Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG

GIÁO DỤC Ý THỨC
BẢO VỆ ĐƢỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƢƠNG CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG

GIÁO DỤC Ý THỨC
BẢO VỆ ĐƢỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƢƠNG CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Quang Hiển


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DHLS

: Dạy học lịch sử

UBND

: Uỷ Ban Nhân dân

GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

PPDHLS

: Phương pháp dạy học lịch sử

THPT

:Trung học phổ thông

ii


MỤC LỤC



2.1. Những yêu cầu chung khi xây dựng nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường
biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học
sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn............................................................ 40
2.2. Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc
trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng
Sơn ....................................................................................................................... 41
2.2.1. Bảo vệ cương vực quốc gia ....................................................................... 41
2.2.2. Tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ đường biên, mốc quốc giới ............................ 42
2.2.3. Tăng cường giao lưu chính trị, trao đổi, hợp tác kinh tế, quốc phòng – an
ninh và văn hoá – du lịch giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc ..................... 45
2.2.4. Giúp đỡ các lực lượng chức năng bảo vệ biên giới .................................. 51
2.2.5. Nêu cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu, hoạt động
phá hoại, vi phạm chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trong
khu vực biên giới đất liền .................................................................................... 53
2.2.6. Phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống tội phạm và các tệ
nạn xã hội ............................................................................................................ 53
2.2.7. Giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về nền quốc phòng toàn
dân và an ninh nhân dân cho học sinh THPT ..................................................... 54
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VÀ THỰC NGHIỆM SƢ
PHẠM ................................................................................................................. 56
3.1. Mô ̣t số yêu cầ u chung................................................................................... 56
3.1.1. Xác định đúng những kiến thức cơ bản cần giáo dục ............................... 56
3.1.2. Đảm bảo tính khoa học và tính tư tưởng ................................................... 58
3.1.3. Đảm bảo tính cụ thể, hình ảnh, giàu biểu tượng lịch sử ........................... 59
3.1.4. Phát huy tính tích cực của học sinh ........................................................... 60
3.1.5. Sử dụng đa dạng các biện pháp trong từng bài giảng ............................... 61
3.2. Một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung
Quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh THPT tỉnh Lạng Sơn ...... 62

bảo vệ biên giới ................................................................................................... 44
Hình 2.3. Biên phòng Lạng Sơn và biên phòng Trung Quốc trong một buổi .... 49
tuần tra chung ...................................................................................................... 49
Hình 2.4. Giao lưu văn nghệ thanh niên Việt – Trung........................................ 50
Hình 3.1. Cột mốc 1116 ...................................................................................... 76

vi


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược đang đặt ra
những yêu cầu về xây dựng con người mới có phẩm chất tốt và năng lực cao.
Học sinh, sinh viên chính là người chủ tương lai của đất nước, do vậy cần phải
tăng cường hơn nữa công tác giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho đối
tượng này. Một trong những nhiệm vụ quan trọng ở các học viện, các trường đại
học ngoài quân đội, các trường Trung học phổ thông là giáo dục cho mọi người
nhận thức sâu sắc đặc điểm tình hình, yêu cầu mới về quốc phòng, nâng cao ý
thức cảnh giác, xây dựng lòng tin vào bản lĩnh con người Việt Nam, tự hào về
truyền thống dân tộc, chủ động chuẩn bị, sẵn sàng đối phó có hiệu quả với mọi
tình huống.
Trong Chỉ thị về tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giáo dục và
Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xây dựng và đưa vào
chương trình giảng dạy nội dung bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới
quốc gia cho học sinh, sinh viên các trường trung học phổ thông, trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học. Sau nhiều năm diễn ra tranh luận trên các
diễn đàn khoa học về việc nên hay không đưa vào chương trình, sách giáo khoa
nội dung giảng dạy về chủ quyền lãnh thổ, vấn đề này đã được khẳng định rõ.
Việc tiếp theo là triển khai thực hiện cho phù hợp để người học thực sự hứng

Nam, thì việc giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh ở nhà trường về mối quan hệ
hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng là hết sức quan trọng và cần thiết. Đặc
biệt là mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay.
Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá
trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại
giữa hai nước, đã làm cho quan hệ Việt - Trung trở nên vô cùng phức tạp và
nhạy cảm. Có thể tóm gọn mối quan hệ Việt - Trung trong sáu chữ "vừa hợp tác,
vừa đấu tranh".
Như vậy, việc đưa nội dung giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm
của học sinh về ý thức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới lãnh thổ Việt Nam –
2


