BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-----&-----
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CỘNG TÁC VIÊN THANH TRA
CHUYÊN MÔN CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
Chuyên ngành:Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Quang Tuấn
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành chương trình khóa
học Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục tại Khoa Quản lý giáo dục - Đại
học Sư phạm Hà Nội và hoàn thành luận văn “Quản lý đội ngũ Cộng tác viên
thanh tra chuyên môn cấp THPT tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020”.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến lãnh đạo khoa, các thầy cô
giáo Khoa Quản lý giáo dục - Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng
dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin
chân thành cảm ơn TS Tạ Quang Tuấn người thầy đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin được trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán
bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương; lãnh đạo nhà trường và các thầy
GD&ĐT
HĐGD
HĐTTGD
QLGD
QLNN
THCS
THPT
TTV
UBND
GV
GD
ĐHSP
HĐSP
PCGD
GDTX
GDPT
TCCN
Viết đầy đủ
Cán bộ quản lý
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Xã hội chủ nghĩa
Cộng tác viên thanh tra
Thanh tra giáo dục
Thanh tra chuyên môn
Giáo dục và đào tạo
Hoạt động giáo dục
Hoạt động thanh tra giáo dục
Quản lý giáo dục
Quản lý nhà nước
của Cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế
độ”. “Công việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII về “Định hướng chiến lược phát triển Giáo dục & Đào tạo trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã khẳng định những thành tích to lớn và
những yếu kém tồn tại của ngành GD&ĐT trong những năm qua. Để phát huy
những thành tích đã đạt được và khắc phục những hạn chế, bất cập Nghị quyết
đã chỉ ra là: cần phải “Hoàn thiện hệ thống thanh tra giáo dục (TTGD), tăng
cường cán bộ thanh tra, tập trung vào thanh tra chuyên môn”. Nghị quyết cũng
chỉ rõ: “Công tác quản lý GD&ĐT có những mặt yếu kém bất cập. Công tác
TTGD còn yếu kém, thiếu những biện pháp hữu hiệu để kiểm tra đánh giá chất
lượng đào tạo; chậm phát hiện và thiếu nghiêm túc trong xử lý và khắc phục các
biểu hiện tiêu cực trong ngành GD&ĐT” [9]. Những quan điểm chỉ đạo của
Đảng đã tạo những định hướng để GD&ĐT phát triển nhanh, mạnh, bền vững
góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
Lực lượng thanh tra trong đó có đội ngũ cộng tác viên thanh tra hoạt
động hiệu quả sẽ góp phần quan trọng thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng, kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khoá XI)
và Nghị quyết số 37 của Quốc hội về giáo dục nhằm: Nâng cao nhận thức, thống
1
nhất hành động, tăng cường QLNN về Luật Giáo dục, thiết lập trật tự, kỷ cương
giáo dục, thực hiện một cách có hiệu lực Luật Thanh tra, tăng cường bộ máy
TTGD các cấp, coi trọng phát triển lực lượng cả về số lượng và chất lượng, nâng
cao trách nhiệm, đổi mới phương thức hoạt động, phát huy hiệu quả công tác
thanh tra để nâng cao hiệu lực quản lý; quy định trách nhiệm cụ thể và tăng thêm
quyền của TTGD trong việc xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra. Bổ sung biên chế
và nâng cao chất lượng đội ngũ thanh tra viên, đồng thời phát triển chương trình
lượng. Để khắc phục những tồn tại, nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động thanh tra
trong thời gian tới, Sở GD&ĐT Hải Dương cần phát triển đội ngũ CTVTT đủ
mạnh về số lượng và chất lượng đổi mới hơn nữa về công tác quản lý đội ngũ
CTVTT.
