Biện pháp giúp trẻ 3 4 tuổi mới “đi học”tư với CĐSH ở trường MN - Pdf 41

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Con cái luôn là niềm yêu thương, sự hy vọng của những người làm cha
làm mẹ. Khi một đứa trẻ sinh ra, từng miếng ăn, từng giấc ngủ, từng sự đổi
thay dù là nhỏ nhất của trẻ đều được quan tâm và chú ý bởi những người thân
mà trực tiếp nhất là người mẹ. Sự phát triển bình thường của đứa trẻ về thể
chất và đời sống tâm lí luôn là niềm trông đợi và khát khao của các bậc sinh
thành. Mỗi sự kiện trong cuộc đời luôn để lại những dấu ấn khó phai và theo
suốt cả cuộc đời của đứa trẻ. Mà ngày đầu tiên “đi học” ở trường MN là một
bước ngoặt, là một sự kiện quan trọng không chỉ riêng của trẻ mà còn là mối
quan tâm, lo lắng của cha mẹ, của gia đình và của cả những giáo viên, những
nhà làm công tác chăm sóc giáo dục ở trường MN.
Ngày đầu tiên đến trường, bé không thể tránh khỏi những lo lắng, đến
môi trường mới bé gặp phải những thay đổi về thói quen, chế độ sinh hoạt…
nhiều bé cảm thấy hẫng hụt, mất cảm giác an toàn và khóc nhiều. Trong tiếng
khóc ngày đầu tiên đó, ánh mắt hoang mang dò tìm một điểm tựa mang đến
cho các bậc phụ huynh không ít những lo lắng, các cô giáo vất vả trong việc
dỗ nín trẻ.
Thực tế cho hay rằng, nhiều đứa trẻ háo hức mong mỏi được “đi học” ở
trường MN, song khi “đi học” lại khóc, rồi sợ “đi học”, sút cân, phát ốm…Vì
sao bé cứ khóc mãi vào những ngày đầu đến trường? Làm sao để trẻ thích ứng
cao hơn với chế độ sinh hoạt ở trường MN, hòa nhập với môi trường sống
mới, với các quan hệ mới (các cô, các bạn)?
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp giúp trẻ 3 4 tuổi mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN”. Với mong muốn và hy
vọng sẽ góp một phần nào đó làm giảm bớt những lo lắng, băn khoăn của
những bậc cha mẹ có con mới bắt đầu đi học, giúp cho giáo viên hiểu hơn

1


thi của các biện pháp đã xây dựng.

2

2


3

6. Giới hạn đề tài
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu sự TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 - 4 tuổi
những ngày đầu tiên “đi học” và các biện pháp giúp trẻ TƯ nhanh với CĐSH
ở trường MN.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại : Trường MN 10 (Quận 3), trường MN Thành Phố
Hồ Chí Minh (Quận 3), trường MNTT Hải Yến (Quận 3) và trường MN
Măng Non 1 (Quận 10) tại thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan nhằm
xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Chúng tôi dự giờ các HĐ trong CĐSH của trẻ 3 - 4 tuổi những ngày
đầu “đi học” ở trường MN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, quan sát và
đánh giá biện pháp giáo viên sử dụng nhằm giúp trẻ TƯ với môi trường
trường MN và mức TƯ với CĐSH của trẻ.
7.2.2. Phương pháp điều tra viết
Dùng phiếu điều tra để thăm dò giáo viên và phụ huynh về những biện

tại Tp. HCM. Đồng thời, đề xuất một số biện pháp tác động nhằm giúp trẻ 3 4 tuổi những ngày đầu “đi học” TƯ nhanh với CĐSH ở trường MN.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận và kiến nghị; phụ lục, luận văn gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về sự thích ứng với chế độ sinh hoạt ở trường
MN của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học”.
Chương 2: Thực trạng biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” thích
ứng với chế độ sinh hoạt ở trường MN.
Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi
mới “đi học” thích ứng với chế độ sinh hoạt ở trường MN.

4

4


5

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỰ THÍCH ỨNG VỚI CHẾ ĐỘ SINH HOẠT Ở
TRƯỜNG MẦM NON CỦA TRẺ 3 - 4 TUỔI MỚI “ĐI HỌC”
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tình hình nghiên cứu sự thích ứng ở nước ngoài
a. Những nghiên cứu về sự TƯ của con người nói chung với môi trường
và hoạt động mới
H.Spencer gần như đồng nhất sự TƯ tâm lí với sự thích nghi sinh học.
J.Watson, dưới góc độ TƯ, cuộc sống con người là tập hợp nhiều hành vi
khác nhau nhằm mục đích giúp họ thích nghi với môi trường sống.
S.Freud cho rằng: Khả năng TƯ với cuộc sống của cá nhân chỉ thể hiện được
khi “cái tôi” có thể điều hòa được mâu thuẫn giữa “cái ấy” với “cái siêu tôi".






