MỤC LỤC
(PISA)
I.
TỔNG QUAN VỀ PISA
1.1.
−
PISA là gì?
PISA là viết tắt của “The Programme for International Student Assessment” Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do Hiệp hội các nước phát triển
(OECD) khởi xướng và chỉ đạo, nhằm tìm kiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu
quả – chất lượng của hệ thống giáo dục của mỗi nước tham gia, qua đó rút ra các
−
bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.
PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm một lần. Đối tượng đánh giá là học sinh
trong độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc
gia. PISA hướng vào các trọng tâm về chính sách, được thiết kế và áp dụng các
phương pháp khoa học cần thiết để giúp chính phủ các nước tham gia rút ra các
−
bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.
Ý tưởng bắt đầu từ năm 1997 nhưng cuộc điều tra đầu tiên được tiến hành vào
năm 2000, phải mất 3 năm để xây dựng và thống nhất các tiêu chí và cách thức
điều tra. Và kể từ đó đến nay đã có 5 cuộc điều tra, lần cuối vào năm 2012. Cứ
phải sau một năm kể từ ngày điều tra, vào lúc 10 giờ sáng giờ Paris ngày 04
tháng 12, kết quả điều tra sẽ được công bố trên toàn thế giới.
gia tham gia.
PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì (3 năm một lần) tạo điều kiện cho các
quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt
−
được các mục tiêu giáo dục cơ bản.
Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá về
năng lực phổ thông của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc
−
ở hầu hết các quốc gia.
Tính độc đáo của PISA cũng thể hiện ở những vấn đề được xem xét và đánh giá:
+
Chính sách công (public policy).
+
Hiểu biết phổ thông (literacy).
+
Học tập suốt đời (lifelong learning).
1.4.
Những năng lực được đánh giá trong chương trình PISA.
Năng lực toán học (mathematic literacy)
lực toán học là năng lực nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học
trong cuộc sống; là khả năng lập luận và giải toán; khả năng học và vận dụng
kiến thức toán nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách
−
linh hoạt.
Năng lực của học sinh được hình thành qua việc học toán nhằm đáp ứng với
−
những thách thức của đời sống hiện tại và tương lai.
Năng lực phân tích, lập luận và trao đổi thông tin một cách hiệu quả thông qua
việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống và
−
hoàn cảnh khác nhau.
Năng lực toán học được thể hiện ở 3 nhóm (cấp độ):
+
Nhóm 1: Tái hiện (lặp lại).
+
Nhóm 2: Kết nối và tích hợp.
+
Phản hồi và đánh giá.
Năng lực khoa học (science literacy)
biết các vấn đề khoa học: đòi hỏi học sinh nhận biết các vấn đề mà có thể
được khám phá một cách khoa học, nhận ra những nét đặc trưng chủ yếu của
việc nghiên cứu khoa học;
3
−
Giải thích hiện tượng một cách khoa học: học sinh có thể áp dụng kiến thức
khoa học vào tình huống đã cho, mô tả, giải thích hiện tượng một cách khoa học
và dự đoán sự thay đổi;
− Sử dụng các chứng cứ khoa học, lí giải các chứng cứ để rút ra kết luận.
1.4.4.
Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving)
− Là khả năng sử dụng kiến thức của một cá nhân trong quá trình nhận thức và
giải quyết các vấn đề thực tế. Thông qua những tình huống rèn luyện trí óc, yêu
cầu học sinh phải biết vận dụng, phối hợp các năng lực đọc hiểu, làm toán và
−
khoa học để đưa ra các giải pháp thực hiện.
Hiện mới thực hiện 1 lần duy nhất vào năm 2003
1.5.
−
1.7.
Các nội dung đánh giá của PISA qua các kỳ.
Năm 2000
Năm 2003
Năm 2006
Năm 2009
Năm 2012
Năm 2015
Đọc hiểu
Đọc hiểu
Đọc hiểu
Đọc hiểu
Đọc hiểu
Đọc hiểu
Toán học
−
−
Khảo sát của PISA.
PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm/lần.
Đối tượng đánh giá là học sinh trung học trong độ tuổi 15.
Việc đánh giá được thực hiện ở 03 lĩnh vực kiến thức chính là đọc hiểu, toán học
và khoa học; đồng thời học sinh và nhà trường sẽ trả lời 01 phiếu hỏi về điều
−
kiện, hoàn cảnh.
Mỗi kì đánh giá sẽ có một lĩnh vực kiến thức được lựa chọn để đánh giá sâu
−
hơn.
Trong mỗi chu kỳ đánh giá, mỗi quốc gia có khoảng từ 4.500 đến 50.000 học
−
sinh được chọn để tham gia đánh giá theo cách chọn mẫu ngẫu nhiên.
Việc lấy mẫu được tiến hành theo phương pháp phân tầng 2 cấp (chọn trường ở
cấp quốc gia và chọn học sinh ở cấp trường) dựa trên các bằng chứng chính xác
về tuổi và nơi đang học. Điều này đòi hỏi các quốc gia tham gia PISA phải có
một hệ thống dữ liệu chính xác và đầy đủ về học sinh và nhà trường của
mình.
5
+
Đợt 1: PISA chính thức dành cho các nước thành viên OECD.
+
Đợt 2 (thông thường sau 1 năm): PISA bổ sung (PISA Plus hay PISA+) dành
cho các nước không phải là thành viên OECD.
−
Đối tượng đánh giá: học sinh độ tuổi 15
+
Học sinh thuộc nhiều lớp học và năm học khác nhau
−
Kích cỡ mẫu đánh giá: tối thiểu 5.250 học sinh
+
150 trường, mỗi trường lấy 35 học sinh (mẫu PISA cho phép từ 20 đến 40
HS/trường).
+
Nếu muốn đánh giá theo tỉnh, cần tối thiểu 50 trường/tỉnh.
−
−
−
−
−
−
−
−
Xây dựng đề thi
Dịch các bộ công cụ khảo sát PISA
Tuyển đội ngũ biên dịch
Kế hoạch biên dịch các tài liệu
Tuyển cán bộ coi thi
Các buổi thi dự phòng
Tuyển cán bộ giám sát chất lượng
An toàn cho đề thi
Tập huấn chấm thi
Nhập dữ liệu
Làm sạch dữ liệu
1.11.
Cơ cấu tổ chức
7
II.
PISA VIỆT NAM
Lần đầu tiên Việt Nam tham gia một kỳ thi mang tính quốc tế lại yêu cầu kỹ
thuật cao và nghiêm ngặt như PISA, Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm tổ
chức và dù đã có một số chuyên gia nhưng lực lượng chuyên gia chuyên nghiệp
(2)
vẫn còn mỏng.
Các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt rất ít, chủ yếu bằng tiếng nước ngoài, là
(3)
khó khăn không nhỏ cho việc tìm hiểu và tiếp cận với PISA lần này.
Việt Nam chưa xây dựng được dữ liệu đầy đủ về các trường có học sinh ở độ
tuổi 15, trong khi đó, Việt Nam có rất nhiều loại hình trường, nhiều tổ chức quản
(4)
lý, do đó rất khó khăn trong công việc chọn mẫu.
Công tác dịch thuật theo yêu cầu của PISA là một vấn đề thách thức đối với đội
(5)
(6)
ngũ dịch thuật của Việt Nam.
Giáo viên và học sinh chưa từng được làm quen với các dạng đề thi của PISA.
Kết quả mỗi đợt đánh giá của PISA sẽ được công khai trên thế giới nên mang
tính nhạy cảm. Nhiều nước đã không tham gia PISA vì không muốn bộc lộ sự
yếu kém về kết quả làm bài của học sinh và thứ hạng thấp trong bảng xếp hạng.