Với những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Quản lý đội ngũ
cộng tác viên thanh tra chuyên môn cấp THPT tỉnh Hải Dương giai
đoạn 2015-2020" nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn bất cập, đề
xuất một số biện pháp mang tính thực tế, khả thi nhằm củng cố, phát triển về
số lượng; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ giúp cho công tác thanh tra của Sở
GD&ĐT Hải Dương ngày càng hiệu quả góp phần đổi mới công tác quản lý,
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng công tác quản lý đội
ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn THPT tỉnh Hải Dương, luận văn đề xuất
biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ CTVTT chuyên môn THPT tỉnh Hải
Dương, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục cũng như nâng cao
chất lượng dạy và học ở các trường THPT tỉnh Hải Dương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động thanh tra chuyên môn THPT
* Khách thể khảo sát
3
- Hoạt động thanh tra chuyên môn tại các trường THPT tỉnh Hải Dương.
- 68 cán bộ quản lý, 58 CTVTT và 58 giáo viên tại các trường THPT
tỉnh Hải Dương
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp quản lý đội ngũ CTVTT chuyên môn THPT tỉnh Hải Dương
4. Phạm vi nghiên cứu
7.2.2. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Khảo sát các kết
quả quản lý đội ngũ CTVTT chuyên môn THPT tỉnh Hải Dương.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn lấy ý kiến của các chuyên
gia, các thanh tra viên, các cán bộ quản lý trường học, cán bộ giáo viên về
hoạt động và đội ngũ CTV thanh tra chuyên môn.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia
đánh giá về công tác quản lý đội ngũ CTV thanh tra chuyên môn THPT tỉnh
Hải Dương.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê để tổng hợp kết quả điều tra và xử lý số liệu thu được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung
chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ cộng tác viên thanh tra
chuyên môn THPT
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ cộng tác viên thanh tra
chuyên môn THPT tỉnh Hải Dương
Chương 3: Biện pháp quản lý đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên
môn THPT tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CỘNG TÁC VIÊN THANH
TRA CHUYÊN MÔN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Vài nét sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về quản lý nhân lực giáo dục
Đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, con người được coi là một “tài
nguyên” đặc biệt, một nguồn lực quan trọng của sự phát triển. Chính vì lẽ đó,
lực và đề xuất sự vận dụng với những giải pháp rất sáng tạo vào hoàn cảnh
thực tế của Việt Nam.
Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, Tại trường Đại học sư
phạm Hà Nội, những luận văn thạc sĩ gần đây được công bố cũng đã đề xuất
được những giải pháp khả thi về quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo
viên ở từng cấp học, bậc học, tại những địa bàn cụ thể, như: Dương Đức
Hùng (2002), Hoàng Quốc Huy (2005), Phạm Văn Thuần (2005), Trần Quốc
Thắng (2005), Nguyễn Xuân Trường (2006), Nguyễn Hữu Chương (2006),
Nông Như Ngà (2007), Nguyễn Thị Chi Mai (2007), Đào Thị Hồng Thủy
(2008), Lê Gia Thanh (2010)…
1.1.2. Các nghiên cứu về quản lý đội ngũ CTVTT chuyên môn cấp THPT
Trong sự nghiệp cách mạng của nước ta, Đảng và Nhà nước luôn coi
trọng và đặt thanh tra vào vị trí quan trọng. Chỉ sau tuyên ngôn độc lập 2
tháng, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64-SL,
thành lập Ban thanh tra đặc biệt, đó là sắc lệnh lịch sử đối với ngành Thanh
tra, đồng thời điều đó cũng nói lên sự quan tâm của Đảng, của Bác Hồ đối với
công tác Thanh tra.
Nhìn lại quá trình hoạt động Thanh tra Giáo dục (TTGD), từ khi có Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của
7
Đảng, Bộ Giáo dục, nay là Bộ GD&ĐT đã có Quyết định 1019/QĐ-BGD ngày
29/10/1988 ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống TTGD.
