ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
TỤC KÍNH NHỚ TỔ TIÊN
CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO
Ở TRÀ VINH
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Trà Vinh, tháng 12 năm 2015
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN AN
Phản biện 1: .............................................................................
Phản biện 2: .............................................................................
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Văn hóa học họp tại Trường Đại học Trà Vinh
vào ngày … tháng … năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
1
-2Người Việt theo Công giáo ở Trà Vinh có quá trình
di cư song trùng với người Việt di cư đến vùng đất này.
Hiện tại Trà Vinh có khoảng 65 ngàn tín đồ và 41 cơ sở
thờ tự2, cộng đồng này đã có những đóng góp to lớn cho
diện mạo văn hóa xã hội của tỉnh Trà Vinh, đặc biệt là ở
các giáo xứ. Nghiên cứu tục kính nhớ tổ tiên của cộng
đồng Công giáo là điều cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Tục
kính nhớ tổ tiên của người Việt Công giáo ở Trà Vinh”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Hồng Dương (2013), Công giáo trong văn
hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin. Công
trình đã đề cập khá cận kẽ, chi tiết về vấn đề thờ cúng tổ
tiên của người Công giáo. Đây là tập tài liệu quý để luận
văn tiếp cận nội dung nghiên cứu và kế thừa các kết quả
nghiên cứu này.
Nguyễn Hồng Dương, Ngô Quốc Đông (2012),
Công giáo Việt Nam trí thức cơ bản, Nhà xuất bản Từ
điển Bách khoa. Hai tác giả đã có một cống hiến lớn khi
xác định các giai đoạn phát triển của Công giáo ở Việt
Nam; đồng thời khái quát lên những đặc trưng trong các
giai đoạn phát triển này. Vấn đề lịch sử Công giáo được
trình bày cách rõ ràng và khúc chiết. Luận văn dựa trên
cách xác định thời gian này để minh định thời gian du
Sở Nội Vụ, Ban Tôn giáo tỉnh Trà Vinh Thống kê số liệu các tôn giáo trên
vùng ĐBSCL, quá trình hình thành và phát triển cộng đồng
Công giáo ở ĐBSCL, vấn đề bảo lưu và hội nhập của
-4người Việt Công giáo vùng ĐBSCL. Luận văn kế thừa
những kết quả nghiên cứu của công trình để dẫn dắt và
triển khai các nội dung nghiên cứu của mình.
Karl Rahner, Nguyễn Luật Khoa dịch (2010),
Nhân học Kitô, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Công
trình là một bách khoa thư về các vấn đề triết học và giáo
lý của Kitô giáo. Tác giả luận văn tiếp cận công trình này
để lần tìm những luận điểm có liên quan về tục kính nhớ
tổ tiên nhằm làm cơ sở cho những quan điểm của mình.
Trên đây là các công trình mà tác giả luận văn sử
dụng để tiếp cận với nội dung nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Mô tả diễn trình hình thành cộng đồng Công giáo
ở Trà Vinh.
- Nhận diện diện mạo văn hóa, xác định nguồn gốc, vai
trò và ý nghĩa của tục kính nhớ tổ tiên trong đời sống tinh thần
của người Việt theo Công giáo ở Trà Vinh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn xác định các
nhiệm vụ sau:
- Xác định nguồn gốc cộng đồng Công giáo ở
Trà Vinh và quá trình du nhập của Công giáo vào vùng
đất này.
- Nhận diện đặc điểm, vai trò văn hóa của tục kính
nhớ tổ tiên đối với tín đồ Công giáo ở Trà Vinh. Sự tiếp
được trong quá trình thực hiện đề tài để làm cơ sở lý
-6luận và định hướng các nội dung tiếp cận nghiên cứu
phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận văn.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Nhằm lần tìm
các tư liệu có liên quan đến luận văn qua việc thực tế địa
bàn và tham dự các lễ nghi như: đám cưới, đám tang, lễ
Các Đẳng và một số thánh lễ có liên quan; khảo sát và
phỏng vấn các đối tượng như: Linh mục, Ban quới chức,
tín đồ,…
- Phương pháp so sánh: để thấy được sự khác biệt
về vấn đề tôn kính tổ tiên của người Việt Công giáo ở Trà
Vinh; trong đó so sánh lịch đại trước và sau Công đồng
Vatican II có nhiệm vụ quan trọng là làm bật lên sự
chuyển biến về tư duy và quan điểm hoằng đạo trong
tương quan giữa văn hóa dân tộc với giáo lý Công giáo ở
Việt Nam nói chung và Trà Vinh nói riêng.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Tác giả luận
văn sử dụng các kết quả nghiên cứu của các ngành khoa
học gần như: Sử học, xã hội học, địa lý học để xác định
niên đại thời gian, yếu tố địa – văn hóa và khảo sát đối
tượng bằng phiếu điều tra xã hội học với các nội dung liên
quan đến luận văn.