Trung Quốc trong dạy học Lịch sử ở các trường Trung học phổ thông là hết sức
quan trọng và cần thiết.
Tuyến biên giới Lạng Sơn (Việt Nam) - Quảng Tây (Trung Quốc) có vị trí
chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an
ninh, đối ngoại của hai Nhà nước. Nhận thức được việc xây dựng đường biên
giới hòa bình, hữu nghị với nước láng giềng là việc làm quan trọng, thời gian
qua lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn và Công an Biên phòng, Bộ đội
Biên phòng Quảng Tây, Trung Quốc đã quán triệt nghiêm túc thỏa thuận hợp tác
biên phòng, thực hiện tốt về hợp tác quốc phòng và đối ngoại, góp sức xây dựng
tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc hòa bình, hữu nghị.
Xuất phát những những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục ý
thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa
phương cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài cho luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quốc gia hình thành bởi ba thành tố cơ bản là lãnh thổ, nhà nước và dân
cư. Trong đó, yếu tố biên giới - lãnh thổ là nền tảng đầu tiên. Bản chất vấn đề

phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Cuốn Giáo dục quốc phòng – an ninh lớp 11 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã cung cấp cụ thể về vấn đề biên giới lãnh thổ và bảo vệ biên giới quốc gia
nhằm hình thành cho học sinh THPT ý thức về chủ quyền lãnh thổ, ý thức bảo
vệ biên giới quốc gia. Trong cuốn sách này, các tác giả đã khẳng định rằng:
“Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững sự ổn định
chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất
nước. Vì vậy, xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước, của toàn dân, trước hết là chính quyền nhân dân khu vực biên
giới và các lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Bộ đội Biên phòng làm nòng
cốt, chuyên trách trong quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia” [2; tr.38]. Các tác giả
của cuốn sách cũng đưa ra những nội dung cốt lõi để xây dựng và quản lí, bảo
vệ biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: “Biên giới
4


là bờ cõi, là tuyến đầu của Tổ quốc và là cửa ngõ để giao lưu giữa các quốc gia.
Khu vực biên giới là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh của mỗi quốc
gia”. Đồng thời các tác giả cũng nhấn mạnh: “Xây dựng khu vực biên giới có
quan hệ chặt chẽ với quản lí, bảo vệ biên giới. Chỉ có xây dựng biên giới, khu
vực biên giới vững mạnh mới tạo điều kiện, cơ sở cho quản lí, bảo vệ biên giới
quốc gia; giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa hoạt động xâm nhập, phá hoại
từ bên ngoài, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước láng giềng, tạo môi
trường thuận lợi cho xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ Quốc”. [2,
tr.40]
Trong chương trình Sách giáo khoa môn Lịch sử THPT, nội dung giáo
dục ý thức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Việt Nam – Trung Quốc không
được viết thành một bài học riêng, mà được lồng ghép trong một số nội dung
như: các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thời kì Bắc thuộc; cuộc kháng

hợp tác giữa các địa phương giáp biên của Việt Nam với Trung Quốc và một số
giải pháp” của tác giả Phạm Lan Hương đã có một cái nhìn khái quát về tình
hình biên giới giữa các tỉnh giáp biên với Trung Quốc ổn định, góp phần duy trì
môi trường hoà bình, ổn định, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,
đóng góp quan trọng vào xây dựng đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc hoà
bình, hữu nghị, ổn định và phát triển.
Với chủ đề giáo dục ý thức bảo vệ biên giới nói chung, ý thức bảo vệ chủ
quyền biển đảo Tổ quốc đã có một số công trình nghiên cứu như: Dấu ấn Việt
Nam trên biển Đông của tác giả Trần Công Trục (2011) đã nhấn mạnh vị trí vai
trò của biển Đông trong lịch sử dân tộc. Tác phẩm đề cập đến những định nghĩa
mang tính chuyên ngành về nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế, thềm lục địa và chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
quốc gia. Một quốc gia ven biển như Việt Nam song song với việc giữ chủ
quyền trên đất liền là nhiệm vụ giữ chủ quyền trên “lãnh hải” hay còn gọi là
“vùng nước lãnh thổ”. Chủ quyền này được mở rộng và áp dụng đối với cả vùng
trời trên lãnh hải, cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy của lãnh hải.
Tác giả Vũ Quang Hiển có bài viết Chủ trương của Đảng và Nhà nước
Việt Nam về kết hợp phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo (1986
6


