổi cần cho các em nắm thật chắc những kĩ xảo vận
động cơ bản. Những kĩ năng, kĩ xảo vận động đã không chỉ có ý nghĩa thực
dụng, mà còn có ý nghĩa chung. Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát
dụng, mà còn có ý nghĩa chung. Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát
triển một cách tuyệt đối các tố chất cần đặc biệt chú ý phát triển tố chất tốc độ,
tính linh hoạt và mềm dẻo.
Đối với các em 10 – 12 tuổi cần giải thích cụ thể và dễ hiểu, nhưng chủ
yếu vẫn là làm mẫu để các em tập theo, ví dụ: bật xa tại chỗ thì cần lưu ý cho
các em về tư thế chân trước khi giậm nhảy, tư thế tay khi dậm nhảy và rơi xuống
đệm hoặc cát tiếp xúc bằng 2 chân và phối hợp khuỵ gối và tay để giữ thăng
bằng.
Điều cơ bản trong giảng dạy đối với các em ở lứa tuổi 10 – 12 là phải
nghiêm chỉnh thực hiện các bài tập theo thứ tự (Từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp, dần dần nâng cao độ khó). Khi giảng dạy bài tập khó phải dạy theo
từng phần sau đó mới tiến hành giảng dạy hoàn chỉnh. Có như vậy, các em mới
13


tiếp thu một cách hiệu quả những kĩ năng, kĩ xảo vận động trong chương trình
học tập. Bên cạnh đó khi giảng dạy thể dục và trò chơi vận động cần tính tới các
đặc điểm của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn và hô hấp.
5. Cơ sở lựa chọn trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực cho học sinh
trường TH Quyết Thắng.
Với mục đích của đề tài là lựa chọn và sử dụng một số trò chơi nhằm phát
triển thể lực cho học sinh TH. Tôi đã tham khảo các trò chơi trong cuốn “Trò
chơi vận động và vui chơi giải trí” của Phạm Vĩnh Thông (chủ biên), Hoàng
Mạnh Cường và Phạm Hoàng Dương với một số trò chơi tôi đã thu thập từ
những giáo viên giảng dạy, huấn luyện có kinh nghiệm và được lựa chọn phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em.


10

76%

4

Bỏ khăn

8

61%

5

Bóng chuyền sáu

7

53%

6

Đi qua cầu

6

46%

7

10

76%

11

Qua cầu tiếp sức

7

53%

12

Chuyền, bắt bóng tiếp sức

8

61%

13

Lò cò tiếp sức

12

92%

14


18

Chuyển

13

100%

nhanh,

nhảy

nhanh
Căn cứ vào kết quả trên tôi đã lựa chọn ra 11 trò chơi có số phiếu đạt từ
60% trở lên để đưa vào thực nghiệm nhằm giáo dục tăng cường thể lực cho học
sinh TH. Những trò chơi được lựa chọn được đưa vào thực nghiệm với lượng
vận động phù hợp với tâm sinh lý của các em học sinh TH.
Bảng 3: Một số trò chơi được lựa chọn nhằm phát triển thể lực cho
học sinh TH.

TT

Tên trò
chơi

Lượng
vận

Mục đích của trò chơi



Chạy
3

nhanh theo

hoạt, tính nhanh nhẹn.
Rèn phản xạ, kĩ năng Sân bãi rộng rãi bằng
15’

nhanh.

số

bắt bóng

di chuyển chuyền và bắt chơi, đoàn kết nhiệt tình
15’

tiếp sức

5

6

7

8
9



và kiên trì, lăng bóng

qua vòng qua vật chuẩn.
Phát triển sức mạnh Thực hiện động tác liên
15’

chân, khả năng phối hợp tục trên một chân. Vòng
nhanh nhẹn khéo léo.

