BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TẤN THÀNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ VÀ LẠM
PHÁT Ở VIỆT NAM, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ
MÔ HÌNH TỰ HỒI QUY CHUYỂN TIẾP TRƠN (STAR)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TẤN THÀNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ VÀ LẠM
PHÁT Ở VIỆT NAM, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ
MÔ HÌNH TỰ HỒI QUY CHUYỂN TIẾP TRƠN (STAR)
Chuyên ngành
Mã ngành
: Tài Chính - Ngân Hàng.
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng theo mô hình VECM ..........11
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá trong các mô hình nền kinh tế
vĩ mô mở mới nỗi khác nhau dựa vào mô hình VAR. .......................................14
2.2.2 Một số nghiên cứu có liên quan đến quan hệ giữa ERPT và lạm phát .....19
+ Nghiên cứu về sự bất cân xứng của truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát. .............19
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát ở những quốc gia
trải qua các cơ chế lạm phát khác nhau. .............................................................23
+ Nghiên cứu sự truyền dẫn thấp của tỷ giá vào lạm phát và mối quan hệ phi
tuyến giữa lạm phát và truyền dẫn tỷ giá. ..........................................................24
2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về ERPT sử dụng mô hình ước lượng phi
tuyến ...................................................................................................................26
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát bằng mô hình
ước lượng dữ liệu chuỗi thời gian phi tuyến. .....................................................27
+ Nghiên cứu giải thích sự tồn tại cơ chế phi tuyến của sự truyền dẫn tỷ giá vào
lạm phát. .............................................................................................................28
2.2.4 Bảng tóm tắt, so sánh một số nghiên cứu trước về truyền dẫn tỷ giá. ......30
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU ............................32
3.1 Mô hình STAR ................................................................................................32
3.1.1 Mô hình tự hồi quy ngưỡng (TAR) ...........................................................32
3.1.2 Mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR) ...........................................33
3.1.3 Chiến lược mô hình hóa của các mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn
(STAR)...................................................................................................................36
3.1.3.1 Giai đoạn thiết lập mô hình: ...................................................................36
3.1.3.2 Giai đoạn ước lượng các tham số hồi quy ..............................................38
3.1.3.3 Giai đoạn đánh giá sự phù hợp của mô hình ..........................................39
3.2 Phương pháp nghiên cứu. ................................................................................40
3.3 Dữ liệu .............................................................................................................43
3.3.1 Mô tả dữ liệu .............................................................................................43
Logistic.
NLS (Non-linear least squares): Bình phương bé nhất phi tuyến.
NEER (Nominal effective exchange rate): Tỷ giá có hiệu lực danh nghĩa.
OLS (ordinary least squares): Bình phương bé nhất.
PCP (Producer currency pricing): Chiến lược định giá tiền tệ của nhà sản xuất.
PTM: Pricing To Market.
PPI (Producer Price Index): Chỉ số giá sản xuất.
STAR (Smooth Transiton Autoregressive Model): Mô hình tự hồi quy chuyển tiếp
trơn.
STR (Smooth Trasition Models): Mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn.
TAR (Threshold Autoregressive): Mô hình tự hồi quy ngưỡng.
VAR (Vector Autoregression): Mô hình vectơ tự hồi quy.
VECM (Vector Error Correction Model): Mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số.