Ngày 28/9/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị định
358/NĐ-HĐBT về tổ chức và hoạt động của TTGD. Sau đó Bộ GD&ĐT đã
ban hành Quyết định 478/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/3/1993 ban hành Quy chế tổ
chức và hoạt động của hệ thống thanh tra GD&ĐT. Tháng 12/1998, Luật Giáo
dục nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành, tại mục 4
chương VII từ điều 98 đến điều 103 đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách
thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [36].
- Tác giả Vũ Ngọc Hải: “Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc
nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết
quả mong muốn” [39].
- Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và
hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý,
phù hợp với qui luật khách quan” [33].
- Còn tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực
của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành
tựu của xã hội” [31].
- Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo cho
rằng: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý nhằm mục tiêu đề ra" [5].
Từ các khái niệm trên, và xét quản lý với tư cách là một hành động, ta
có thể khái niệm quản lý ngắn gọn như sau: Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục
tiêu đã đề ra.
11
1.2.2. Quản lý đội ngũ (nguồn nhân lực)
Quản lý đội ngũ là một quá trình bao gồm thu nhận, sử dụng và phát
triển lực lượng lao động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu tổ chức.
Các hoạt động chủ yếu quản lý nguồn nhân lực gồm: Kế hoạch hóa nguồn
nhân lực, tuyển chọn-sử dụng-bồi dưỡng-phát triển nguồn nhân lực, kiểm tra
hoạt động, điều chỉnh, đề bạt, luân chuyển hoặc thải hồi.
Theo Leonard Nadlerd (Mỹ), nhiệm vụ của quản lý nguồn nhân lực bao gồm:
hoạt động, các trạng thái vận hành của hệ đúng tiến trình, đúng kế hoạch. Khi
cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng không làm thay đổi mục
tiêu hướng vận hành của hệ nhằm nắm vững mục tiêu chiến lược đã đề ra.
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Nhiệm vụ của kiểm tra nhằm đánh giá
trạng thái của hệ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt
tới mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động,
tìm nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ra những
bài học kinh nghiệm.
Theo lý thuyết hệ thống (Cyberneticque): Kiểm tra giữ vai trò liên hệ
nghịch, là làm trái tim mạch máu của hoạt động quản lý:
Chỉ đạo
Tổ chức
thực hiện
Thôn
g tin
Kiểm tra,
đánh giá
Lập kế
hoạch
Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ các chức năng quản lý
13
1.2.5. Các nguyên tắc quản lý
Trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hóa, Giáo dục...)
mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý thường vận
Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
1.3. Thanh tra chuyên môn và cộng tác viên thanh tra chuyên môn
1.3.1. Thanh tra và hoạt động thanh tra giáo dục
1.3.1.1. Khái niệm thanh tra
Khái niệm thanh tra đã có từ lâu trong xã hội; xã hội càng phát triển thì
nhận thức về nội hàm và nội dung của nó càng phong phú và hoàn thiện hơn.
Theo từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, với
nghĩa thứ nhất: thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa
phương, cơ quan, xí nghiệp; với nghĩa thứ hai: thanh tra để chỉ nghề nghiệp,
là tên gọi chức danh của những người làm nhiệm vụ thanh tra.
Từ điển Luật học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988. “Thanh tra là sự
tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao
nhằm đạt được mục đích nhất định - Sự tác động có tính trực thuộc” .
Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị tại hội nghị thanh tra toàn miền Bắc lần thứ
nhất năm 1957 đã nói: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới;
theo dõi chỉ thị, chính sách, thông tư đưa xuống cho đến lúc kết thúc” [29].
Trong Pháp lệnh thanh tra ghi rõ: “Thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ
quan QLNN, là phương thức đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong QLNN,
thực hiện quyền dân chủ XHCN”.
Theo Luật Thanh tra năm 2010 thì: ‘Thanh tra là việc xem xét, đánh giá,
xử lý của cơ quan QLNN đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục
được quy định trong luật này và các quy định khác của pháp luật...” [18].