Sự phát triển của cơ thể, của hệ thần kinh và vận động
Sự phát triển về mặt tâm lí
HĐ của cá nhân
Hoàn cảnh sống
Giáo dục

1.3. Chế độ sinh hoạt của trẻ 3 - 4 tuổi ở trường MN
1.3.1. Khái niệm về chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường MN
CĐSH là một quy trình khoa học về việc phân bố hợp lí các HĐ, nghỉ ngơi
trong ngày phù hợp với từng lứa tuổi nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của trẻ, giúp
trẻ phát triển một cách tốt nhất.
1.3.2. Chế độ sinh hoạt của trẻ 3 - 4 tuổi ở trường MN
Thời gian
6h45 - 8h00
8h00 - 8h30
8h30 - 9h10
9h10 - 10h00
10h00 - 11h10
11h10 - 14h00
14h00 - 14h40
14h40 - 15h40
15h40 - 17h00

Nội dung
Đón trẻ, chơi, thể dục sáng

Chiều cao đạt 93,5 – 109,6 cm →101 ± 7,1 cm.
Các quá trình tâm lí của trẻ cũng phát triển mạnh, đặc biệt là tư duy và
ngôn ngữ. HĐ vui chơi (mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề)
chiếm ưu thế và giữ vai trò chủ đạo, trẻ ở lứa tuổi này đã bắt đầu chơi với
nhau và chơi cùng nhau, HĐ vui chơi của trẻ còn đơn giản, nội dung, chủ đề
và hình thức chơi còn đơn điệu, nghèo nàn. Trẻ chưa quen phối hợp với nhau
trong khi chơi.
Tư duy của trẻ chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư
duy trực quan - hình tượng, tư duy của trẻ mẫu giáo bé còn gắn liền với xúc
cảm và ý muốn chủ quan, trẻ thường đặt câu hỏi “tại sao?” và làm những
điều gì mình thích.
1.4.2. Sự TƯ của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” với chế độ sinh hoạt ở
trường MN
Sự TƯ với CĐSH của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” ở trường MN là quá
trình trẻ làm quen, hòa nhập, điều chỉnh bản thân để phù hợp với nề nếp sinh
hoạt và các mối quan hệ ở lớp, ở trường MN.
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự TƯ của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học”
với CĐSH ở trường MN

7

7


8

 Sự phát triển thể chất.
 Sự phát triển tâm lí.

Đặc điểm cá nhân của từng trẻ.

1

Cảm xúc Bộc lộ những cảm xúc tiêu cực (sợ hãi, khó chịu, căng
thẳng…) (1đ)
Khóc (2đ)
Vui vẻ (3đ)

2

Bỏ ăn/không chịu ăn (0đ)
Ăn ít (1đ)

8

8


9

Ăn hết suất (2đ)
Ăn uống Tự giác ăn (3đ)
Không ngủ (0đ)
3

Ngủ

Khó ngủ (1đ)
Ngủ không đẫy giấc (2đ)
Ngủ đẫy giấc (3đ)
Đi vệ sinh tại chỗ (0đ)


Mức độ 1 - Trẻ TƯ cao với CĐSH ở trường MN: (13 - 18 điểm)
Mức độ 2 - Trẻ TƯ trung bình với CĐSH ở trường MN: (7 – 12
điểm)
Mức độ 3 - Trẻ TƯ thấp với CĐSH ở trường MN: (dưới 6 điểm)
Kết luận chương 1
Vấn đề TƯ tâm lí đã được các nhà TLH trong nước, ngoài nước nghiên
cứu dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau.

