BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN MẠNH HÙNG
PHÁP LUẬT
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại Học viện Hành chính Quốc gia
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2016
phía Tây Bắc với Hà Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, do vậy có
vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế khu vực và quốc
gia. Là địa phương đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, Vĩnh Phúc
cũng có nhu cầu lớn về sử dụng đất (SDĐ) làm cho giá trị quyền sử dụng
đất (QSDĐ) trên địa bàn cũng tăng lên nhanh chóng. Điều này đã dẫn đến
một thực tế là khiếu nại về đất đai tại Vĩnh Phúc cũng đang diễn ra hết
sức phức tạp, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ trên cơ sở pháp
2
luật GQKN về đất đai để tháo gỡ những vướng mắc cho người dân góp
phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người SDĐ.
Xuất phát từ bối cảnh đó tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Pháp
luật giải quyết khiếu nại về đất đai - từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc" làm
đề tài Luận văn cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp - Luật Hành chính,
nhằm tìm kiếm những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện
pháp luật GQKN về đất đai ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật GQKN nói chung và pháp luật GQKN về đất đai nói riêng
là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Hiện nay đã có
một số lượng lớn các bài viết, công trình nghiên cứu về GQKN và pháp luật
GQKN, GQKN về đất đai, trong đó có một số công trình tiêu biểu sau:
- Phạm Văn Long (2005), "Việc thực hiện thẩm quyền giải quyết của
thủ trưởng cơ quan nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra
nhà nước trong giải quyết khiếu nại hành chính", Đề tài khoa học cấp Bộ;
- Ngô Mạnh Toan (2005), "Xây dựng quy trình giải quyết khiếu nại
hành chính", Đề tài khoa học cấp cơ sở;
- Nguyễn Tuấn Khanh (2008), "Việc áp dụng pháp luật để giải quyết
khiếu nại về đất đai", Tạp chí Thanh tra, số 5/2008;
- Nguyễn Thị Lệ Hằng (2010), "Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh,
lôgic, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, chú trọng việc
thu thập các số liệu từ các báo cáo thực tế về GQKN đất đai ở trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về
pháp luật GQKN về đất đai từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc nên có những
đóng góp mới như sau:
- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp luật
GQKN về đất đai.
- Làm rõ thực trạng pháp luật GQKN về đất đai từ thực tiễn tỉnh
Vĩnh Phúc qua việc phân tích, so sánh, đánh giá, rút ra những thành tựu,
hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, làm tiền đề đưa ra quan điểm và giải
pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật GQKN về đất đai, góp phần
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp luật về GQKN
nói riêng, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, bảo
đảm quyền con người, quyền công dân.
5
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống, xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật GQKN đất đai.
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu lập pháp
và các nhà thực tiễn áp dụng pháp luật về GQKN đất đai trong việc thực
hiện thẩm quyền quản lý và SDĐ có hiệu quả; ngăn ngừa, hạn chế
nguyên nhân gây nên khiếu nại về đất đai cũng như nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật GQKN về đất đai.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
quản lý đất đai;
- Việc GQKN, tranh chấp về đất đai liên quan đến thẩm quyền của
nhiều cơ quan khác nhau: Cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện
chức năng quản lý đất đai, cơ quan tài chính quản lý chính sách tài chính
về đất đai, cơ quan xây dựng quản lý về nhà ở; thanh tra và Ủy ban nhân
dân (UBND) các cấp...
- Phương thức giải quyết được thực hiện dưới nhiều phương diện
khác nhau thông qua mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm
quyền nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
1.1.2. Giải quyết khiếu nại về đất đai
Khái niệm GQKN về đất đai được hiểu là việc thụ lý, xác minh, kết
luận và ra quyết định GQKN đối với các quyết định hành chính, hành vi
hành chính trong quản lý và sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, người có thẩm quyền.
Bản chất việc GQKN về đất đai là một hoạt động quản lý nhà nước
trong lĩnh vực đất đai. Do đó đòi hỏi hoạt động này phải tuân thủ theo
những nguyên tắc và trình tự thủ tục nhất định nhằm đảm bảo tính hiệu
lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. GQKN về đất
đai là một hình thức GQKN nói chung, vì vậy, GQKN về đất đai mang
các đặc điểm của GQKN đó là:
Thứ nhất, GQKN về đất đai là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Thứ hai, GQKN về đất đai phải tuân theo những hình thức, thủ tục
chặt chẽ do pháp luật quy định.
