Header Page 1 of 161.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH TÖ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Cừ
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2012.
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Có thể tìm hiểu luận văn
tại Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung
1
7
2.4.2.
PHÁP LÝ CỦA LY HÔN
1.1.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
Khái niệm ly hôn
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về ly hôn
Quyền yêu cầu ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ,
chồng (quyền dân sự)
Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000
Hậu quả pháp lý của ly hôn
Hậu quả pháp lý của ly hôn dưới góc độ pháp luật
Ảnh hưởng của việc ly hôn đối với gia đình và xã hội
Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÕA
16
30
30
nhân và gia đình nói chung và ly hôn nói riêng
Thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành
phố Hà Nội
Nhận xét chung
Tình hình ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành
phố Hà Nội được nghiên cứu trên một số phương diện
60
LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
7
11
14
ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH
2.1.
Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Một số nguyên nhân khách quan
Một số nguyên nhân chủ quan
Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
Hậu quả pháp lý của ly hôn
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP
52
53
4
99
100
102
106
108
109
111
115
115
117
119
Header Page 3 of 161.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau.
Trong đó, gia đình được coi là sản phẩm của xã hội gắn liền với quá trình phát
sinh, phát triển của xã hội, ở bất kỳ chế độ xã hội nào thì gia đình đều thực
hiện những chức năng xã hội cơ bản của nó với vai trò là tế bào của xã hội.
Sớm nhìn thấy vai trò nền tảng của gia đình và mối liên hệ hữu cơ giữa
gia đình và xã hội, sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã chỉ rõ: Quan tâm đến
gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì
cho ly hôn, các trường hợp ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn) chưa được
cụ thể, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chưa đầy đủ dẫn đến cách hiểu khi áp dụng Luật tại các cấp
TAND (trong đó có TAND quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội) chưa có
sự nhất quán. Nhiều vụ việc ly hôn có những tình tiết, nội dung giống nhau
nhưng khi áp dụng Luật giải quyết lại có những phán quyết khác nhau ở các
cấp Tòa án, nhất là việc chấp nhận quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng và
giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn (chia tài sản giữa vợ chồng, giải quyết
quyền lợi của con chưa thành niên…) còn có nhiều bất cập và vướng mắc.
Tình hình đó đòi hỏi việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật giải quyết các
vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là rất cần
thiết và có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn cũng như các nguyên
nhân, lý do ly hôn và các vấn đề liên quan đã được khá nhiều công trình
nghiên cứu khoa học quan tâm.
- Nhóm các luận văn, luận án:
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này gồm có: "Chế độ
tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000"
(Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ Luật học, 2005); "Xác định chế độ tài sản
của vợ chồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn Hồng Hải, Luận
văn Thạc sĩ, 2002); "Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam"
(Vũ Thị hằng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2006); "Căn cứ pháp lý và thủ tục
giải quyết các vụ kiện ly hôn tại Tòa án Việt Nam" (Nguyễn Thị Túy Hoa,
Luận văn Thạc sĩ Luật học); "Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000" (Nguyễn Thị Lan, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, 2012)… Các công trình này có nghiên cứu liên quan đến
6
6. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận
phục vụ yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng nâng cao chất lượng áp
dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 trong hoạt động xét xử nói chung
và trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng nói
riêng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Kết quả nghiên cứu của
luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh tư pháp nói
riêng. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề
nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với
các Thẩm phán dân sự tại TAND quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội những năm qua theo Luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam năm 2000.
Footer Page 5 of 161.
9
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN
VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA LY HÔN
1.1. Khái niệm ly hôn
Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của
vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc một bên chồng và có giá trị pháp lý khi
thể kiểm soát việc ly hôn, qua đó có thể đảm bảo lợi ích của gia đình và con
cái, cũng như sự ổn định trong xã hội.
1.2.2.2. Nội dung căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định: "1. Tòa án xem xét yêu
cầu ly hôn, nhưng xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly
Footer Page 6 of 161.