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 :Phản ứng của giá tiêu dùng CPI với 1% cú sốc tỷ giá.................................13
Bảng 2: So sánh các mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau ............................................16
Bảng 3: Thống kê mô tả số liệu được sử dụng trong mô hình thực nghiệm. ............47
Bảng 4: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị. ..............................................................49
Bảng 5 : Kiểm định tính tuyến tính dựa theo chỉ định mô hình STAR. ...................50
Bảng 6 : Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình STAR. .............................................62
DANH MỤC HÌNH ẢNH – BIỂU ĐỒ
Hình 1 :Sự truyền dẫn từ sụt giảm tỷ giá đến giá tiêu dùng .......................................7
Hình 2 : Phản ứng của các mức giá khác nhau từ một cú sốc tỷ giá: Tính Bình quân
của các quốc giá G7 ngoại trừ US. ............................................................................17
Hình 3 :Tác động của một gia tăng vĩnh viễn trong cung tiền. .................................21
Hình 4: Tác động của sự gia tăng tạm thời trong cung tiền. .....................................22
2
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
Trong khuôn khổ một nền kinh tế mở, nhất là đối với một nền kinh tế có quy
mô nhỏ và đang phát triển như Việt Nam, mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá
cả trong nước là một trong những yếu tố then chốt đánh giá hiệu quả của chính sách
tiền tệ. Trong vài thập kỷ gần đây, đã có nhiều công trình ở trong và ngoài nước
nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát. Tuy nhiên, phần lớn
tập trung vào mối quan hệ tuyến tính, các nhà mô hình khi đối mặt với các trường
hợp phi tuyến thường xử lý bằng cách lấy xấp xỉ tuyến tính. Nhưng trên thực tế, từ
cuối những năm 1990 đến nay việc áp dụng mô hình chuỗi thời gian tuyến tính
trong phân tích thực nghiệm về tài chính và kinh tế vĩ mô không còn phù hợp đối
với những quốc gia trải qua những thay đổi trong thể chế chính sách, sự phát triển
của hệ thống tài chính, xu hướng hội nhập, khủng hoảng dầu mỏ, biến động chu kỳ
kinh tế, các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và thậm chí là sự can thiệp chính
sách của chính phủ trong điều tiết kinh tế. Những tác động như vậy ít nhiều đã gây
ra những thay đổi cấu trúc dữ liệu của các biến hệ thống tài chính cũng như các biến
kinh tế vĩ mô, làm cho các chuỗi dữ liệu xuất hiện quan hệ phi tuyến. Bởi thế, việc
áp dụng các mô hình tuyến tính để giải thích các mối quan hệ kinh tế vĩ mô hiện nay
chỉ giải quyết được một số các trường hợp riêng lẻ. Vì vậy luận văn này sử dụng mô
hình chuỗi thời gian phi tuyến để nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối
đoái và lạm phát ở Việt Nam.
Sự truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá là một vấn đề quan trọng trong các thảo
luận về những chính sách tỷ giá và tiền tệ. Những lý thuyết truyền thống cho rằng
sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái là ngoại sinh đối với chính sách tiền tệ. Một quan điểm
thay thế đã được đưa ra bởi J. Taylor (2000), ông cho rằng sự sụt giảm trong truyền
dẫn tỷ giá vào các mức giá là do môi trường lạm phát thấp. Taylor giải thích sự
tương quan giữa lạm phát và truyền dẫn trong điều kiện các doanh nghiệp cạnh
số liệu trong thời kỳ từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 5 năm 2014. Luận văn chọn
thời gian nghiên cứu từ 1995 – 2014 bởi vì, thứ nhất diễn biến của lạm phát trong
thời kỳ này chia thành hai giai đoạn, từ 1995 đến 2007 lạm phát thấp và tương đối
4
ổn định, từ sau 2007 đến 2014 lạm phát biến động hơn và theo xu hướng tăng cao
hơn. Thứ hai, để đảm bảo số liệu được thu thập đầy đủ từ các nguồn đáng tin cậy.
Với mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ trả lời cho hai câu hỏi về truyền
dẫn tỷ giá và lạm phát. Thứ nhất là mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát
ở Việt Nam là như thế nào. Thứ hai là có hay không sự bất cân xứng của truyền dẫn
tỷ giá hối đoái vào lạm phát trong trường hợp lạm phát thấp so với lạm phát cao.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối
đoái và lạm phát là đồng biến nhưng theo cách phi tuyến. Trong môi trường lạm
phát ổn định thì sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng là không đáng kể
nhưng khi lạm phát tăng lên thì sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái cũng tăng lên và đạt
mức hoàn toàn khi lạm phát tăng trên một giá trị ngưỡng nhất định.
Phần còn lại của luận văn được trình bày như sau. Chương kế tiếp sẽ giới
thiệu cơ sở lý thuyết về sự truyền dẫn tỷ giá cùng với các nguyên nhân có thể dẫn
đến sự phi tuyến trong ERPT. Trong chương này cũng giới thiệu tổng quan các
nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái, trong đó có
các nghiên cứu gần đây về sự tương quan giữa ERPT và lạm phát bằng các mô hình
hồi quy phi tuyến. Chương III giới thiệu lý thuyết mô hình tự hồi quy chuyển tiếp
trơn (STAR), mô tả dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn này. Những
kết quả nghiên và thảo luận được trình bày trong chương IV. Cuối cùng là phần kết
luận được trình bày trong chương V.