Thứ ba, GQKN về đất đai mang tính cá biệt, cụ thể.
Thứ tư, GQKN về đất đai phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định
bao gồm nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc khách quan, nguyên tắc công
7
khai minh bạch, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc kịp thời, nguyên tắc
8
- Người có thẩm quyền GQKN lần hai là Thủ trưởng cấp trên trực
tiếp của người có thẩm quyền GQKN lần đầu.
Thẩm quyền GQKN của các cơ quan hành chính nhà nước: Được
quy định từ Điều 17 đến Điều 26 Luật khiếu nại năm 2011.
Thẩm quyền của cơ quan thanh tra trong GQKN: Theo quy định của
Luật khiếu nại, trách nhiệm GQKN thuộc về thủ trưởng cơ quan quản lý
nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn công tác GQKN cho thấy, nội dung vụ
việc thường rất đa dạng và phức tạp, cần phải có quá trình thẩm tra, xác
minh trước khi đưa ra quyết định giải quyết. Các cơ quan thanh tra đóng
vai trò quan trọng trong quá trình này. Điều 24 Luật khiếu nại quy định về
thẩm quyền của Tổng Thanh tra Chính phủ và Điều 25 Luật khiếu nại quy
định trách nhiệm của Chánh thanh tra các cấp.
1.2.2.2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
Trình tự, thủ tục GQKN là các bước để giải quyết một khiếu nại hành
chính, được sắp xếp theo một nguyên tắc nhất định nhằm bảo đảm việc
GQKN khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời. Trong trường hợp người
khiếu nại không khởi kiện vụ việc ra Tòa án hành chính mà lựa chọn
khiếu nại theo con đường hành chính, việc GQKN tại các cơ quan hành
chính được thực hiện qua hai cấp. Trong luận văn tác giả đã trình bày cụ
thể về trình tự, thủ tục GQKN lần đầu và trình tự, thủ tục GQKN lần hai.
1.2.3. Vai trò của pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai
Trong mục này, tác giả luận văn trình bày về vai trò của pháp luật
giải quyết khiếu nại về đất đai, bao gồm:
1.2.3.1. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò quan
trọng trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
1.2.3.2. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
Luật này đã đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử lập pháp của
pháp luật khiếu nại, lần đầu tiên quyền khiếu nại được quy định trong
một văn bản riêng biệt với quyền tố cáo.
Khác với GQKN thông thường, việc GQKN về đất đai một mặt căn
cứ trên cơ sở các quy định pháp luật về khiếu nại, mặt khác còn phải dựa
trên các quy định của pháp luật về quản lý đất đai.
Ngày 29/11/2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua
Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014, đã mở
10
rộng hơn nữa quyền của công dân trong việc yêu cầu các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi
các bên SDĐ mâu thuẫn, không thống nhất với nhau trong quá trình SDĐ.
Để nâng cao hiệu quả việc GQKN của cơ quan, tổ chức và công dân,
những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn
bản pháp luật đề cập tới công tác GQKN, đồng thời coi việc giải quyết
hiệu quả các khiếu nại là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các
cơ quan hành chính nhà nước, góp phần phát huy quyền dân chủ của nhân
dân và thực hiện cải cách hành chính nhà nước.
2.1.3. Đánh giá chung pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai
2.1.3.1. Những ưu điểm
Thứ nhất, khắc phục những hạn chế, bất cập liên quan đến trình tự,
thủ tục GQKN.
Thứ hai, khắc phục hạn chế, bất cập trong quy định về quyền và
nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, sự tham gia của luật sư
trong quá trình GQKN, việc tổ chức đối thoại trong GQKN.
Thứ ba, khắc phục bất cập, hạn chế liên quan đến việc tổ chức, thi
hành các quyết định GQKN có hiệu lực pháp luật.
2.1.3.2. Những hạn chế
Nguyên nhân của những hạn chế
- Nguyên nhân do chính sách, pháp luật về đất đai trong thời gian dài
không được hoàn thiện đồng bộ, thiếu cụ thể và nhất quán.
- Nguyên nhân do chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của
Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền
của người SDĐ đã được pháp luật công nhận, dẫn tới nhấn mạnh quyền
thu hồi đất của Nhà nước, tạo vốn từ quỹ đất mà chưa quan tâm đầy đủ
lợi ích chính đáng của người SDĐ, đặc biệt là trong việc định giá đất bồi
thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất tái định cư
(thu hồi giá quá thấp, giao lại giá cao).