11
1.3. Hậu quả pháp lý của ly hôn
1.3.1. Hậu quả pháp lý của ly hôn dưới góc độ pháp luật
1.3.1.1. Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng
Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có
hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt. Người vợ, chồng đã ly
hôn có quyền kết hôn với người khác. Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ
nhân thân giữa vợ chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn, dù vợ chồng có thỏa thuận
hay không thỏa thuận được Tòa án cũng sẽ quyết định. Nghĩa là những quyền
và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa
vụ thương yêu kính trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy
giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau… sẽ đương nhiên chấm dứt. Một số
quyền nhân thân khác mà vợ chồng với tư cách là công dân thì không ảnh
hưởng, không thay đổi dù vợ chồng ly hôn (như họ tên, nghề nghiệp…).
1.3.1.2. Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Trước hết, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ do vợ chồng tự
thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được, vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết. Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn:
Đối với tài sản riêng của mỗi bên: Trước hết theo nguyên tắc được quy
định tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 thì việc chia tài sản khi ly hôn do
nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên
trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Và về nguyên tắc, con
dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa
thuận khác.
Ngoài ra, để bảo vệ quyền và lợi ích của con đặc biệt là con chưa
thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, pháp luật
quy định sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,
giáo dục, nuôi dưỡng.
Footer Page 7 of 161.
13
1.3.2. Ảnh hưởng của việc ly hôn đối với gia đình và xã hội
1.3.2.1. Ảnh hưởng tích cực của ly hôn
Ly hôn giúp giải phóng chính bản thân vợ chồng và các thành viên khác
trong gia đình và đặc biệt là con cái của họ thoát khỏi cuộc sống chung của
họ đầy mâu thuẫn và bế tắc.
Ly hôn sẽ giúp một trong hai bên hoặc cả hai bên vợ chồng thoát khỏi
sự trói buộc của chính bản thân, thoát ra khỏi mối quan hệ giả dối, hình thức
mà trong đó cá nhân mỗi thành viên đang phải sống và "chịu đựng" lẫn
nhau, không niềm vui, không hạnh phúc thậm chí còn bị bóp méo những tư
tưởng về cuộc sống gia đình, mất dần đi những niềm tin, niềm say mê, yêu
thích cuộc sống, niềm hy vọng vào một tương lai tươi đẹp đang chờ phía trước.
1.3.2.2. Ảnh hưởng tiêu cực của ly hôn
Họ đã làm tiêu hao đáng kể công quỹ của nhà nước.
Nhưng nghiêm trọng hơn là họ đã và đang gieo rắc căn bệnh tâm lý cho con
cái mình đó là bệnh trầm uất, bệnh nghi kỵ, mất niềm tin vào cuộc sống lứa đôi…
phải quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy truyền thống gia đình, giáo dục
tầng lớp trẻ sống có trách nhiệm với chính bản thân, với gia đình và xã hội.
2.2. Thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.2.1. Nhận xét chung
Quận Hai Bà Trưng là một quận nội thành của thành phố Hà Nội với địa
bàn rộng, dân cư đông lại trong quá trình đô thị hóa nhanh, tình hình kinh tế
phát triển năng động và đa dạng. Bên cạnh những thuận lợi để phát triển
kinh tế, trên địa bàn quận vẫn còn tồn tại nhiều các tệ nạn xã hội, các vụ án
về HN&GĐ mà TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết nhiều hơn so
với một số đơn vị quận, huyện khác trong địa bàn thành phố Hà Nội.
