Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trung cấp nghề trong dạy học môn máy điện tại trường cao đẳng nghề thái bình - Pdf 42

LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm thông tin – Thư viện và
các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kỹ thuật – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
quan tâm, tạo điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
của mình.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn trân trọng, lòng biết ơn sâu sắc nhất tới
PGS.TS. Đặng Văn Nghĩa khoa Sư phạm kỹ thuật. Người đã dành nhiều thời
gian, tâm sức chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành bản luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Cao đẳng nghề Thái Bình cùng
các Thầy, Cô giáo trong trường, đặc biệt là các Thầy, Cô khoa Điện – Điện tử
và học sinh các lớp Trung cấp nghề Điện công nghiệp K8.A 1, K8.A2 đã nhiệt
tình giúp tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ, động viên
tác giả!
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả
Phạm Quang Duy

1


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

STT

Viết tắt

Viết đầy đủ


6

GS

Giáo sư

7

GV

Giáo viên

8

HS

Học sinh

9

NXB

Nhà xuất bản

10

KT

Kỹ thuật



4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1.1. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và nhu
cầu lao động của xã hội hiện nay.
Hội nghị Trung ương 8 khóa XI Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Hà
Nội đã ra nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2014 về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong phần mục tiêu tổng quát đã chỉ
rõ: “...Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất
tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân...” Điều đó cho thấy đường lối
phát triển của nền giáo dục Việt Nam hiện nay rất coi trọng yếu tố sáng tạo
trong mỗi con người.
Ngày nay, trên thế giới khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ làm ảnh
hưởng đến tất cả các lĩnh vực như: Nghiên cứu khoa học, sản xuất, đời sống...
Có thể nói, tất cả các sản phẩm được tạo ra đều có sự đóng góp không nhỏ
của khoa học công nghệ hiện đại. Để có thể tiếp thu những thành tựu mới của
khoa học và kỹ thuật, góp phần cải tiến và phát triển các sản phẩm kỹ thuật
mới cần có những con người hiểu biết và biết cách sáng tạo. Ở nước ta, sự
phát triển của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với những ảnh hưởng của nó, sẽ tạo ra nhiều
cơ hội nhưng đồng thời đặt ra những yêu cầu đối với giáo dục trong việc đào
tạo lực lượng lao động. Đó là đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với sự
phát triển của xã hội, của khoa học công nghệ hiện đại với những năng lực
như: Năng lực hành động, năng lực sáng tạo, tính linh hoạt, tính trách nhiệm,
năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp trong
mọi tình huống.
Do vậy, việc tìm ra các biện pháp nhằm đào tạo những con người có năng

nhập quốc tế” đã khẳng định: “...Giáo dục đại học và giáo dục nghề chưa đáp
6


ứng nhu cầu xã hội, chưa gắn với yêu cầu sử dụng nhân lực; chưa chú trọng
giáo dục kỹ năng thực hành nghề nghiệp. Phương pháp dạy học chậm đổi
mới, chưa thực sự phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh
viên. Phương pháp và hình thức đánh giá kết quả còn lạc hậu, phương tiện
giảng dạy thiếu thốn...”
Việc dạy và học môn Máy điện trong các trường nghề hiện nay nói
chung và trường CĐN Thái Bình cũng nằm trong nhận định trên. Cụ thể:
- Việc dạy học vẫn tập trung vào việc truyền thụ hệ thống tri thức được
quy định sẵn dựa trên cơ sở các khoa học chuyên ngành, ít chú ý đến rèn
luyện tính tích cực, tính độc lập sáng tạo cũng như khả năng vận dụng các tri
thức đó vào thực tiễn. Phương pháp dạy học chủ yếu là lấy giáo viên làm
trung tâm, người thầy đóng vai trò chính trong việc truyền đạt kiến thức cho
học sinh, dạy học theo phương pháp chủ đạo là thông báo tri thức, do vậy học
sinh tiếp thu tri thức một cách thụ động, máy móc. Các phương pháp dạy học
để phát huy tính tính cực của học sinh chưa được quan tâm đúng mức.
- Việc học tập của học sinh mang tính chất đối phó với các kỳ thi, dẫn
tới xu hướng học tủ, học lệch. Việc kiểm tra đánh giá chậm đổi mới, chủ yếu
tập trung kiểm tra việc tái hiện tri thức của học sinh ở một số phần, một số
môn học do vậy không đánh giá được năng lực vận dụng tri thức một cách
sáng tạo vào thực tiễn.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Phát triển Tư duy sáng tạo cho học
sinh Trung cấp nghề trong dạy học môn Máy điện tại trường Cao đẳng
nghề Thái Bình” để làm luận văn.