qua vạt chuẩn đúng quy

định, tích cực.
Rèn luyện kĩ năng chạy, Tự giác tích cự trong
10’

phát triển sức nhanh, sự khi chơi không được
thông minh sáng tạo.
vượt quá vòng tròn.
Rèn luyện kĩ năng chạy, Học sinh có tinh thần

15’

phát triển sức mạnh, sự tập thể, tính tổ chức kĩ

10’

khéo léo nhanh nhẹn.
luật và tự giác.
Rèn luyện kĩ năng chạy Học sinh tự giác tích

nhanh

nhanh nhẹn, phát triển sự điều khiển của giáo
sức mạnh của chân, giáo viên.
dục tinh thần tập thể.

6. Đánh giá thực trạng và những mâu thuẫn thể lực của học sinh trường
TH Quyết Thắng.
a. Thực trạng.
Công tác giáo dục thể chất ở trường TH Quyết Thắng đã có những bước
tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên qua thực tế tìm hiểu kế hoạch giảng dạy và học tập
của trường, tôi thấy rằng việc giảng dạy thể dục còn nhiều điểm hạn chế, số giáo
viên dạy thể dục chuyên môn chưa cao, có một số bài tập luyện nhưng chưa đảm
bảo yêu cầu, do sân trường không có bóng mát cho các em tập luyện, nội dung
còn nghèo nàn, giáo viên chủ yếu dạy xoay quanh các nội dung đội hình đội ngũ
và các bài thể dục tay không hay các bài tập đơn giản như: Các bài tập rèn luyện
tư thế và kĩ năng vận động cơ bản, đá cầu...để dạy cho các em.
b. Mâu thuẫn.
Theo như chúng ta đã biết giờ học thể dục của các em rất quý giá và cần
thiết sau một thời gian phải ngồi trên lớp và động não với nhiều môn thì các em
lại muốn ra sân tập để chạy nhảy và thay đổi bầu không khí giảm đi sự căng
thẳng. Nhưng với thực tế giảng dạy thể dục trong nhà trường thì chưa giúp ích
được nhiều cho các em, chưa lôi cuốn các em, các em vận động còn ít vì vậy thể
lực các em vẫn còn yếu.
17


Qua đó chúng tôi đã tiến hành kiểm tra trong 2 khối 4 và khối 5 với tổng
số học sinh là 212 em (Nam và Nữ).
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra với các test sau:


Bật xa tại

loại

chỗ (cm)
Nam N÷

Nam



›110

›100

›750

›700

›9

›6

6

Tốt
Đạt

≥ 100

Đạt

≥ 116

≥ 108

≥ 670

≥5

≥4

≤ 14,20

›142

›132

›800

›770

›11

›8

‹13,10 ‹13,30

8



9

Tốt
Đạt

≥ 137

≥ 127

≥ 750

≥ 690

≥7

≥6

≥ 640

18

(lần/30giây)
Nam N÷

Nam



‹13,30 ‹13,50


≥ 136

≥ 790

≥ 700

≥8

≥7

≤ 13,90

›170

›155

›940

›820

›14

›11

‹12,70 ‹13,00

11

Tốt

‹12,50 ‹12,80

Đạt

≥ 163

≥ 144

≥ 850

≥ 730

≥ 10

≥9

≤ 13,10

12

≤ 14,10

≤ 14,00

≤ 13,80

7. Phát triển các hoạt động ngoại khoá thể dục thể thao trong nhà trường.
Biện pháp cụ thể : Phát động phong trào thể dục thể thao trong toàn
trường kết hợp với Công đoàn, Đoàn đội, Đoàn thanh niên thành lập đội cầu
lông, bóng bàn, cờ vua, cờ tướng, điền kinh của cán bộ giáo viên và học sinh.