Trong những năm gần đây, số lượng các vụ việc về ly hôn được TAND
quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết tương đối lớn và ngày càng có chiều
hướng gia tăng với các nguyên nhân mà các đương sự đưa ra ngày càng đa
dạng hơn. Có thể thấy được điều này qua số liệu sau:
Bảng 2.1: Thống kê các vụ việc về ly hôn được TAND
quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết từ năm 2008 đến năm 2011
Năm
Số vụ án thụ lý (vụ)
2008
516
2009
556
2010
614
2011
738
9,6 %
38,1 %
50,1 %
11,8 %
35,3 %
56 %
8,7 %
34,5 %
54 %
11,5 %
Nguồn: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết ngành
Tòa án từ năm 2008 đến năm 2011, Hà Nội
2.2.2.3. Về thành phần xã hội
Trong các báo cáo thống kê số liệu của TAND quận Hai Bà Trưng cũng
cho thấy trong tình hình ly hôn về thành phần xã hội, việc ly hôn diễn ra ở
mọi đối tượng, thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội như: Cán bộ, công
chức, viên chức, công nhân, hưu trí, buôn bán dịch vụ, nội trợ… Qua một
cuộc điều tra xã hội nhỏ và cuộc phỏng vấn tự do tại 3 phường Bạch Mai,
Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm, kết quả như sau:
Bảng 2.4: Số lượng người được phỏng vấn tự do của tác giả luận văn
thực hiện tại 3 phường Bạch Mai, Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm
quận Hai Bà trưng
Nghề nghiệp
Phường
Bạch Mai
Phỏng
Ngô Thị
Tổng số
vấn tự do
Nhậm
8
8
33
5
2
16
7
1
19
3
1
8
2
0
7
25
12
83
Header Page 9 of 161.
2.3. Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.3.1. Một số nguyên nhân khách quan
2.3.1.1. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
17
nghĩa với bản chất của nó mà là hành vi có tính chất vụ lợi được núp dưới
hình thức tình cảm hôn nhân để đạt được mục đích tầm thường và thấp hèn.
2.3.1.4. Về tình yêu cảm tính
Tình yêu cảm tính là một nguyên nhân gián tiếp của tình trạng ly hôn.
Thực tế cho thấy không chỉ có ở thanh niên quận Hai Bà Trưng nói riêng mà
ngay cả thanh niên ở Hà Nội nói chung cho thấy họ đến với nhau, tìm hiểu
một thời gian không nhiều chỉ một, hai tháng đã đi đến kết hôn. Điều đó xuất
phát từ tình yêu hời hợt, nông cạn nhất thời của hai bên. Họ chỉ thiên về hình
thức bên ngoài và yêu theo cảm tính như người đó đẹp trai, xinh gái hay có
duyên, vui tính… Hay một số nam thanh niên đến với tình yêu như một sự
thách thức có người yêu để bằng bạn bằng bè, coi nó như một món ăn tinh thần.
2.3.1.5. Các nguyên nhân khách quan khác
Ngoài những tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, ảnh
hưởng của cơ chế thị trường, tình yêu thực dụng hay tình yêu cảm tính thì
tình trạng ly hôn diễn ra ngày càng nhiều còn xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác, đó có thể là do sự khác biệt về tôn giáo, nguồn gốc gia đình, về
lối sống hay một số gia đình vẫn còn mang tư tưởng phong kiến, tập quán lạc
hậu, mâu thuẫn giữa mẹ chồng, nàng dâu, hay giữa anh, chị, em chồng với
chị em dâu, hay giữa những chị em dâu với nhau, thậm chí do điều kiện hoàn
cảnh của chiến tranh, lịch sử để lại… cũng là một trong những nguyên nhân
làm phát sinh tình trạng ly hôn hiện nay trên địa bàn Quận.
2.3.2. Một số nguyên nhân chủ quan
Theo báo cáo tổng kết của TAND quận Hai Bà Trưng năm 2010 -2011
thì ly hôn trên địa bàn quận tập trung trên các nguyên nhân chủ quan sau:
mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập, ngược đãi; ngoại tình; bệnh tật, không có
con; do nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; mâu thuẫn kinh tế…
Như vậy, các hình thức biểu hiện của mâu thuẫn trong gia đình rất đa dạng,
phức tạp, từ nặng đến nhẹ, từ thái độ khó chịu, im lặng, giận dỗi đến phản ứng ra
liên quan đến kinh tế. Kinh tế tăng trưởng, thu nhập cao làm cải thiện cuộc
sống gia đình nhưng đồng thời trong nhiều gia đình chính yếu tố kinh tế lại
là nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn gia đình hay nói cách khác đó là "sự va
chạm đồng tiền và cách làm ăn".