7



8


6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp, nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học.
7. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc nội dung chính của đề tài gồm
3 chương, cụ thể:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển tư duy sáng tạo cho học
sinh học nghề.
Chương II: Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Trung cấp nghề trong dạy
học môn Máy điện tại trường CĐN Thái Bình.
Chương III: Thực nghiệm và đánh giá.

9


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH HỌC NGHỀ
1.1 . LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Trên thế giới

Sáng tạo là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong đời sống con
người. Nó được coi là hoạt động đặc biệt và là biểu hiện cao nhất của đời

toán học Hy Lạp Pappos. Ông sống vào thế kỉ thứ 3 tại thành phố Alexandria
thuộc Hy Lạp cổ. Pappos gọi khoa học này là Ơrixtic (Heuristic) có gốc là từ
Ơrica (Eurica – Tìm ra rồi). Theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơrixtic là nhà khoa
học về các phương pháp và qui tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh
vực khoa học kĩ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán học, quân
sự… Nhưng do cách tiếp cận quá chung và chủ yếu do không có nhu cầu xã
hội, Ơrixtic bị quên lãng cho đến thời gian gần đây cùng với cuộc cách mạng
KHKT, từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, số lượng bài toán phức
tạp mà loài người cần giải quyết tăng nhanh đồng thời yêu cầu thời gian giải
các bài toán này phải rút ngắn lại. Trong khi đó không thể tăng mãi phương
tiện và số người làm công tác KHKT. Thêm nữa cho đến nay và tương lai khá
xa sẽ không có công cụ nào thay thế được bộ óc TDST khiến người ta nhớ lại
Ơrixtic và đặt vào nó nhiều hy vọng tìm ra cách tổ chức hợp lý, nâng cao hiệu
quả quá trình TDST – công nghệ làm sáng chế, phát minh.
Một hướng khác trong Ơrixtic nghiên cứu các quy luật phát triển tiến
hóa của các hệ thống kỹ thuật nhằm đưa ra phương pháp luận mới đó là lý
thuyết giải các bài toán sáng chế (TRIZ) với hạt nhân là Algôrit giải các bài
toán sáng chế (ARIZ) do Genrikh Saulovich Altshuller là tác giả. Ông bắt đầu
nghiên cứu, xây dựng lý thuyết này từ năm 1946. Ông đã viết hàng chục
quyển sách và khoảng 400 bài báo về các vấn đề liên quan đến khoa học
11


TDST, ngoài ra ông đã tìm được nguyên tắc giải bài toán sáng chế - TRIZ.
Mới đây hội TRIZ được thành lập và dự định sẽ ra tờ tạp chí riêng về hướng
khoa học này. Theo bài báo “Có một khoa học như thế” của Phan Dũng trên
trang web http:/cstc.vn thì trong vòng 10 năm (1972 – 1981) đã có khoảng
7000 người tốt nghiệp các trường sáng tạo sáng chế.
Hiện nay, TRIZ phát triển mạnh đã và đang được nhiều nước trên thế
giới quan tâm như: Mỹ du nhập TRIZ từ năm 1991; các nước khác như Anh,