Việc sẵn sàng vượt qua những e ngại trên đã là thách thức đối với Việt Nam.
2.3. Lộ trình thực hiện
−
Các hoạt động chính của PISA 2012:
Năm 2010: Đánh giá các câu hỏi thi PISA 2012 và thực hiện các công việc liên
−
quan đến chọn mẫu; tập huấn kĩ thuật.
Năm 2011: Khảo sát thử nghiệm trên mẫu 40 trường thuộc 9 tỉnh x 35
−
HS/trường.
Năm 2012: Khảo sát chính thức trên mẫu là 5670 hs của 162 trường thuộc 59
2.4.
tỉnh, thành phố. 4 tỉnh không tham gia khảo sát PISA 2012: Điện Biên, Lai
−
Châu, Bắc Cạn, Cần Thơ.
2.5. Quy trình chấm bài thi PISA tại Việt Nam.
Ở Việt Nam năm 2012 có 13 bộ đề thi, mỗi lớp thi chỉ lặp lại 2 em có đề thi
giống nhau. Các em ngồi vị trí thi mà OECD quy định để đảm bảo khách quan
nhất và học sinh không thể trao đổi bài với nhau vì đề thi của mỗi học sinh đều
−
khác nhau.
494
511
17
Đọc hiểu
496
508
19
Khoa học
501
528
8
Lĩnh vực khoa học đạt kết quả cao nhất vì đề thi về lĩnh vực này đã được sử
dụng trong các kì thi trước và có nhiều tình huống quen thuộc như: sữa, ô tô,
sinh vật…Các dạng câu hỏi cũng ở mức độ khó vừa phải nên HSVN đã trả lời
−
rất tốt.
Lĩnh vực đọc hiểu đạt kết quả thấp nhất vì Văn bản mới lạ, nhiều tình huống xa
Như vậy, kết quả thi của Việt Nam khá cao so trong bảng xếp hạng các nước
trên thế giới tham gia kỳ thi PISA 2012, đứng trong top 20 nước có điểm chuẩn
−
các lĩnh vực cao hơn điểm 500.
PISA Việt Nam 2012 đạt được kết quả cao nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Bộ GD
& ĐTvà sự chăm chỉ học tập và chịu khó của thầy trò Việt Nam trong nhiều
−
năm.
Qua đó, có thể thấy năng lực của học sinh Việt Nam có thể đáp ứng được các
−
yêu cầu khung năng lực của OECD trong thời kỳhội nhập quốc tế.
HSVN đã biết vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các tình huống trong
−
bài thi PISA.
Chương trình sách giáo khoa của Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu vềchuẩn
kiến thức, kỹ năng của OECD và của quốc tế.
11
Vận dụng kết quả PISA 2012
Việt Nam sẽ phân tích kỹ báo cáo kết quả PISA 2012 để xác định đúng các yếu
−
Kỳ đánh giá PISA 2012: Học sinh thực hiện 13 mã đề thi và 3 bộ phiếu hỏi. Mỗi
−
−
−
HS làm 1 mã đề thi và 1 mã phiếu hỏi.
Học sinh làm bài thi trong 120 phút, trả lời phiếu hỏi khoảng 40 phút.
Các khái niệm liên quan đến bộ đề thi PISA:
Quyển đề thi (Booklet): Mỗi HS làm 1 mã đề thi, đề thi dày 50-60 trang, đóng
thành quyển gồm nhiều bài thi cả 3 lĩnh vực Toán, Khoa học (KH), Đọc hiểu
−
−
(ĐH).
Cụm bài thi (Cluster):Mỗi quyển đề thi gồm 4 cụm bài thi về Toán, KH, ĐH.
Bài thi (Unit): Mỗi bài thi thường đưa ra các tình huống thực tiễn, sau đó là các
câu hỏi. Có từ 3 đến 5 câu hỏi.