- Nguyên nhân do bất cập trong công tác GQKN về đất đai:
Tổ chức và cơ chế GQKN về đất đai thiếu ổn định và bất cập so với
yêu cầu thực tế.
Trong tổ chức thực hiện pháp luật về GQKN lĩnh vực đất đai, nhiều
địa phương chưa làm tốt việc tiếp dân, nhận đơn, hướng dẫn cụ thể theo
pháp luật về việc nộp đơn dẫn đến tình trạng người đi khiếu kiện lúng
túng, mất nhiều thời gian, công sức khi phải đi hết nơi này đến nơi khác.
12
Công tác hòa giải ở cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, nhiều
địa phương chưa bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm
đảm nhiệm công việc này nên việc hòa giải đạt hiệu quả chưa cao.
Công tác thanh tra chưa được thực hiện thường xuyên, còn thiếu
tính chủ động, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
2.2. Thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh
Vĩnh Phúc
2.2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Vĩnh Phúc
Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ và vùng Thủ đô Hà Nội. Vĩnh Phúc có nhiều tuyến
Toàn tỉnh nhận trong giai đoạn 2012 - 2015 nhận trên 10.840 lượt
đơn thư trong đó: Khiếu nại 1.496 lượt đơn, tỷ lệ 13,8%; tố cáo 1.056
lượt đơn, tỷ lệ 9,7%; loại khác (Kiến nghị, đề nghị, phản ánh) 8.288 lượt
đơn, tỷ lệ 76,5%:
Trong tổng số 10.840 lượt đơn thư đã nhận, có 2.560 vụ việc thuộc
thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp,
trong đó: cấp tỉnh 856, cấp huyện 352, cấp xã 1.352 vụ việc; còn lại 8.280
lượt đơn thư trùng lặp và thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tư
pháp, tổ chức chính trị xã hội.
Tình hình khiếu nại, tố cáo nêu trên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự
xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm; có nơi đã xuất hiện
những mâu thuẫn phát sinh giữa người dân với chính quyền, giữa người
dân với nhà đầu tư. Các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đông
người phức tạp, tồn đọng, kéo dài đã được UBND tỉnh tập trung chỉ đạo
các cấp, các ngành kiểm tra, xác minh, rà soát; tổ chức đối thoại để giải
quyết kịp thời, tình hình đã có chuyển biến tích cực trong thời gian qua.
2.2.3. Kết quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai ở
tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.3.1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật giải quyết
khiếu nại về đất đai
Để hiện thực hóa pháp luật GQKN về đất đai HĐND và UBND tỉnh
đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, đó là:
- Nghị quyết số 152/2014/NQ-HĐND ngày 22/12/2014 của HĐND
tỉnh thông qua bảng giá đất 5 năm 2015-2019 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
- Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 Ban hành quy
định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ
trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
14
tiếp công dân được đảm bảo.
15
Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục chỉ đạo việc tiếp công dân phải gắn với
giải quyết khiếu nại, tố cáo; chế độ trực tiếp tiếp công dân định kỳ và đột
xuất của Lãnh đạo UBND tỉnh được thực hiện đúng quy định, phân công
lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp tiếp công dân theo định kỳ nhiều tháng liên tục
để thống nhất theo dõi chỉ đạo giải quyết các vụ việc. Trước các ngày tiếp
công dân định kỳ, Lãnh đạo UBND tỉnh đã trực tiếp nghe UBND các huyện,
thành, thị và các sở ngành báo cáo tiến độ, kết quả giải quyết cụ thể từng
vụ việc KNTC được giao. Sau mỗi kỳ tiếp công dân, UBND tỉnh có thông
báo kết quả tiếp công dân để giao nhiệm vụ cho các cấp, các ngành giải quyết.
2.2.3.4. Công tác giải quyết khiếu nại về đất đai
Công tác GQKN nói chung, khiếu nại về đất đai nói riêng trên địa
bàn tỉnh được các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quan tâm
thực hiện và có những chuyển biến tích cực. Hầu hết các vụ việc khiếu
nại của công dân đều được giải quyết kịp thời, chất lượng GQKN được
nâng lên so với giai đoạn trước.