5
sẽ tăng dẫn đến sự tăng lên trong mức giá nội địa. Bởi vì những hợp đồng lương
danh nghĩa được cố định trong ngắn hạn, tiền lương thực tế giảm và sản lượng sẽ
tăng. Tuy nhiên khi tiền lương thực tế được đẩy lên theo thời gian, chi phí sản xuất
sẽ tăng, mức giá tổng thể sẽ tăng và sản lượng giảm. Do đó, cuối cùng sự giảm sút
trong tỷ giá về lâu dài sẽ tác động đến chỉ sổ giá trong nước.
7
Hình 1 :Sự truyền dẫn từ sụt giảm tỷ giá đến giá tiêu dùng
Tỷ giá gảm
Tác động trực tiếp
Nguyên liệu
nhập khẩu trở
nên đắt hơn
Hàng hóa thành
phẩm nhập
khẩu trở nên
đắt hơn
Tác động gián
tiếp
Nhu cầu
trong nước
đối với hàng
đến lạm phát với giả định được ngầm hiểu sự tương tác của ERPT là tuyến tính.
Nhưng thực tế, có nhiều lý do làm cho hành vi của ERPT là phi tuyến và bất cân
xứng. Chúng ta sẽ nhận diện những nguyên nhân này từ các công trình nghiên cứu
trước ngay sau đây.
2.1.3 Tại sao truyền dẫn tỷ giá có thể là phi tuyến?
Các lý thuyết thực tiễn đóng góp một phần nhỏ đến vấn đề phi tuyến và bất đối
xứng trong sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Số lượng nghiên cứu sự phi tuyến trong
bối cảnh hiện nay tương đối ít ỏi, hầu hết các nghiên cứu trước đó giả định sự
truyền dẫn tỷ giá là tuyến tính hơn là kiểm định nó. Thực tế, có nhiều trường hợp
khác nhau có thể tạo ra sự bất đối xứng trong cơ chế truyền dẫn. Những bằng chứng
hiếm hoi trong phạm vi nghiên cứu này đã đưa ra một vài vai trò của tỷ giá trong
việc tạo ra sự phi tuyến. Theo các lý thuyết này, khả năng truyền dẫn bất cân xứng
có thể tăng lên đối với chiều hướng thay đổi tỷ giá, nghĩa là, phản ứng lại với sự
tăng giá và mất giá của tiền tệ (Gil-Pareja (2000) và Olivei (2002)). Mặt khác, mức
độ truyền dẫn cũng phản ứng bất đối xứng với quy mô thay đổi của tỷ giá, bởi vì có
sự tác động khác nhau của những thay đổi tỷ giá lớn so với những thay đổi tỷ giá
nhỏ (Coughlin và Pollard (2004) và Bussière (2007)). Có một số lý thuyết (kinh tế
vĩ mô) cho rằng khả năng tiềm ẩn mối quan hệ bất đối xứng giữa tỷ giá và mức giá
cả, chủ yếu, chúng ta đề cập đến ba lý do cho khả năng ERPT là bất đối xứng:
+ Mục tiêu thị phần: đối với sự mất giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu, các
doanh nghiệp nước ngoài có thể tuân theo chiến lược định giá theo thị trường
(PTM) bằng việc điều chỉnh lại mức giá để duy trì thị phần. Tuy nhiên, với trường
hợp tăng giá, họ duy trì mức tăng giá của chúng và chấp nhận giá nhập khẩu giảm
trong đồng tiền của thị trường đến. Đo đó, mức độ truyền dẫn tỷ giá sẽ khác nhau
đối với chiều hướng thay đổi của tỷ giá. Nếu các doanh nghiệp cố gắng duy trì sự
9
cạnh tranh và duy trì thị phần, thì sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có
+ Chi phí thực đơn: vì các chi phí liên quan đến thay đổi trong mức giá, các nhà
xuất khẩu có thể từ bỏ việc thay đổi mức giá của họ khi đồng tiền của nhà nhập
khẩu thay đổi nhỏ. Tuy nhiên, khi tỷ giá thay đổi vượt qua một vài ngưỡng nào đó
thì các doanh nghiệp sẽ thay đổi mức giá của họ. Do đó, theo giả thuyết chi phí thực
đơn, ERPT có thể là bất cân xứng đối với độ lớn của các cú sốc tỷ giá, vì mức giá sẽ
được điều chỉnh thường xuyên đối với những thay đổi tỷ giá lớn hơn là so với một
thay đổi tỷ giá nhỏ. Trong nghiên cứu của Coughlin và Pollard (2004) đối với giá
nhập khẩu của 30 ngành công nghiệp tại Mỹ, họ tìm thấy rằng hầu hết các doanh
nghiệp phản ứng bất cân xứng đối với những thay đổi lớn và nhỏ của tỷ giá hối
đoái, và ERPT có tương quan dương với độ lớn của thay đổi.