7. Bố cục của Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn có kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Trong chương này, tác giả đề cập đến các khái niệm có
liên quan, khái quát các vấn đề thực tiễn: về cộng đồng
những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã
hội tôn giáo khác nhau. Ví dụ: Trên đất nước Việt Nam có;
Đạo Phật, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hoà hảo,…được
gọi chung là tôn giáo, mỗi tôn giáo đều có giáo lý phù hợp
cho từng tín đồ sùng bái đạo và có những cách thức tổ chức
nghi lễ cúng tế khác nhau”.
1.1.2. Công giáo
Công giáo có nghĩa là chung, là phổ quát
(universal), dành cho hết mọi người người không phân biệt
màu da, tiếng nói và văn hóa. Như vậy từ ngữ “Công giáo”
(Catholicam = catholique = catholic,….) không hề có
nghĩa là cộng đồng (Public).
-91.1.3. Thiên đàng
Thiên đàng là một nơi chốn mà Công giáo chỉ ra cho
con người biết sau khi chết sẽ được hưởng nếu như có một
cuộc đời lành thánh. Trong Luận văn này, tác giả sử dụng
khái niệm “Thiên đàng là tình trạng hạnh phúc tràn đầy và
vĩnh viễn, vì được hiệp thông trọn vẹn với Thiên chúa Ba
ngôi và cộng đồng các thánh”.
1.1.4. Hỏa ngục
Công giáo chỉ ra rằng: Hỏa ngục là án phạt đời đời
bị tách khỏi Thiên chúa dành cho những ai chết trong tình
trạng mắc tội trọng.
1.1.5. Luyện ngục
Công giáo cho rằng: Luyện ngục là tình trạng của
những người chết trong ơn nghĩa Chúa, nhưng cần được
thanh luyện trước khi hưởng hạnh phúc Thiên đàng.
1.1.6. Tổ tiên
nhớ về những người thân trong dòng tộc đã mất theo tinh
thần Kitô giáo.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tỉnh Trà Vinh
Trà Vinh là một tỉnh thuộc Nam Bộ của Việt Nam do
đó lịch sử hình thành vùng đất này gắn liền với quá trình
nam tiến của dân tộc Việt.
Lịch sử Trà Vinh được xác lập trên các căn cứ lịch sử
rõ ràng, qua nhiều lần tách nhập, nhưng về cơ bản thành
phần dân cư ít có sự biến động. Chủ yếu vẫn là bốn tộc
người: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm là chính. Các cộng đồng
tộc người này, có số phận gắn bó mật thiết với lịch sử của
-11vùng đất Trà Vinh từ thuở khai hoang đến thời Gia Long,
Minh Mạng và cho đến thời điểm hiện tại.
Trà Vinh có 4 cộng đồng dân tộc chính: Việt, Hoa,
Khmer và Chăm. Nên có tổ chức xã hội truyền thống theo
từng cộng đồng tộc người riêng biệt.
Đại đa số cư Trà Vinh là cư dân nông nghiệp
điển hình3; nên trong đời sống kinh tế cây lúa và những
cây hoa màu như ngô, khoai, dưa, đậu các loại. Những
cánh đồng lúa mẫu lớn nằm rải khắp các huyện trong
tỉnh như: Cầu Kè, Trà Cú, Cầu Ngang, Càng Long, Tiều
Cần, Châu Thành. Ngoài ra, Trà Vinh còn là tỉnh có sản
lượng nuôi trồng thủy sản lớn như: Duyên Hải, Long
Hòa của Châu Thành; Mỹ Long Bắc, Nam, Long Sơn,
Vinh Kim của Cầu Ngang.
1.2.2. Quá trình du nhập của Công giáo ở Trà Vinh
Căn cứ vào tư liệu điều tra điền dã từ các họ đạo và
Tiểu kết chương 1
Điều kiện tự nhiên – xã hội, bối cảnh lịch sử địa
phương đã tạo nên một sắc thái văn hóa riêng biệt cho tỉnh
Trà Vinh, đây cũng được xem là tiền đề quan trọng thúc
đẩy quá trình hội nhập văn hóa với thế giới và phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương. Trong quá trình phát triển
ấy, đời sống tinh thần của con người phải được đáp ứng
những yêu cầu cần thiết để tạo nên nền tảng tinh thần vững
chắc. Cộng đồng người Việt Công giáo ở Trà Vinh có số
phận và lịch sử gắn bó mật thiết với vùng đất này và họ đã
có nhiều cống hiến sức lực cho sự phát triển chung của tỉnh.