2.2.4. Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về
đất đai ở tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.4.1. Ưu điểm
Công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và GQKN nói chung, GQKN
trong lĩnh vực đất đai nói riêng đã có những chuyển biến tích cực; đặc
biệt là sự quan tâm chỉ đạo tích cực của cấp ủy các cấp, sự tham gia tích
cực của các tổ chức đoàn thể, các cơ quan thông tin đại chúng, tạo được
sự thống nhất của cả hệ thống chính trị trong công tác tiếp công dân và
GQKN; nhận thức và trách nhiệm của nhiều cấp ủy, chính quyền địa
phương đối với công tác này được nâng lên rõ rệt.
Thủ trưởng các cấp, các ngành Tài nguyên - Môi trường, Thanh tra tỉnh
chính sách, pháp luật về đất đai dẫn đến khiếu nại không có căn cứ,
không đúng sự thật, chạy theo lợi ích kinh tế, đeo bám dai dẳng, thái độ
gay gắt, quá khích. Một số công dân lợi dụng quyền khiếu nại để kích
động, gây rối làm mất an ninh trật tự và làm cho tình hình phức tạp thêm.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên:
Một là, chính sách, pháp luật về đất đai luôn thay đổi, còn chồng
chéo, bất cập. Công tác quản lý đất đai qua nhiều thời kỳ có cơ chế quản
lý khác nhau, bị buông lỏng trong thời gian dài. Việc lưu trữ hồ sơ phục
vụ công tác quản lý đất đai qua các thời kỳ còn nhiều thiếu sót.
17
Hai là, cấp ủy, chính quyền một số địa phương, đơn vị chưa quan
tâm đúng mức đến công tác tiếp công dân, chưa phối hợp chặt chẽ giữa
việc tiếp công dân và GQKN nói chung, khiếu nại về đất đai nói riêng.
Một số vụ việc chưa được giải quyết kịp thời, nghiêm minh, gây bức xúc
trong nhân dân.
Ba là, biên chế cán bộ làm công tác GQKN về đất đai còn thiếu, chưa
tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Một số cán bộ trong khi thi hành công
vụ về quản lý đất đai chưa thực hiện đúng chính sách, pháp luật, sách
nhiễu, tiêu cực, gây bức xúc cho người dân trong quá trình đòi quyền lợi.
Bốn là, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai, GQKN về
đất đai chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao, kiến thức, ý thức tôn trọng
và chấp hành pháp luật về đất đai, GQKN trong lĩnh vực đất đai của các
tầng lớp nhân dân còn hạn chế.
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai
Pháp luật khiếu nại là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp
thiếu đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản trong hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật GQKN. Khắc phục tình trạng nêu trên cần phải tiến hành
thường xuyên rà soát và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật GQKN.
Pháp luật GQKN đất đai cần được hoàn thiện các nội dung sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai: Luật Đất đai năm 2013
mới vừa có hiệu lực thi hành, do đó, cần hướng dẫn thực hiện một cách
cụ thể, tránh áp dụng tùy tiện vấn đề thu hồi đất theo hướng khẳng định
rõ và rất hạn chế các trường hợp được coi là "thật sự cần thiết" mới được
thu hồi, theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, cần làm
rõ hơn vai trò của HĐND như là tiếng nói của cử tri trong việc kiểm soát
những quyết định thu hồi đất của UBND cùng cấp. Về xác định giá đất,
cần quy định thành phần bắt buộc trong hội đồng thẩm định giá đất,
không chỉ có UBND, đại diện ban, ngành liên quan, tổ chức cung cấp
dịch vụ định giá đất độc lập, mà còn cần tới nhiều thành viên là các
chuyên gia cao cấp về định giá đất như các chuyên gia định giá từ các cơ
sở đào tạo, viện nghiên cứu, khu vực doanh nghiệp định giá, hiệp hội
định giá. Với thành phần như vậy mới đảm bảo việc định giá đất có cơ sở
19
khách quan. Về lâu dài, cũng cần tính đến việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất
đai để luật hóa nội dung nói trên cho thực sự phù hợp với những yêu cầu
chung và với tình hình thực tế.
Hai là, đổi mới về mô hình tổ chức bộ máy giải quyết tranh chấp
hành chính trong lĩnh vực đất đai: Cần tăng cường trách nhiệm GQKN
của cơ quan hành chính nhà nước bằng các biện pháp: Xác định rõ chế độ
trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước là người có
thẩm quyền GQKN; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát trách nhiệm
của người có thẩm quyền GQKN; chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém, xử
lý nghiêm những người vi phạm, thiếu trách nhiệm trong công tác
hoạch soạn thảo, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan để thực
hiện đúng tiến độ và có chất lượng.