Chúng ta đã nhận thấy rằng các lý thuyết hiện tại đặc biệt quan tâm đến tính phi
tuyến trong truyền dẫn tỷ giá liên quan đến độ lớn và chiều hướng của những thay
đổi tỷ giá. Bên cạnh đó, có một vài yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ làm thay đổi hành vi các
doanh nghiệp nước ngoài, và do đó có thể là nguồn gốc của sự phi tuyến trong
truyền dẫn. Một trong những yếu tố kinh tế vĩ mô đó là môi trường lạm phát. Như
đã được lập luận bởi Taylor (2000), với cơ chế lạm phát thấp và ổn định sẽ kéo theo
sự suy giảm trong mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở nhiều nước công nghiệp phát
triển. Theo đó, ERPT sẽ thấp hơn trong môi trường lạm phát ổn định. Do đó, có thể
nghĩ rằng thay đổi năng động của sự truyền dẫn phụ thuộc vào cơ chế lạm phát, mà
nó có thể được mô hình hóa theo cách phi tuyến. Đã có một số công trình nghiên
cứu ERPT liên quan đến mức độ lạm phát trong khuôn khổ phi tuyến. Sử dụng mô
hình ngưỡng dựa theo đường cong Phillips, Przystupa và Wróbel (2011) bác bỏ giả
thuyết truyền dẫn bất đối xứng do môi trường lạm phát ở Ba Lan. Theo hướng
ngược lại, Shintani et al. (2013) và Nogueira Jr. và Leon-Ledesma (2008) đã tìm
thấy sự tương quan dương và có ý nghĩ thống kê giữa ERPT và lạm phát trong
khuôn khổ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) .
Một nguồn gốc quan trọng khác của sự truyền dẫn phi truyến là chu kỳ kinh tế.
Người ta cho rằng khi nền kinh tế bùng nổ, ERPT sẽ cao hơn trong thời kỳ suy
12
sử dụng một kỹ thuật ước lượng OLS mà nó không tính đến thuộc tính của chuỗi
thời gian, ví dụ như thuộc tính không dừng của dữ liệu.
Trong những năm qua (nghĩa là sau Menon, 1995) có một số nghiên cứu thực
nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đã cố gắng cải thiện thiếu sót của những nghiên cứu
trước đó. Một nghiên cứu toàn diện là McCarthy (2000), ông nghiên cứu truyền dẫn
tỷ giá trên mức độ tổng thể đối với những nền kinh tế công nghiệp. Ông sử dụng mô
hình VAR để ước lượng giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng trong thời kỳ
1976 – 1998 và tìm thấy rằng sự truyền dẫn của những thay đổi tỷ giá đến giá tiêu
dùng là khiêm tốn ở hầu hết các quốc gia được phân tích. Tiếp theo là nghiên cứu
của Felix P.Hufner và Michael Schroder (2002), đã làm theo tinh thần của
McCarthy (2000) và sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình VECM để nắm bắt
thuộc tính không dừng của một vài biến. Nghiên cứu này tập trung vào số liệu tổng
thể chứ không phải một ngành công nghiệp hay một số sản phẩm nhất định, chủ yếu
quan tâm đến tác động tổng thể của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng, một vấn đề có
liên quan nhất đến chính sách tiền tệ.
Đây là một nghiên cứu ở thị trường Châu Âu, “tác động của sự truyền dẫn tỷ
giá đến giá tiêu dùng ở thị trường Châu Âu (Exchange Rate Pass-Through to
Consumer Prices: A European Perspective)”. Hai ông phân tích ERPT ở sự thay đổi
trong giá đồng nội tệ từ sự biến động tỷ giá, điển hình là giá tiêu dùng ở khu vực
Châu Âu. Những ước lượng đầu tiên của nhóm tác giả về hệ số truyền dẫn ở một số
quốc gia cụ thể là 5 quốc gia lớn ở khu vực Châu Âu (Đức, Pháp, Italia, Tây Ban
Nha và Hà Lan) sử dụng dữ liệu trong thời kỳ 20 năm. Theo đó các tác giả xây
dựng bình quân gia quyền của những hệ số này sử dụng tầm quan trọng của mỗi
nước trong chỉ số HICP (Harmonized Index of Consumer Prices). Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình VECM (Vector Error Correction Models) để nắm bắt thuộc tính
không dừng của hầu hết các biến sử dụng và mối tương quan đồng liên kết giữa
chúng. Ngoài ra, khi phần lớn học thuyết trước thời điểm này tập trung vào câu hỏi
lớn ở Hà Lan, Tây Ban Nha và Đức còn Hà Lan và Pháp biểu thị tác động mạnh
nhất đến giá tiêu dùng. Cuối cùng các tác giả giải thích sự tác động mạnh hơn ở Hà
Lan là bởi phần nhập khẩu của quốc gia này là lớn nhất trong 5 nước nghiên cứu.