hoặc quay vòng, có sự quản lí của giáo viên.
Tăng cường sự giúp đỡ của giáo viên đối với học sinh yếu.
Kết hợp giữa ý thức học tập của học sinh với năng lực thực sự của học
sinh để đánh giá cho điểm theo tiêu chuẩn rèn luyện thể thao.
* Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất
trong nhà trường.
Việc kiểm tra đánh giá cần đảm bảo tính khoa học hệ thống và khách
quan:
Kiểm tra thể lực sơ bộ ban đầu khi học sinh mới bước vào lớp 1. kiểm tra
chiều cao, cân nặng để khi học sinh học hết lớp 5 có thể đánh giá được sự phát
triển của từng học sinh trong bốn năm học.
Kiểm tra thường xuyên đối với học sinh bằng cách bắt mạch, kiểm tra vệ
sinh răng miệng, mắt.
20


Kiểm tra định kỳ về thể lực, sức khoẻ nhằm đạt cơ sở khoa học và thực
tiễn công tác giáo dục thể chất.
Kiểm tra đánh giá hàng năm theo đúng quy định của Bộ giáo dục và đào
tạo về tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Khi kiểm tra đánh giá phải đánh giá nghiêm
túc, khách quan có tiêu chuẩn đánh giá rõ ràng, công bằng.
* Tăng cường kinh phí cho hoạt động thể dục thể thao.
Bộ môn thể dục trình lãnh đạo nhà trường cấp kinh phí để xây dựng, tu
sửa, mua sắm trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho giảng dạy và học tập của học
sinh.
Tranh thủ được sự giúp đỡ của hội phụ huynh học sinh, của các cơ quan
có liên quan với trường.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm.

(%)
28.57
32.7

Đạt

Tỉ lệ

Chưa

Tỉ lệ

47
41

(%)
44.76
38.3

đạt
28
31

(%)
29.67
29

2. Hiệu quả thực hiện.
- Sau một thời gian nghiên cứu tôi nhận thấy một số trò chơi được lựa
chọn và áp dụng trong các giờ học của trường học. Đa số là các em thích thú

Tỉ lệ

50
52

(%)
47.6
48.6

đạt
21
18

(%)
21.9
16.6s

(%)
30.5
35.2

IV. KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tôi thấy cần rút ra những kết luận sau:
Chất lượng giờ học thể dục trong trường TH Quyết Thắng - Mạo Khê –
Đông Triều - Quảng Ninh còn nhiều hạn chế với số lượng 2 tiết/ tuần/lớp, cơ sở
vật chất và đội ngũ giáo viên dạy Thể dục còn thiếu. Nội dung và phương pháp
giảng dạy còn chưa hợp lý, nên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục thể
chất của trường TH Quyết Thắng nói riêng và các trường TH, THCS nói chung.
22



Đông Triều, ngày 14 tháng 11 năm
2013
Người viết

Nguyễn Thị Thanh Nga

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Văn kiện của Đảng – Nhà nước.
1. Văn kiện nghị quyết đại hội IX trong luật giáo dục (1998).
2. Pháp lệnh TDTT
3. Phân phối chương trình môn TD trong trường TH do Bộ GD – ĐT
-2004.
* Sách giáo khoa.

24


1. Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục sức khoẻ, thể chất trong nhà
trường các cấp (Nhà xuất bản TDTT Hà Nội 1993).
2. Phạm Vĩnh Thông (chủ biên), Hoàng Mạnh Cường, Phạm Hoàng
Dương. Trò cghơi vận động và trò chơi giải trí (NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
- 1999).
3. Trần Đồng Lâm - Thể dục 1 – Sách giáo viên – (NXB Giáo dục 1996).
4. Trần Đồng Lâm - Trần Đình Thuận - Thể dục 2 – Sách giáo viên –
(NXB Giáo dục 1996).
5. Vũ Ngọc Hải - Phạm Hoàng Dương - Thể dục 3 – Sách giáo viên –
(NXB Giáo dục 1996).
6. Lương Kim Cương -Thể dục 4 – Sách giáo viên – (NXB Giáo dục
1996).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status