3.1. Các cấp độ câu hỏi đánh giá năng lực Toán học (Mathematic literacy)
− Các câu hỏi ở 3 nhóm (3 cấp độ):
+
Cấp độ 1: Biết và hiểu các kiến thức toán học.
+
3.3. Các
câu hỏi đánh giá năng lực Khoa học (Science literacy) (từ 2012 về
trước)
Các câu hỏi được chia ở 3 nhóm/3 cấp độ:
1. Cấp độ 1. Nhận biết, Hiểu các vấn đề khoa học: HS nhận biết các vấn
đề mà có thể được khám phá một cách khoa học, nhận ra những nét đặc trưng
chủ yếu của việc NC khoa học;
2. Cấp độ 2. Giải thích hiện tượng một cách khoa học: HS có thể áp
dụng kiến thức khoa học vào tình huống đã cho, mô tả, giải thích hiện tượng một
cách khoa học và dự đoán sự thay đổi;
3. Cấp độ 3. Sử dụng các chứng cứ khoa học, lí giải các chứng cứ để rút
ra kết luận.
3.4. Các tình huống,
− Con người
− Nghề nghiệp
− Xã hội
− Khoa học
− Địa lý
− Vật lý
− Hóa học
− Sinh học
− Công nghệ
ngữ cảnh trong đề thi PISA
13
Câu hỏi nhiều lựa chọn đơn giản.
Ví dụ: Xử lý nước uống.
Sơ đồ trên thể hiện việc xử lí nước cung cấp cho các gia đình trong thành phố để có
thể uống được
Câu hỏi 1. Việc làm sạch nước thường phải qua một số bước, bao gồm các kĩ thuật
khác nhau. Quá trình làm sạch như ở sơ đồ trên bao gồm 4 bước. Trong bước 2, nước
được chứa ở bể lắng. Bước này đã góp phần làm nước sạch như thế nào ?
A. Vi khuẩn trong nước bị chết.
B. Oxy được bổ sung vào nước.
C. CSỏi và cát chìm xuống đáy.
D. Các chất độc bị phá hủy.
3.5.2.
Câu hỏi dạng phức hợp.
Câu hỏi 2. Uống nước bị ô nhiễm có thể gây ra những vấn đề về sức khỏe nào sau
đây? Hãy khoanh C (có) hoặc K (không) vào mỗi trường hợp.
15
Uống nước bị ô nhiễm có thể gây ra vấn
đề về sức khỏe sau không ?
Có hay không ?
Các dạng câu hỏi không phải mã hóa.
Câu hỏi nhiều lựa chọn đơn giản hoặc phức hợp. Phương án trả lời của học
sinh được nhập trực tiếp vào phần mềm Keyquest.
3.6.2.
Các dạng câu hỏi mở không mã hóa
− Các câu hỏi yêu cầu trả lời ngắn
− Các câu hỏi yêu cầu trả lời dài
3.6.3.
Hệ thống Mã trong mã hóa Toán, Khoa
− Mã một chữ số: 0, 1, 2, 9
− Mã hai chữ số: 00, 01… 21, 22 …
+
học, Đọc hiểu
Chữ số đầu tiên cho biết mức độ trả lời. Chữ số thứ hai được sử
dụng để mã hóa đặc tính hay xu hướng của câu trả lời.
16
Mã hóa sử dụng hai chữ số có hai ưu điểm chính:
+
•
Thứ 1, chúng ta sẽ thu được nhiều thông tin hơn về việc hiểu và nhận thức chưa
đúng của học sinh, các lỗi thường gặp và các cách tiếp cận khác nhau khi học
sinh giải một bài toán hay trả lời hoặc đưa ra lập luận.
“Mức tối đa” không nhất thiết chỉ là những câu trả lời hoàn hảo hoặc đúng hoàn
toàn. Nhìn chung, việc phân định các mức sẽ chia câu trả lời của học sinh ra
thành ba nhóm dựa vào năng lực của học sinh khi trả lời câu hỏi.