Cambridge và sau đó là trung tâm nghiên cứu tư duy (Centre for the Study of
Thinking). Từ năm 1977, tại đại học Malta, Edward de Bono khởi xướng đào
tạo thạc sỹ nghệ thuật về sáng tạo và đổi mới (MA in Creativity and
Innovation).” [7, tr 55].
Ở Anh, khi người ta bắt đầu dạy chương trình sáng tạo tại trường kinh
doanh Manchester năm 1972 ngoài ra chưa một trường đại học Tây Âu nào
triển khai các chương trình tương tự. Các hiệp hội, mạng lưới về sáng tạo
được thành lập ở nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới. Chỉ riêng mạng
lưới sáng tạo quốc tế (Internation Creativity Network), trụ sở liên lạc ở Mỹ,
tuy mới thành lập nhưng đã có hơn 300 hội viên ở hơn 25 nước. Các hội nghị
về khoa học sáng tạo cũng được tổ chức thường xuyên. Riêng năm 1990 đã có
7 hội nghị như vậy. Năm 1994 từ ngày 10 đến 13 tháng 8 đã có một hội nghị
quốc tế tại Quesbec.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta môn khoa học mới mẻ này lần đầu tiên xuất hiện ở TP HCM
và thực sự bắt đầu vào cuối thập niên 70 của thế kỉ XX. Ban đầu còn mang
tính tự phát nhưng đến khi nhà vật lý trẻ tuổi Phan Dũng tốt nghiệp ở Liên
Xô, nay là PGS - TSKH Phan Dũng giám đốc Trung tâm sáng tạo Khoa học
kĩ thuật (TSK) Đại học tổng hợp TP HCM, đã không bỏ lỡ cơ hội theo học
khóa học đầu tiên của trường Đại học đầu tiên ở Liên Xô giảng dạy bộ môn
13


“Phương pháp luận sáng tạo” vào năm 1971 do chính Genrikh Saulovich
Altshuller đề xuất khóa học và cũng là người hướng dẫn. Hiểu rõ tầm quan
trọng của môn khoa học này đối với tương lai phát triển của đất nước, sau khi
về nước năm 1977, Phan Dũng đã tổ chức dạy cho sinh viên khoa Tự nhiên
thuộc Đại học Quốc gia TP HCM dưới dạng ngoại khóa và đến tháng 4 năm
1991 ông đã thành lập Trung tâm sáng tạo KHKT viết tắt TSK thuộc Đại học
Quốc gia TP HCM. Đó là tổ chức đầu tiên ở nước ta dạy và nghiên cứu về

hưởng ứng.
3. Dạy và học những phương pháp TDST. Cho đến nay đã mở được một
số lớp tại TP HCM và Hà Nội. Qua kinh nghiệm của các nước tiên tiến và
kinh nghiệm thực tế ở nước ta thì hình thức này là hình thức tốt nhất để lĩnh
hội và áp dụng vào cuộc sống, công tác.
Gần đây, trong khuôn khổ các chương trình khoa học công nghệ cấp nhà
nước và trong đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, viện
Khoa học giáo dục là cơ quan khoa học đầu tiên quan tâm đến vấn đề nghiên
cứu sự sáng tạo của học sinh/ sinh viên. Ngoài ra đã có một số luận văn thạc
sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh vực này.
Tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, PGS.TS Nguyễn Văn Khôi đã có
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ nghiên cứu về vấn đề sáng tạo đó là “Vận
dụng một số phương pháp sáng tạo công nghệ trong dạy học kĩ thuật”, đã vận
dụng một số phương pháp sáng tạo công nghệ trong dạy học nhằm nâng cao
chất lượng dạy học môn Phương pháp dạy học Kỹ thuật Công nghiệp.
Trong dạy học kĩ thuật, đã có nhiều tác giả nghiên cứu phát triển tư duy
sáng tạo và vận dụng vào dạy học như "Dạy học thực hành Kĩ thuật điện tử
cho sinh viên cao đẳng Lí – Kĩ thuật công nghiệp theo định hướng sáng tạo kĩ
thuật" của tác giả Phạm Thị Kim Huệ, "Phát triển tư duy sáng tạo kĩ thuật
trong dạy học Trang bị điện ở trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc"
15


của tác giả Nguyễn Thị Hiền, "Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong
dạy học môn Công nghệ 11 ở trường trung học phổ thông" của tác giả Trần
Thị Kim Thoa... vào một số nội dung cụ thể.
Tuy vậy, việc sử dụng các phương pháp phát triển TDST vào dạy học
môn học cụ thể như môn học Máy điện chưa được nghiên cứu. Vì vậy, việc
nghiên cứu các phương pháp sáng tạo kỹ thuật trong dạy học Máy điện nhằm
phát triển TDST cho học sinh học nghề là một vấn đề mà tác giả quan tâm và