– 2007) nhấn mạnh về giá trị chiến lược của biển đảo Việt Nam: “Biển, đảo có
vị trí rất quan trọng, không chỉ với phát triển kinh tế - xã hội, mà cả với quốc
phòng – an ninh. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ
một địa bàn sống, địa bàn phát triển kinh tế, mà còn là bảo vệ một địa bàn chiến
lược lợi hại, nằm trong thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân bảo
vệ Tổ quốc” [14, tr.3].
Viết về chủ đề chủ quyền biển, đảo của Tổ Quốc có tác giả Đậu Thị Hải
Vân với luận văn “Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ Quốc cho học
sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10, Trung học phổ thông (chương trình

trách nhiệm bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc đề tài xây
dựng nội dung và đề xuất một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên
giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh
Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn nhằm đảm bảo hoà bình, hữu nghị, thúc đẩy
sự hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội… giữa hai quốc
gia Việt Nam – Trung Quốc ở hiện tại và tương lai.
4.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ biên giới lãnh
thổ nói chung, bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc nói riêng và
những yêu cầu khi xây dựng nội dung và biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ
đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho
học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện đưa nội dung giáo dục ý
thức bảo vệ biên giới lãnh thổ nói chung, bảo vệ đường biên giới Việt Nam –
Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh THPT.
- Nghiên cứu nội dung phần Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc,
xây dựng nội dung và đề xuất biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới
Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh THPT.
- Thực nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, khả thi của việc xây dựng nội dung
và đề xuất biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung
Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh THPT tỉnh Lạng Sơn.

8


5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận: dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về lịch sử, giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

vệ đường biên giới lãnh thổ nói chung, bảo vệ đường biên giới lãnh thổ hoà
bình, hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc nói riêng cho học sinh THPT qua dạy
học Lịch sử địa phương tỉnh Lạng Sơn.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: làm phong phú thêm lí luận PPDHLS nói chung, đa
dạng hơn nội dung dạy học môn Lịch sử nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên môn Lịch
sử ở các trường THPT, sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm, Đại
học Giáo dục; và bản thân tác giả luận văn vận dụng trong quá trình DHLS ở
trường THPT.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ
đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử cho học sinh THPT
Chương 2: Một số nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới
Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Trung
học phổ thông tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Một số biện pháp giáo dục và thực nghiệm

10


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC
BẢO VỆ ĐƢỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH THPT
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Ý thức
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó
là hình thức cao của sự phản ánh, của hiện thực khách quan, hình thức mà riêng

Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh
thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”. [31, tr. 1]
Biên giới quốc gia trên đất liền là biên giới phân chia chủ quyền lãnh thổ
đất liền của một quốc gia với quốc gia khác. Nó được hoạch định và phân giới
cắm mốc thông qua đàm phán thương lượng với các nước có chung biên giới.
Tuyến biên giới đất liền: Biên giới Việt Nam – Trung Quốc dài 1.306 km
đã được hai nước kí kết Hiệp ước biên giới quốc gia trên đất liền, trong năm
2008 đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc và kí Hiệp định quy chế quản lí
biên giới.
1.1.4. Cách xác định biên giới quốc gia
Mỗi loại biên giới quốc gia được xác định theo các cách khác nhau. Riêng
đối với biên giới quốc gia trên đất liền được hoạch định và đánh dấu trên thực
địa bằng hệ thống mốc quốc giới. Nguyên tắc chung hoạch định biên giới quốc
gia trên đất liền bao gồm:
- Biên giới quốc gia trên đất liền được xác định theo các điểm (toạ độ,
điểm cao), đường (đường thẳng, đường sống núi, đường cái, đường mòn), vật
chuẩn (cù lao, bãi bồi).
- Biên giới quốc gia trên sông suối được xác định:
Trên sông mà tàu thuyền đi lại được, biên giới được xác định theo giữa
lạch của sông hoặc lạch chính của sông.

12


Trên sông, suối mà tàu thuyền không đi lại được thì biên giới theo giữa
sông suối đó. Trường hợp sông, suối đổi dòng thì biên giới vẫn giữ nguyên.
Biên giới trên cầu bắc qua sông, suối được xác định chính giữa cầu,
không kể biên giới giữa sông, suối như thế nào.