− “Không đạt” không có nghĩa là hoàn toàn không đúng.
3.6.5.
Các mã đặc biệt – Mã 0 (00)
− Mã 0 (hoặc các mã bắt đầu với chữ 0 trong trường hợp mã hai chữ số được áp
dụng) được sử dụng trong trường hợp học sinh đưa ra các câu trả lời nhưng
−
không đủ thuyết phục hoặc không chấp nhận được.
Chú ý rằng với Mã 0 “Các câu trả lời khác” (hoặc 0x đối với mã hóa hai chữ số)
sẽ bao gồm cáccác câu trả lời sau:
+
Một câu trả lời chẳng hạn “Em không biết”, “câu hỏi này quá khó”,
“hết thời gian”, một dấu hỏi chấm hoặc dấu gạch ngang (—);
+
Một câu trả lời được viết ra nhưng sau đó bị tẩy xóa hoặc gạch
chéo, dù cho dễ đọc hay không;
17
Một câu trả lời không thể hiện sự nỗ lực hoặc nghiêm túc khi làm
–
Không nên ‘trừ điểm’ cho mọi lỗi mà bạn thấy.
–
Hãy làm rõvề tầm quan trọng của việc tính toán cho những câu hỏi
này
+
Đối với một số câu hỏi, tính toán chính xác là một yêu cầu
+
Đối với các câu hỏi khác, tính toán chỉ là yếu tố phụ so vớimục
đích chính của câu hỏi.
IV.
ỨNG DỤNG CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ PISA TRONG LĨNH VỰC TOÁN
HỌC
18
4.1. Bài
toán 1: HẢI ĐĂNG
Các ngọn hải đăng là những tháp với một đèn hiệu sáng
12 giây
D.
Cách chấm điểm:
Mức đầy đủ:
Ghi mã 1: Trả lời C: 5 giây
Không tính điểm:
Ghi mã 0: Các câu trả lời khác.
Ghi mã 9: Không có câu trả lời
Loại câu hỏi: Nhiều lựa chọn
Câu hỏi 2: HẢI ĐĂNG
Trong một phút, đèn hải đăng phát ánh sáng bao nhiêu giây?
A.
4
B.
12
C.
20
D.
24
Cách chấm điểm:
Cách chấm điểm:
Mức đầy đủ:
Ghi mã 1: Trả lời C
Không tính điểm::
Ghi mã0: Các câu trả lời khác.
Ghi mã
9:Không có câu trả lời
Loại câu hỏi: Nhiều lựa chọn
Câu hỏi 2: CƯỚC PHÍ
Jan muốn gửi hai bưu phẩm, nặng tương ứng là 40 gram và 80 gram cho
một người bạn.
Theo bảng giá cước bưu phẩm ở Zedland, hãy quyết định liệu gửi hai bưu
phẩm trong cùng một gói rẻ hơn hay là gửi hai bưu phẩm riêng lẻ nhau. Trình
bày tính toán về giá cước cho mỗi trường hợp.
Cách chấm điểm:
Mức đầy đủ:
22
Ghi mã 1
Không tính điểm::
Ghi mã0:Các câu trả lời khác.
Ghi mã
9:Không có câu trả lời
Loại câu hỏi: Câu hỏi mở trả lời ngắn
4.3. Bài
Có /Không
Cách chấm điểm:
Mức Đầy đủ:
Ghi mã 2: Bốn câu trả lời sau chính xác
Thiết kế A:
Có
Thiết kế B:
Không
Thiết kế C:
Có
Thiết kế D:
Có
Mức Không đầy đủ:
Ghi mã 1:
Đúng được 3 câu trả lời đúng.
Không tính điểm:
Ghi mã 0:
8
2
4
3
4
5
THANG ĐIỂM Câu hỏi 1:
Hoàn thành bảng:
N
Số cây táo
Số cây chắn gió
1
1
8
2
4
16