Kết quả chỉ ra rằng tỷ giá khu vực Châu Âu có tác động đến giá tiêu dùng ở khu vực
này và do đó những người điều hành chính sách cần lưu tâm tới vấn đề này.
Đối với Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc Trang (2012) đã nghiên cứu sự chuyển
dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp
đồng liên kết Johansen, mô hình véc tơ điều chỉnh sai số và mô hình véc tơ tự hồi
quy để nghiên cứu về sự chuyển dịch tỷ giá hối đối vào các mức giá ở VN trong dài
hạn. Cụ thể là tác giả đã khảo sát tác động chuyển dịch tỷ giá hối đoái danh nghĩa
có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng ở
Việt Nam. Ngoài ra tác giả cũng xem xét tác động bất cân xứng của tỷ giá hối đoái
danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu. Kết quả kiểm định cho thấy (1) Sự
chuyển dịch từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá sản xuất là hoàn
toàn trong dài hạn. (2) Kết quả ước lượng cũng cho thấy tác động của chi phí sản
xuất của nhà xuất khẩu nước ngoài cũng được chuyển dịch hoàn toàn vào chỉ số giá
nhập khẩu trong dài hạn. (3) Bài viết cũng phát hiện rằng không có sự chuyển dịch
bất cân xứng từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu khi
có sự biến động lớn và biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái. (4) Sự chuyển dịch từ tỷ
giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, sau đó đến
chỉ số giá sản xuất và cuối cùng là chỉ số giá tiêu dùng. (5) Phân tách phương sai
cho thấy chỉ số giá sản xuất tác động đến chỉ số giá tiêu dùng lớn nhất (36% –
38%).
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá trong các mô hình nền
kinh tế vĩ mô mở mới nỗi khác nhau dựa vào mô hình VAR.
Cho đến năm 2005 đã có sự quan tâm trở lại của những hiểu biết về sự truyền
dẫn tỷ giá hối đoái như thế nào đến các mức giá, một vấn đề được rất nhiều sự quan
15
16
dùng, chỉ số giá xuất khẩu và sản xuất, chỉ số giá nhập khẩu và giá tiền lương. Các
phiên bản mô hình định lượng được sử dụng để rút ra phản ứng của 5 mức giá từ
một cú sốc tỷ giá, các mô hình được cho như bảng sau.
Bảng 2: So sánh các mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau
Mô hình
Hành vi định giá
Giá cả hàng hóa
Tiền lương
Chi phí phân phối
Mô hình 1
LCP
Cứng nhắc
Linh hoạt
Không
Mô hình 2
Cứng nhắc
Có
Mô hình 6
PCP
Cứng nhắc
Cứng nhắc
Có
Mô hình 7
Kết hợp
Cứng nhắc
Linh hoạt
Có
Mô hình 8
Kết hợp
Cứng nhắc
tiêu dùng và sản xuất, gia tăng theo thời gian nhưng ở mức vừa phải. Tác động của
một đơn vị cú sốc tỷ giá lên giá tiêu dùng sau 10 quý là 0,2.
Hình 2 : Phản ứng của các mức giá khác nhau từ một cú sốc tỷ giá: Tính Bình
quân của các quốc gia G7 ngoại trừ Mỹ.
Nguồn: Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005
Để đánh giá hiệu quả của mỗi mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau, Choudhri cùng
cộng sự thiết lập một hàm số để đo lường sự phù hợp của mỗi mô hình với dữ liệu
VAR. Kết quả cho thấy những mô hình dựa vào LCP có thể dự báo phản ứng của
các mức giá trong nước (tiêu dùng và sản xuất) và tiền lương cũng với điều kiện
những mô hình này được mở rộng để bao gồm các chi phí phân phối đối với hàng