với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất.
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của
vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao.
* Đặc điểm của tư duy
Tư duy có những đặc điểm sau [19, tr 25]:
- Tính có vấn đề của tư duy.
Muốn kích thích được tư duy phải đồng thời có 2 điều kiện sau:
+ Phải gặp hoàn cảnh (tình huống) có vấn đề, là tình huống chứa đựng mục
đích mới, một vấn đề mới, đòi hỏi phải có cách thức giải quyết mới. Như vậy,
muốn giải quyết vấn đề đó phải tìm ra cách giải quyết mới, tức là phải tư duy.
+ Tình huống có vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được
chuyển thành nhiệm vụ của cá nhân, tức cá nhân phải xác định được cái gì
(dữ kiện) đã biết, đã cho và cái gì còn chưa biết, phải tìm; đồng thời phải có
nhu cầu, (động cơ) tìm kiếm nó. Những dữ kiện quen thuộc hoặc nằm ngoài
tầm hiểu biết của cá nhân thì tư duy cũng không xuất hiện.
- Tính gián tiếp của tư duy.
Tư duy phát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng và quy luật giữa
chúng nhờ sử dụng công cụ, phương tiện (máy đo) và các kết quả nhận thức
(quy tắc, công thức, quy luật,...) của loài người và kinh nghiệm cá nhân. Tư
duy được biểu hiện trong ngôn ngữ.
17


- Tính trừu tượng hóa và khái quát hóa.
Tư duy phản ánh cái bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật hợp thành
một nhóm, một loại, một phạm trù (khái quát), đồng thời xuất khỏi sự vật đó
những cái cụ thể, cá biệt.
- Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
Tư duy trừu tượng, gián tiếp, khái quát nên phải dùng ngôn ngữ làm
phương tiện.

Tư duy gồm các thao tác sau:
- Phân tích tổng hợp
- So sánh
- Trừu tượng hóa và khái quát hóa
* Phân tích tổng hợp:
- Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia các đối tượng nhận
thức thành các bộ phận, thành phần khác nhau.
- Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được
tách rời nhờ phân tích một chỉnh thể.
Như vậy, phân tích và tổng hợp có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau tạo nên sự thống nhất không thể tách rời nhau được. Để phân tích một
vấn đề sẽ được tiến hành dựa trên cơ sở của tổng hợp và tổng hợp một vấn đề
dựa trên cơ sở phân tích vấn đề đó.
* So sánh
So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác
nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau
giữa các đối tượng nhận thức (sự vật, hiện tượng).
* Trừu tượng hóa và khái quát hóa

19


- Trừu tượng hóa là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những
thuộc tính, những liên hệ, quan hệ thứ yếu , không cần thiết và chỉ giữ lại
những yếu tố cần thiết cho tư duy.
- Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng
khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ,
quan hệ chung nhất định.
Nhận thấy, trừu tượng hóa và khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau
như quan hệ phân tích và tổng hợp nhưng ở mức độ cao hơn.

mệnh đề) phản ánh đúng hoặc sai thực tế khách quan. Có phán đoán đúng
hoặc phán đoán sai” [19,tr 30].
* Suy luận:
“Suy luận là một hình thức của tư duy là một quá trình tư tưởng trong
đó rút ra phán đoán mới từ một hay một số phán đoán ban đầu mà giá trị chân
thực của nó đã được chứng minh.
Thực chất của suy luận là dựa trên những tri thức đã biết chắc chắn (các
phán đoán đã được chứng minh) liên kết chúng theo một cách thức nhất định
(các qui tắc, các kiểu suy luận) để tạo ra các tri thức mới (các phán đoán mới)
mà trước đây không biết.
Cấu trúc của suy luận gồm 3 thành phần: Tiền đề, lập luận và kết luận.
Chỉ khi nào dựa vào tiền đề chân thực và lập luận đúng thì mới có kết luận
đúng và chân thực” [19, tr 30].
d. Cơ chế hoạt động và tính độc lập tương đối của tư duy
Cơ chế hoạt động của tư duy dựa trên hoạt động sinh lí của bộ não với
tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Vì vậy tư duy không thể tách rời bộ
não nhưng tư duy cũng không hoàn toàn gắn với một bộ não nhất định.
Hơn nữa, quá trình giao tiếp của con người đã khiến tư duy của từng
người biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân đồng thời cũng chịu sự
21


tác động biến đổi từ tư duy của những người khác thông qua hoạt động vật
chất. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá nhân mà còn gắn
với sự tiến hóa của toàn xã hội.
Như vậy, tư duy được tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư
duy lại có tính độc lập tương đối. Tính độc lập của tư duy vừa làm cho nó có
được tính tích cực, sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức, vừa là điều kiện
nguồn gốc làm cho tư duy dần dần xa rời hiện thực khách quan. Để khắc phục
mặt trái này của tư duy, người ta thường sử dụng thực tiền để kiểm tra, kiểm