2.3.2.4. Một bên tham gia các tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là hiện tượng bao gồm những hành vi sai lệch với chuẩn
mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối
với đời sống xã hội, có nhiều loại tệ nạn nhưng rượu chè, cờ bạc, nghiện hút
là các tệ nạn xã hội mà phần lớn các gia đình có chồng hoặc vợ rơi vào tình
Footer Page 10 of 161.
19
trạng này đều phải tiếp nhận sự bất ổn về nhiều mặt trong gia đình "rượu vào
thì lời ra", các hành vi, quan hệ ứng xử nói chung của kẻ nghiện rượu dễ trở
lên mất thăng bằng thiếu tế nhị và nặng nề thô bạo.
Theo Báo cáo tổng kết năm 2010 của TAND quận Hai Bà Trưng số vụ
án ly hôn thụ lý về nguyên nhân do cờ bạc, rượu chè, nghiện hút là 41 vụ và
năm 2011 là 66 vụ án. Có thể nói, tệ nạn xã hội không chỉ ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe, đạo đức con người, ảnh hưởng đến trật tự xã hội mà nó còn
làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.
2.3.2.5. Xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong những nguyên nhân thuộc nhóm nguyên nhân xuất phát từ bản
thân người vợ, chồng thì việc bị xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình
sự cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn. Trường hợp
một bên vợ hoặc chồng bị xứ lý trách nhiệm hình sự thì cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến cuộc sống của gia đình bởi khi bị xử lý hình sự thì những
người thân của họ cũng phải gánh chịu con mắt không thiện cảm của mọi
người xung quanh, muốn rũ bỏ cái tiếng là gia đình có người bị pháp luật
quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội
2.4.1. Các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội
2.4.1.1. Áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
TAND quận Hai Bà Trưng khi giải quyết các vụ việc ly hôn đều áp
dụng Luật HN&GĐ năm 2000 giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do hôn
nhân, trong đó đảm bảo quyền ly hôn của vợ chồng. Trong đó áp dụng quy
định tại Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị quyết số 02/2000/NQHĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, bởi vậy khi có
các căn cứ luật định: Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được và vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất
tích, TAND sẽ giải quyết cho các bên được ly hôn.
2.4.1.2. Đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân
dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai
Bà Trưng luôn xác định rõ quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ
chồng. Dù ly hôn do một bên yêu cầu hay thuận tình ly hôn thì khi giải quyết ly
hôn TAND quận Hai Bà Trưng vẫn phải đảm bảo đúng đường lối vừa tôn trọng
quyền ly hôn của vợ chồng, vừa đảm bảo giải quyết các vụ án ly hôn một
cách chính xác, không mắc sai lầm trong quyết định cho phép vợ chồng ly hôn.
Footer Page 11 of 161.
21
- Thuận tình ly hôn
Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ chồng cùng yêu cầu chấm dứt
hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng.
Khi vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý đơn
và tiến hành thủ tục hòa giải, mục đích là để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và
Header Page 12 of 161.
Chương 3
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC LY HÔN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 để giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
3.1.1. Thuận lợi
Trong những năm qua TAND quận Hai Bà Trưng luôn đảm bảo 100% số
thẩm phán tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do TANDTC tổ chức cho các
thẩm phán Tòa án địa phương và giới thiệu các văn bản mới về luật HN&GĐ và
các văn bản pháp luật có liên quan trong việc giải quyết các vụ án về HN&GĐ.
Trong công tác xét xử, TAND quận Hai Bà Trưng đã làm cố gắng áp
dụng đúng các quy định của pháp luật HN&GĐ, pháp luật dân sự và áp dụng
thực hiện những hướng dẫn của TAND tối cao trong việc áp dụng giải quyết
các vụ án ly hôn cụ thể.