Tư liệu điền dã năm 2015 của tác giả và tư liệu từ website
www.giaophanvinhlong.net
4
-13Có thể nói cộng đồng người Việt Công giáo ở Trà
Vinh có số lượng tương đối đông đảo 65 ngàn người.
Chính vì thế diện mạo văn hóa của tỉnh Trà Vinh có sự
đóng góp khá lớn và tích cực của cộng đồng này. Trong
khối đại đoàn kết dân tộc, người Việt Công giáo Trà Vinh
đã thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước,
chính quyền địa phương với phương châm “sống tốt đời,
đẹp đạo” họ đã ra sức cống hiến cho sự phát triển, ổn định
của quê hương Trà Vinh thân yêu.
-14CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN
CỦA TỤC KÍNH NHỚ TỔ TIÊN
sở nền tảng cho giáo lý và giáo luật của Công giáo. Mọi
tác phẩm viết sau đều lấy bộ sách này làm cơ sở kế thừa.
Bộ Kinh Thánh có ý nghĩa rất quan trọng đối với người
Công giáo, trong đó họ tìm thấy cơ sở niềm tin của họ, tìm
thấy lời chỉ dạy về một cách sống, một cách ứng xử với
Thiên Chúa và với con người, mà tương quan với con
người thì bao gồm những tương quan với: Cha mẹ, anh
em, vợ chồng, bạn hữu và cả kẻ thù. Dựa vào Kinh thánh
mà người Công giáo Trà Vinh lấy đó làm cơ sở cho sinh
hoạt kính nhớ tổ tiên của họ.
- Kính nhớ tổ tiên của người Việt Công giáo Trà Vinh
trước Công Đồng Vatican II (1962 - 1965)
Trước Công đồng Vatican II, Huấn dụ Plane
Compertum est của Thánh bộ Truyền giáo La Mã, được
Giáo hoàng Piô XII chấp thuận ngày 7/12/1939 và được
công bố sau đó một ngày, ngày 8/12/1939. Tuy nhiên
Huấn dụ chỉ được áp dụng phổ biến tại Trung Hoa còn ở
Việt Nam nói chung, Trà Vinh nói riêng, việc nhìn nhận
vấn đề thờ cúng tổ tiên mãi cho đến Công đồng Vatican II
mới thật sự rõ ràng.
- Kính nhớ tổ tiên của người Việt Công giáo sau Công
Đồng Vatican II (1962 - 1965)
Vấn đề thờ cúng tổ tiên đã được khép lại bằng
Huấn dụ Plan Compertum est, công bố ngày 8/12/1939 áp
dụng ở Trung Hoa, Hội đồng Giám mục Việt Nam xin
-16theo và đến ngày 20/10/1964 được tòa Thánh chấp nhận.
So với các vùng miền trong cả nước thì Nam Bộ, trong đó
có Trà Vinh đã thực hiện Huấn dụ đối với việc thờ cúng tô
Công giáo Trà Vinh được trang hoàng bày biện với bát
hương, hương, nến, đèn, bình hoa, di ảnh người quá cố,
đôi khi là bài vị, Kinh thánh và hoa quả. Bàn thờ tổ tiên
của người Công giáo được lập nhưng phải tuân thủ theo
nguyên tắc, đó là: bàn thờ tổ tiên không được đặt ngang
bằng hay cao quá bàn thờ Chúa.
Khảo sát hình thức bày trí bàn thờ ông bà tổ tiên
của giáo dân Trà Vinh lập sau khi người chết qua đời,
chúng tôi thấy có ba hình thức sau đây:
Hình thức một: Bàn thờ được đặt chính giữa phía
dưới tượng, ảnh của Chúa Giêsu hoặc gia đình Chúa Giêsu
(có Mẹ Maria và thánh Giuse), trên đó có di ảnh hoặc bài
vị ông bà tổ tiên, lư hương, đèn, hoa quả.
Hình thức hai: Bàn thờ ông bà tổ tiên được đặt bên
trái từ ngoài nhìn vào, hoàn toàn tách biệt với bàn thờ Chúa.