- Một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng không
nhỏ tới chất lượng văn bản là cần đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa hoạt
động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bằng việc mở rộng phạm vi
và đa dạng hóa các hình thức tổ chức lấy ý kiến tham gia đóng góp của cá
nhân và các đơn vị có liên quan.
Công tác thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về khiếu
nại, tố cáo cần tập trung chủ yếu vào những nội dung sau: sự cần thiết
phải ban hành văn bản; sự phù hợp của hình thức văn bản đối với vấn đề
cần được giải quyết; đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản; bố cục
của văn bản; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong
toàn hệ thống; tính khả thi của văn bản; kỹ thuật soạn thảo văn bản.
Sau khi thẩm định, đơn vị chủ trì soạn thảo trình hồ sơ đã được thẩm
định lên cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ký ban hành văn bản.
3.2.3. Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học pháp lý
và công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức liên quan
đến hoạt động xây dựng pháp luật giải quyết khiếu nại
Hoạt động nghiên cứu khoa học và thông tin khoa học pháp lý là
công tác mang tính bổ trợ cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật nói chung cũng như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về
khiếu nại, tố cáo nói riêng, nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng góp phần
vào việc giải quyết những vấn đề mà thực tiễn pháp lý đặt ra. Qua việc
nâng cao chất lượng của công tác nghiên cứu khoa học pháp lý sẽ đưa ra
nhiều đóng góp đáng kể đối với công tác xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về khiếu nại, tố cáo với mục tiêu chung là: Khắc phục sự chậm trễ
của khoa học xã hội... phát triển nhanh các ngành kinh tế học, xã hội học,
21
rộng trong cán bộ, nhân dân, để mọi người nắm vững và thực hiện
22
nghiêm chỉnh nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhất là trong
lĩnh vực trọng tâm thường phát sinh nhiều khiếu nại như đất đai, nhà cửa,
chính sách xã hội, các lĩnh vực tư pháp, để cơ quan nhà nước, công dân
nắm vững và thực hiện; giám sát cán bộ, công chức thực hiện đúng pháp
luật. Tuyên truyền pháp luật về khiếu nại mà tập trung trước hết là Luật
khiếu nại.
3.2.5. Tập trung giải quyết dứt điểm các khiếu nại kéo dài, phức
tạp, kiên quyết xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật giải
quyết khiếu nại
Tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ khiếu nại đông người,
phức tạp và vụ việc khiếu tố gay gắt, dai dẳng, kéo dài, chấn chỉnh các
mặt quản lý nhằm hạn chế các vi phạm pháp luật; giải quyết về cơ bản
tình trạng khiếu nại đông người không đúng chỗ. Đối với những vụ việc
khiếu nại đông người, phức tạp, kéo dài phải có những chủ trương, biện
pháp hiệu quả nhằm giải quyết dứt điểm, không để tình hình phức tạp
thêm, từng bước hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng khiếu nại này.
Việc xem xét, giải quyết các vụ việc phải dứt điểm từ địa phương, cơ sở
nơi phát sinh khiếu nại, đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân và lợi
ích của Nhà nước. Quá trình xem xét, giải quyết phải dân chủ, công khai,
công bằng, kết hợp chặt chẽ giáo dục, thuyết phục và tôn trọng pháp luật;
kết hợp các biện pháp hòa giải, kinh tế, hành chính, hình sự để việc giải
quyết có hiệu quả và hiệu lực.
Xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, công chức thiếu tinh thần
trách nhiệm trong việc GQKN, có hành vi tiêu cực, vi phạm quyền dân
chủ của nhân dân, lợi dụng quyền dân chủ làm trái pháp luật. Đối với
người khiếu nại đã được nhiều cấp, ngành giải quyết có lý, có tình, đúng
quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân tồn tại với tư cách là "quyền
bảo vệ quyền". Thông qua việc sử dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo,
công dân bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà
nước, xã hội, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Đồng thời việc thực
hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo thể hiện tính dân chủ của xã hội, tích
cực chính trị của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước, với xã hội.
Khiếu nại về đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội,
đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước
thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất đai những giá trị vốn có