tưởng hoặc giả thiết, thử nghiệm ý tưởng này đến kết quả... kết quả này có ít
nhiều mới mẻ, có chút ít cái gì đó trước đây con người chưa bao giờ nhìn
thấy, chưa có ý thức về nó”[17, tr 67]. Bên cạnh đó tác giả M.Willson cũng
định nghĩa “Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần
thiết từ các ý, các dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay
tập hợp những yếu tố khác nhau” [29, tr 44]. Như vậy ở góc độ này, sáng tạo
là một quá trình (có mở đầu, diễn biến, kết thúc) và sản phẩm tạo ra mang tính
mới mẻ và độc đáo.
*Dưới góc độ sản phẩm:
Theo Ghiselin “Sản phẩm sáng tạo là cấu dạng mới nhất của thế giới
kinh nghiệm, được tạo nên bằng sự cấu trúc lại những kinh nghiệm đã có
trước đó, thể hiện rõ nhất sự nhận thức của chủ đề sáng tạo về thế giới và bản
thân cũng như quan hệ giữa anh ta với thế giới ấy” [17, tr 168].
Một trong những tiêu chí để đánh giá một cá nhân sáng tạo là thông qua
sản phẩm của hoạt động cá nhân. Sản phẩm được gọi là sáng tạo khi nó mới,
độc đáo và có giá trị. Người ta coi đó là tiêu chí để phân biệt giữa sản phẩm
sáng tạo hay không sáng tạo. Hạn chế của tác giả này là chỉ bàn đến sản phẩm
sáng tạo ở dạng vật chất. Khắc phục hạn chế đó, Guilforld đã khẳng định :

23


Sản phẩm sáng tạo bao gồm sản phẩm sáng tạo cụ thể có thể cảm nhận được
và sản phẩm sáng tạo có thể tồn tại dưới dạng sản phẩm của tư duy – ý tưởng.
Như vậy, nếu sản phẩm được tạo ra là mới, độc đáo, có giá trị thì được
gọi nó là sản phẩm sáng tạo. Điều này chứng minh rằng: sáng tạo không chỉ
có ở những thiên tài, bác học, mà nó thuộc về tất cả mọi người, kể cả những
người bình thường nhất. Luận điểm này phù hợp với quan điểm của
L.X.Vưgôtxki mà tác giả đề cập đến ở trên.
* Dưới góc độ nhân cách:

Như vậy sáng tạo là đặc trưng riêng của từng người. Mỗi người đểu có
khả năng sáng tạo, mang đặc trưng riêng trong công việc, mỗi lĩnh vực nhất
định, ngay ở trong mỗi người khả năng sáng tạo ở những lĩnh vực khác nhau
cũng khác nhau. Do đó, không thể đánh giá một người sáng tạo hay không
sáng tạo khi không xét trong một hoạt động cụ thể. Hơn nữa sáng tạo là tổ
hợp các thuộc tính phẩm chất độc đáo của cá nhân, nên cần có sự tham gia
của quá trình nhận thức (tri giác, tư duy kĩ thuật, tưởng tượng kĩ thuật, trí
nhớ). Các thuộc tính này không phải là sự cộng lại mà là sự tương tác giữa
các thuộc tính để tạo nên một con người sáng tạo. Sản phẩm của sự sáng tạo
là sản phẩm mamg tính mới và tính ích lợi:
- Tính mới: Là bất kỳ sự khác biệt nào của đối tượng cho trước so với
đối tượng tiền thân của nói (đối tượng cùng loại ra đời trước nó về mặt thời
gian). Để có được sự sáng tạo, tính mới phải đem lại lợi ích không phải mới
để mà mới.
- Tính ích lợi: Là do tính mới tạo ra có thể rất đa dạng như tăng năng suất,
hiệu quả; tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu; giảm giá thành; có thêm chức
năng mới; sử dụng thuận tiện hơn; thân thiện hơn với môi trường; tạo thêm được
các xúc cảm , thẩm mĩ tốt… Lưu ý, tính ích lợi chỉ thể hiện ra khi đối tượng cho
trước làm việc theo đúng chức năng và trong phạm vi áp dụng của nó.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status