Hiểu theo nghĩa trừu tượng, địa phương là những vùng đất, khu vực nhất định
được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống địa giới hành
chính) để phân biệt với các vùng khác như: miền Bắc, miền Trung, miền Nam,...
Vậy lịch sử địa phương chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh,
thành phố hay khu vực, vùng miền. Cụ thể hơn, đó chính là lịch sử quá trình
hình thành, tồn tại và phát triển của địa phương trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ quê hương. Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn
vị hành chính, các trường học, cơ quan, xí nghiệp...
Trong dạy học lịch sử, chúng ta có thể sử dụng tài liệu lịch sử địa phương
theo hai hình thức. Có thể đưa tài liệu – sự kiện lịch sử địa phương vào bài giảng
lịch sử dân tộc để minh hoạ, liên hệ, đối chiếu, so sánh; qua đó giúp học sinh
hiểu sâu sắc, cụ thể những sự kiện. Hoặc tiến hành dạy học lịch sử địa phương
thành một tiết riêng theo qui định của chương trình hoặc tổ chức các hoạt động
ngoại khoá về lịch sử địa phương. Việc lựa chọn hình thức dạy học lịch sử địa
phương phải căn cứ vào nội dung kiến thức bài học, điều kiện phương tiện giảng
dạy ở nhà trường, đặc điểm tâm lý của học sinh và gắn mục tiêu giáo dưỡng –
giáo dục bài học với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.
Việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương đòi hỏi người giáo viên
không chỉ có những hiểu biết cơ bản, đúng đắn về lịch sử thế giới, lịch sử dân
tộc, phương pháp luận sử học và các phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể mà
còn phải biết tổ chức nghiên cứu, biết làm công tác quần chúng phục vụ nghiên
cứu, biết xử lý, xác minh, giám định các nguồn sử liệu địa phương.
1.1.6. Vai trò của dạy học lịch sử địa phương trong chương trình giáo dục
Từ thời cổ đại, Xi–xê-rông – một chính trị gia nổi tiếng của Rô ma cổ đã
nói: ”Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”. Chính vì lẽ đó, sự hiểu biết về lịch sử
dân tộc còn bao hàm cả sự am tường cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết

14





các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các khái niệm lịch sử,
nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát.
Thứ ba, việc giảng dạy lịch sử địa phương có thể làm cho học sinh nắm
vững hơn khái niệm khoa học hiện đại của hệ thống “Tự nhiên – con người – xã
hội”. Thấy được vai trò của con người tác động đến việc cải tạo và chinh phục tự
nhiên một cách hợp quy luật, giúp các em hình dung cụ thể vai trò con người
trong mối quan hệ với môi trường xung quanh, ý nghĩa đầy đủ về trách nhiệm
bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa địa phương… Đặc biệt, với những di tích lịch
sử, với các nguồn tư liệu lịch sử xác thực, lịch sử địa phương tạo cơ hội để tổ
chức dạy học theo các phương pháp tích cực, phương pháp nghiên cứu, góp
phần hình thành các kĩ năng tự học, tự khai thác thông tin về lịch sử cho học
sinh. Đây chính là những yêu cầu rất quan trọng đối với mục tiêu dạy học lịch sử
của chương trình và sách giáo khoa mới.
Thứ tư, dạy học lịch sử địa phương góp phần phát triển các năng lực
hoạt động thực tiễn. Cụ thể như: các em tham gia thiết kế, xây dựng các đồ
dùng trực quan phục vụ cho dạy học lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc (vẽ
bản đồ, sơ đồ, đắp sa bàn, phục chế hiện vật…), khả năng miêu tả công trình
kiến trúc, giải thích một hiện tượng lịch sử địa phương…, kỹ năng thói quen
tích cực tham gia hoạt động thực tiễn, công ích xã hội như sưu tầm tài liệu
lịch sử địa phương, tuyên truyền và có hành động cụ thể, thiết thực giữ gìn
các giá trị văn hóa của địa phương. Do đó, “nghiên cứu, học tập lịch sử địa
phương cũng là một biện pháp tích cực để thực hiện việc gắn liền nhà trường
với đời sống xã hội”.
Thứ năm, những kết quả dạy và học lịch sử địa phương của giáo viên và
học sinh còn có ý nghĩa động viên, tuyên truyền, giáo dục nhân dân và trong
chừng mực nhất định còn góp phần phục vụ những nhiệm vụ chính trị, những
mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Điều này đã được đồng chí Phạm
Văn Đồng khẳng định: “… Giáo dục phổ thông, ngay cả phổ thông cơ sở, bằng

Bình vào năm 1083 và 1084 giữa triều đình nhà Lý của Việt Nam và triều đình
nhà Tống của Trung Quốc để bàn bạc về vấn đề biên giới và xác định đường
biên giới chung của hai nước. Và cũng từ đây, cha ông ta lại càng tăng cường ý
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status