9

9


10

Đối với trẻ em 3 - 4 tuổi mới vào trường MN, phải hòa nhập vào một
môi trường sống đầy mới mẻ về mọi mặt, thì sự TƯ càng thể hiện rõ hơn vai
trò của nó đối với sự phát triển của trẻ.
Sự TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” là quá
trình trẻ làm quen, hòa nhập, điều chỉnh bản thân để phù hợp với các mối
quan hệ mới và các nề nếp sinh hoạt mới ở trường MN nhằm thỏa mãn
những nhu cầu của bản thân, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả HĐ của trẻ,
giúp trẻ phát triển một cách bình thường.
Toàn bộ lí luận về bản chất của sự TƯ tâm lí và sự TƯ với CĐSH ở
trường MN của trẻ là cơ sở vững chắc để giúp chúng tôi tiếp tục nghiên cứu
thực trạng TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học”. Từ
đó, chúng tôi đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp nhằm giúp trẻ 3 - 4
tuổi mới “đi học” TƯ cao với CĐSH ở trường MN.
Chương 2

2.4. Thời gian điều tra
2.5. Phạm vi điều tra
2.6. Phương pháp điều tra
2.6.1. Phương pháp quan sát
2.6.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
2.7. Tiêu chí và thang đánh giá
Đánh giá mức độ TƯ với CĐSH của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” ở trường
MN thông qua các tiêu chí và thang đánh giá đã trình bày ở mục 1.4.5
Chương 1.
2.8. Kết quả điều tra
2.8.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về sự cần thiết phải có biện
pháp giúp trẻ MG 3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN
Bảng 2.1. nhận thức của GVMN về sự cần thiết phải có biện pháp giúp
trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN
Thâm niên công tác
Mức độ cần thiết
của GV
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Dưới 5 năm (28)
3/28
7/28
18/28
Từ 5 đến 10 năm (33)
17/33
15/33
1/33
Trên 10 năm (19)
16/19

việc giúp trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN
a. Nhận thức của phụ huynh về sự cần thiết phải có biện pháp giúp trẻ
3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN
Bảng 2.2. Nhận thức của phụ huynh về sự cần thiết phải có biện pháp
giúp trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN
Trình độ học vấn của phụ
huynh
Cao đẳng, đại học (45)

Mức độ cần thiết
Rất cần thiết
39/45

12

Cần thiết
6/45

Không cần thiết
0

12


13

Trung học chuyên nghiệp (50)

30/50


10/45
32/45
5/50
15/50
30/50
1/55
43/55
11/55

Qua kết quả nghiên cứu được thống kê ở bảng 2.3 ta thấy, những phụ
huynh có học vấn càng cao càng có nhận thức đúng đắn về vai trò của gia đình,
nhà trường và sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong việc giúp trẻ
3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ nhanh với CĐSH ở trường MN.
c. Những biện pháp của phụ huynh giúp trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ
với CĐSH ở trường MN
- Cho con tiếp xúc với “Mái nhà xanh” của trường MN
- Tạo tâm thế sẵn sàng “đi học” cho trẻ trong cuộc sống hằng ngày ở
gia đình.
- Một số phụ huynh đưa con đến trường MN, cho con tiếp xúc, cho con
chơi cùng với các bạn;
2.8.4. Thực trạng mức độ TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 - 4
tuổi mới “đi học”

13

13


14



SL

%

SL

%

SL

%

2
3
6
9
15
12
15
18
20
20

4
6
12
18
30
24

17
12
12
12
9
9
9

62
62
38
34
24
24
24
18
18
18

Độ
lệch
chuẩn
(S)

)

5,54
5,74
7,18
8,38


14


15

Bảng 2.5. Thực trạng sự TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 – 4 tuổi
mới “đi học” (Xét theo từng tiêu chí)
STT

Tiêu chí

N1

N2

N3

N4

N5

N6

N7

N8

N9


65
40
46
73
57
77

74
52
59
81
57
93

83
68
75
90
65
94

91 98 105 114
62 71 86 91
68 78 88 89
94 104 110 113
65 68 79 90
83 88 102 104

121
92

Quan sát việc sử dụng các biện pháp mà nhà trường và GVMN đã sử
dụng. Chúng tôi thấy, mặc dù các biện pháp đó là hợp lý và hấp dẫn, nhưng
GVMN chưa khai thác nó một cách triệt để.
15