3.1.2. Khó khăn
Hậu quả mà ly hôn để lại trước hết là sự khủng hoảng tinh thần của các
thành viên trong gia đình. Trong lòng họ những vết thương hầu như không
bao giờ lành sẹo. Ly hôn gây ra sự đảo lộn trong cuộc sống. Sự xáo trộn
trong sinh hoạt sẽ nẩy sinh trong tâm hồn họ những phản ứng tiêu cực dẫn
tới việc chống đối lại cuộc sống hiện tại.
3.3. Một số giải pháp hạn chế ly hôn
3.3.1. Giải pháp trong lĩnh vực pháp luật
Thứ nhất, cần cụ thể hóa hơn nữa các quy định của pháp luật.
Thứ hai, hoàn chỉnh hệ thống chính sách pháp luật nhất là Luật HN&GĐ
để có thể vận dụng một cách có hiệu quả trong đời sống, hạn chế bớt những
của mình. Chính vì vậy mà trước kia quan niệm về hôn nhân của các bậc làm
3.2. Sự cần thiết phải hạn chế ly hôn
Nhìn chung khi cuộc hôn nhân đã chấm dứt bằng sự chia tay của đôi vợ
chồng do bất kỳ nguyên nhân nào cũng kéo theo những hậu quả đáng buồn.
Footer Page 12 of 161.
23
Thứ sáu, Bộ Tư pháp, TANDTC nên triển khai thành lập một Tòa chuyên
trách xét xử các vụ án HN&GĐ, độc lập với Tòa dân sự.
3.3.2. Giải pháp về mặt xã hội
24
Header Page 13 of 161.
cha làm mẹ trước hết phải tìm nơi "môn đăng hộ đối" tiếp sau đó là "Công,
dung, ngôn, hạnh" đối với con dâu. Nếu chọn con rể thì phải "khỏe mạnh, có
chữ nghĩa, đạo đức tốt, làm ăn giỏi".
3.3.3. Giải pháp từ mỗi cá nhân
Gia đình là một trong những phạm trù của xã hội mà ở đó các thành
viên là hạt nhân cơ bản trong việc tạo lập cuộc sống gia đình, gia đình tốt thì
xã hội mới tốt. Thực tế mọi sự cố gắng của cộng đồng, của gia đình bạn bè
cũng không thể có kết quả như chính những người trong cuộc không tự cố
gắng cứu vãn cuộc hôn nhân của mình. Hạnh phúc của mỗi gia đình không
tự nở hoa kết trái nếu tình yêu không được vun xới từng ngày cũng như đời
sống vợ chồng không phải là một màn kịch để chúng ta khi không thích vai
chính này có thể thay bằng một vai chính khác.
nhất cho một cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ nhưng bên cạnh đó ly hôn
cũng đem lại những bi kịch cho mỗi cá nhân mà đối tượng chịu nhiều hậu
quả thiệt thòi nhất là phụ nữ và trẻ em. Chính vì vậy mà HN&GĐ luôn là
vấn đề được Nhà nước và toàn xã hội quan tâm. Bởi lẽ, gia đình là tế bào của
xã hội, là tổ ấm của con người do đó xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng,
tiến bộ, hạnh phúc luôn là vấn đề cơ bản và cấp bách, đó cũng là mục tiêu
được đặt ra và ghi nhận tại Điều 1 của Luật HN&GĐ năm 2000: "Góp phần
xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây
dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và
phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây
dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững".
Đề tài "Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000"
không chỉ có ý nghĩa phản ánh các đặc điểm tiêu cực và tích cực của ly hôn
hiện nay trên địa bàn quận Hai Bà Trưng mà qua đó còn giúp cho bản thân
mỗi người cần có một cách nhìn đúng đắn về quan hệ HN&GĐ, để từ đó
sống có ý nghĩa và trách nhiệm hơn với bản thân, với gia đình và toàn xã hội.
Đề tài luận văn chủ yếu nghiên cứu dưới hai góc độ xã hội và pháp lý
kết hợp với thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn tại TAND quận Hai Bà
Trưng để từ đó tìm hiểu một số vướng mắc hạn chế trong quá trình áp dụng
Luật giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội, từ đó đưa ra những kiến nghị, những giải pháp hạn chế ly hôn tại
khu vực quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
26