Tuy nhiên ở hình thức này, vẫn phải tuân thủ theo nguyên
tắc là bàn thờ ông bà không được ngang hàng với bàn thờ
Chúa. Trên bàn thờ ông bà tổ tiên cũng có di ảnh hoặc bài vị,
lư hương, đèn, bình hoa, dĩa trái cây.
Hình thức ba: Bàn thờ ông bà tổ tiên được đặt bên
phải từ ngoài nhìn vào, cũng hoàn toàn tách biệt với bàn
thờ Chúa và đảm bảo những nguyên tắc giống như hình
thức thứ hai.
Việc lập bàn thờ ông bà tổ tiên theo ba sơ đồ đã
trình bày ở trên là tùy thuộc vào không gian nhà và điều
-18kiện của từng gia đình. Và không phải mọi nhà đều có
bàn thờ, bàn thờ ông bà tổ tiên chỉ phổ biến ở nhà tổ,
thường là nhà con út trong gia đình hoặc nhà ông bà lớn
Vinh trong quá trình tiếp nhận văn hóa Thiên chúa giáo.
-20CHƯƠNG 3
KÍNH NHỚ TỔ TIÊN TRONG ĐỜI SỐNG
CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO Ở TRÀ VINH
3.1. Đặc trưng của việc tôn kính tổ tiên của người Việt
Công giáo Trà Vinh
Người Công giáo Trà Vinh tin rằng, con người có
hồn và xác, cả hồn và xác đều do Thiên Chúa dựng nên.
Vì vậy, xác cũng mang tính cao quý có vai trò kết
hợp với hồn tạo nên con người sống trên dương gian.
Người Công giáo Trà Vinh tin rằng, các Thánh
trên Thiên đàng, những người đang sống ở tại thế và
những linh hồn dưới luyện ngục có mối liên hệ mật thiết
với nhau. Các Thánh sẽ cầu bầu cùng Chúa cho người
đang sống, người đang sống có thể làm việc lành, đọc
kinh, dâng lễ để lập công phúc với ý hướng dành cho
các linh hồn nơi luyện ngục.
3.2. Điểm tương đồng và khác biệt giữa Công giáo và tín
ngưỡng bản địa về vấn đề kính nhớ tổ tiên ở Trà Vinh
3.2.1. Điểm khác biệt giữa Công giáo và tín ngưỡng
bản địa về vấn đề kính nhớ tổ tiên ở Trà Vinh
- Điểm khác biệt giữa quan điểm của người Việt
Công giáo và tín ngưỡng dân gian về vấn đề thờ kính tổ
tiên ở Trà Vinh
- Sự khác biệt trong cách lí giải về tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của các vị truyền giáo
- Sự khác biệt giữa hai nền văn hóa: văn hóa Tây
phương và văn hóa Việt
-223.3.2. Gắn kết nội bộ Công giáo và giữa người Công
giáo với các cộng đồng khác
Thực hành việc kính nhớ ông bà, tổ tiên chính là
dịp để những người trong gia đình Công giáo sum họp, tề
tựu vào ngày tang lễ, giỗ chạp của người thân và những
ngày mà Giáo hội Công giáo Việt Nam quy định. Nó đã
góp phần gắn kết những người thân trong gia đình, nội bộ
Công giáo và giữa người Công giáo với các cộng đồng
khác. Khi có người qua đời, người thân trong gia đình
Công giáo Trà Vinh có mặt đầy đủ tại nhà người chết,
trước là để gặp mặt người chết lần cuối, sau là làm các
công việc liên quan đến tang ma. Những người thân trong
gia đình gắn bó mật thiết với nhau trong việc thực hiện các
quy định tang ma, nhắc nhỡ họ phải yêu thương, đùm bọc
nhau trong cuộc sống.
3.3.3. Góp phần làm đa dạng đời sống văn hóa của
con người và vùng đất Trà Vinh
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong
đa dạng. Sự đa sắc của 54 tộc người, sự phong phú về
vùng miền đã tạo nên một diện mạo văn hóa đặc sắc.
Kính nhớ tổ tiên của người Công giáo Trà Vinh đã
góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa của con
người và vùng đất Trà Vinh. Một số quan điểm về tổ tiên,
về sự tồn tại của con người sau khi chết đã được Công
giáo nhìn nhận một cách rõ ràng hơn, lí giải hợp lí hơn để
con người gửi gấm niềm tin, dựa dẫm và nương tựa vào
đó. Việc thực hành các hình thức kính nhớ tổ tiên của