15
Từ những luận điểm được nêu trên, ta có thể hiểu: Thanh tra là một dạng
hoạt động, là một chức năng của QLNN, được thực hiện bởi chủ thể quản lý có
thẩm quyền, nhân danh quyền lực nhà nước, nhằm tác động đến đối tượng quản
- Kiểm tra và chấm bài theo quy định.
- Tham gia sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn.
- Bảo đảm thực hành thí nghiệm.
- Tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng nghiệm vụ.
- Thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm.
* Kết quả giảng dạy.
- Điểm kiểm tra hoặc kết quả đánh giá môn học (lưu ý: có môn học
không cho điểm, chỉ đánh giá kết quả học tập bằng nhận xét) của học sinh từ
đầu năm học đến thời điểm thanh tra.
- Kết quả kiểm tra khảo sát chất lượng học sinh của cán bộ thanh tra.
- Kết quả kiểm tra chất lượng csác lớp giáo viên dạy so với chất lượng
chung của toàn trường, của địa phương trong năm học đó.
- So sánh với kết quả học tập các năm học trước: tỷ lệ lên lớp, tốt
nghiệp, học sinh giỏi và mức độ tiến bộ so với lúc nhận lớp.
* Việc thực hiện các nhiệm vụ khác
- Công tác chủ nhiệm (nếu có).
- Thực hiện các công tác khác do trường phân công.
1.3.1.4. Hình thức thanh tra giáo dục
Theo quy định chung của pháp luật về thanh tra, có hai hình thức thanh
tra như sau:
- Thanh tra định kỳ: Thanh tra định kỳ là hoạt động mang tính thường
xuyên, liên tục, được triển khai theo quy định hoặc kế hoạch thanh tra do cơ
quan chủ quản trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là Sở GD& ĐT xây dựng
trong từng quý, từng năm và có thông báo trước cho các cơ quan, tổ chức và
cá nhân có hoạt động hoặc liên quan đến lĩnh vực được thanh tra.
17
- Thanh tra đột xuất: Đây là hình thức thanh tra được tiến hành khi cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc
huống cụ thể mà lựa chọn, sử dụng và phối hợp để đạt hiệu quả cao nhất trong
hoạt động thanh tra.
- Phương pháp kiểm tra: Đây là một hình thức đo lường chất lượng
bằng các hình thức: Kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra thực hành....
một số môn học ở các lớp khá, trung bình, yếu. Kiểm tra những kiến thức cơ
bản theo yêu cầu tối thiểu, có câu hỏi phụ để phân loại chất lượng học sinh
giỏi, khá,....
- Phương pháp tham gia các hoạt động cụ thể: Dự các giờ sinh hoạt
lớp, các hoạt động ngoài giờ....làm căn cứ để đánh giá.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và đối chiếu với thực tế:
Qua các số liệu đã tập hợp được, người thanh tra phải phân tích tổng hợp đối
chiếu các văn bản, tài liệu với thực tế để tìm ra thông tin chính xác nhất trong
quá trình đánh giá đối tượng.
Ngày nay, ngoài các phương pháp kể trên, những người làm công tác
thanh tra còn sử dụng nhiều phương pháp khác như xử lý bằng máy tính, toán
học, lôgic học…
Không có phương pháp nào là vạn năng và chiếm địa vị độc tôn, mỗi
phương pháp đều có mặt mạnh, mặt yếu và tác dụng của chúng cũng khác
nhau tuỳ thuộc vào đối tượng, tình huống cụ thể.
Trình độ hoàn thiện và mức độ hiệu quả của việc lựa chọn, vận dụng
các phương pháp TTGD còn phụ thuộc vào mức độ phù hợp của chúng với
những cơ sở khoa học, trình độ phát triển của đối tượng thanh tra.
1.3.2. Vai trò của thanh tra giáo dục trong quản lý giáo dục
Mục 2 Điều 1 Nghị định 85/2006/NĐ-CP ngày 18/08/2006 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục ghi rõ: “TTGD thực hiện
19