15


16

c. Các bậc phụ huynh nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của gia đình trong
việc giúp trẻ mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN, chưa có những biện pháp
cần thiết giúp trẻ làm quen với CĐSH ở trường MN trước khi cho trẻ “đi học”
Trao đổi trực tiếp với GVMN, với một số bậc phụ huynh chúng tôi thấy,
phần lớn gia đình không tìm hiểu CĐSH ở trường MN thế nào để điều chỉnh
CĐSH của trẻ ở nhà sao cho tương thích giữa CĐSH ở nhà và CĐSH ở trường
trước khi cho trẻ “đi học”, nhằm giúp trẻ TƯ nhanh với CĐSH ở trường MN.
Kết luận chương 2
Mục đích của chương 2 là: trên cơ sở đánh giá thực trạng biện pháp
giúp trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” TƯ với CĐSH ở trường MN và thực trạng sự
TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ, đề xuất những biện pháp hữu hiệu giúp
trẻ TƯ nhanh với CĐSH ở trường MN.
Chương 3
ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ
3 - 4 TUỔI MỚI “ĐI HỌC” THÍCH ỨNG VỚI CHẾ ĐỘ SINH HOẠT
Ở TRƯỜNG MẦM NON
3.1. Cơ sở xây dựng biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” thích
ứng với chế độ sinh hoạt ở trường MN
3.2. Nguyên tắc xây dựng biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học”
thích ứng với chế độ sinh hoạt ở trường MN

+ Lớp Mầm 1: Chúng tôi chọn 25 trẻ làm nhóm TN.
+ Lớp Mầm 2: Chúng tôi chọn 25 trẻ làm nhóm ĐC.
3.4.3. Nội dung và tiến trình thực nghiệm
3.4.3.1. Nội dung thực nghiệm
Sử dụng các biện pháp đã xây dựng tác động vào nhóm trẻ TN (lớp
Mầm 1); còn trẻ nhóm ĐC (lớp Mầm 2) vẫn sử dụng các biện pháp nhà
trường và GVMN thường dùng. Đo mức độ TƯ của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi
học” đối với CĐSH ở trường MN sau hai tuần “đi học” (10 ngày “học” ở
trường mầm non).
3.4.3.2. Tiến trình thực nghiệm
Bước 1: Trao đổi, bàn bạc với BGH, GVMN và phụ huynh có con 3 - 4
tuổi mới “đi học” trường MN về kế hoạch, mục đích, nội dung và quá trình
tiến hành thực nghiệm.

17

17


18

Bước 2: Mở buổi toạ đàm, mời một số chuyên gia về tâm, sinh lý, dinh
dưỡng và sức khoẻ trẻ em để trao đổi, trò chuyện và tư vấn trực tiếp cho
GVMN và phụ huynh về các vấn đề có liên quan đến sự TƯ với CĐSH ở
trường MN của trẻ mới “đi học” để tháo gỡ những khó khăn, những vướng
mắc ảnh hưởng đến sự TƯ của trẻ.
Bước 3: Thống nhất giữa BGH và GVMN và các bậc phụ huynh về việc
triển khai các biện pháp tác động do chúng tôi đề xuất
Bước 4: Quan sát và đánh giá mức độ TƯ với CĐSH ở trường MN cho
trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học”.

9
10
12
11
13
15
16
16

TƯ TB

ĐC TN
(25) (25)
1
14
2
13
5
11
7
10
8
9
7
9
9
8
9
7
11


ĐC
(25)
14
11
7
6
6
7
6
5
5
4

6,5
7,5
7,5
9,0
10,0
10,0
11,0
12,0
14,0
14,0

4,11
3,98
3,91
3,73
3,55

trường MN của trẻ nhóm TN và nhóm ĐC theo từng ngày.


Nhận xét chung

18

18


19

Mức độ TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 - 4 tuổi mới đi học ở cả
nhóm TN và nhóm ĐC đều tăng dần qua mỗi ngày “đi học”. Trong đó, mức
TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ nhóm TN cao hơn nhóm ĐC. Nếu ngày
đầu đi học, mức TƯ với CĐSH ở trường MN của nhóm TN và nhóm ĐC
chênh lệch nhau không nhiều (

TN = 6,5 - mức trung bình cận dưới;

ĐC

= 5,6 - mức thấp) thì đến ngày thứ 10, mức TƯ với CĐSH ở trường MN của
nhóm TN cao hơn nhiều so với nhóm ĐC. Cụ thể là, sang đến ngày thứ 10,
mức TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ nhóm TN đã ở mức cao (

TN =

14), trong khi đó mức TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ nhóm ĐC vẫn ở
mức TB (

365
396
462
365
496

19

Nhóm ĐC
440
310
325
445
338
430

19


20

Qua bảng 3.2 ta thấy, sau 10 ngày (2 tuần) “đi học”, điểm số các mặt
biểu hiện về sự TƯ với CĐSH của trẻ ở nhóm TN và nhóm ĐC đều khá cao,
song điểm số của trẻ nhóm TN cao hơn nhóm ĐC ở tất cả các mặt biểu hiện.
Sự TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 - 4 tuổi sau 10 ngày “đi học”
(xét theo từng mặt) được thể hiện ở biểu đồ sau:

Biểu đồ 3.12 Sự TƯ với CĐSH ở trường MN của trẻ 3 - 4 tuổi sau
10 ngày “đi học” (xét theo từng mặt biểu hiện)


Đến đây chúng tôi có thể khẳng định rằng, các biện pháp tác động sư
phạm của chúng tôi là có hiệu quả và mang tính khả thi.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN CHUNG

Qua quá trình giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi
đưa ra một số kết luận như sau:
1.1. TƯ của trẻ nói chung và giúp trẻ TƯ cao với CĐSH ở trường MN
cho trẻ 3- 4 tuổi mới “đi học” nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của ngành
GDMN. TƯ là một đặc điểm tâm lý mang bản chất xã hội của con người,
được hình thành trong quá trình sống, HĐ của cá nhân. Nhờ HĐ, cá nhân lĩnh
hội những phương thức hành vi, ứng xử mới để đáp ứng những đòi hỏi của
cuộc sống mới. CĐSH là trình tự diễn ra các HĐ trong ngày nhằm thoả mãn
những nhu cầu của trẻ. Sự TƯ với CĐSH của trẻ 3-4 tuổi mới “đi học” ở
trường mầm non là quá trình trẻ làm quen, hòa nhập, điều chỉnh bản thân để
phù hợp với các mối quan hệ mới và các nề nếp sinh hoạt mới ở trường mầm
non nhằm thỏa mãn những nhu cầu của trẻ, giúp trẻ nâng cao hiệu quả HĐ.
1.2. Qua quá trình điều tra thực trạng mức độ TƯ với CĐSH ở trường MN
của trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” cho thấy, mức độ TƯ với CĐSH ở trường MN của
trẻ 3 - 4 tuổi mới “đi học” chưa cao. “Đi học” là một bước ngoặt quan trọng để
trẻ bước sang một môi trường mới với nhiều hứa hẹn thú vị hơn cho những
học hỏi mới, những phát triển mới. Nhưng đó cũng là bước ngoặt mà trẻ phải
đối mặt với những thay đổi lớn trong tâm lý. Vì thế, nếu không được chuẩn bị
đầy đủ về mặt tinh thần bé sẽ rất khó khăn để TƯ với môi trường mới, từ đó
dễ xuất hiện triệu chứng sợ “đi học”. Thực tế còn cho thấy, những trẻ mới “đi
học” còn khóc rất nhiều, có những biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến
sức khoẻ của trẻ.
Trường MN, GVMN đã sử dụng một số biện pháp cần thiết để giúp trẻ

21

học” TƯ nhanh với CĐSH ở trường MN. Bởi lẽ, trẻ TƯ được với CĐSH ở
trường MN sẽ tạo được niềm vui đến trường cho trẻ, trẻ hoà nhập nhanh và
dễ vào nề nếp của lớp. Đồng thời các bậc phụ huynh cũng yên tâm hơn khi
gửi con vào trường.
Trên cơ sở xác định được tầm quan trọng của việc giúp trẻ mới “đi
học” TƯ với CĐSH ở trường MN, BGH cần đầu tư kinh phí xây dựng môi
trường giáo dục sao cho hấp dẫn để thu hút trẻ.
2.2. Đối với GVMN

22

22


23

- GVMN cần phải có tâm thế sẵn sàng đón trẻ một cách ân cần chu đáo,
tạo cảm giác an toàn, thoải mái cho trẻ ngay từ những ngày đầu “đi học”.
- GVMN cần phối hợp chặt chẽ với gia đình, đặt ra những yêu cầu đối
với gia đình trong việc thực hiện những CĐSH của trẻ ngay ở nhà.
- Tổ chức cho trẻ nhiều trò chơi, hoạt động hấp dẫn để duy trì niềm vui,
hứng thú được “đi học” ở trẻ.
- Không nóng vội ép trẻ vào nề nếp của lớp bằng những biện pháp cứng
rắn, mà cần nhẹ nhàng, từng bước đưa trẻ vào nề nếp.
2.3. Đối với các bậc phụ huynh
- Phải xác định được vai trò của gia đình trong việc giúp trẻ TƯ với
CĐSH ở trường MN, không phó mặc việc chăm sóc, giáo dục trẻ cho GVMN
ngay từ những ngày đầu trẻ “đi học”.
- Phải tìm hiểu CĐSH của trẻ ở trường MN, trên cơ sở đó tập cho trẻ
làm quen dần với nó trước khi cho trẻ “đi học” ở trường MN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status