Giới thiệu dịch tể học bệnh do véc tơ sinh ra và cuộc điều tra vụ dịch - Pdf 42

[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[[
Giới thiệu dịch tể học bệnh do véc tơ sinh ra và cuộc điều tra vụ dịch
MỤC TIÊU
Kết thúc bài học, học viên có khả năng:
1.
2.
3.
4.

Trình bày trò của vec tơ đối với một số bệnh truyền nhiễm cho người và động vật thường gặp
Trình bày mối quan hệ giữa những tác nhân gây bệnh với vật chủ và véc tơ truyền bệnh
Liệt kê một số loài côn trùng tiết túc thường gặp gây bệnh người và động vật ở Việt Nam
Trình bày phương thức lây truyền của một số véc tơ chủ yếu và biện pháp chống véc tơ chủ
yếu ở Việt Nam

A, PHẦN MỞ ĐẦU
Nhiều loại côn trùng và những tiết túc khác đều quan trọng về y học và thú y do chúng hoặc gây
những điều kiện bệnh lí hoặc truyền những sinh vật gây bệnh cho người và động vật. Sự quan trọng
về y học của nhóm tiết túc là do không phải số lượng các loại mầm bệnh chúng quá nhiều, mắc dù
danh sách rất dài, mà tỉ lệ mắc và tử vong của những bệnh này và sự phân bố rộng rãi của chúng ở
khắp thế giới, Từ thời xa xưa, những bệnh này đã gây những tổn thất vô kể về kinh tế và sự chết chóc
cho dân cư và một số lớn trong chúng vào khi đó đã gây thành đại dịch( dịch hạch). Những bệnh đo
véc tơ truyền cũng có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành lịch sử loài người và những ranh giới
về chính trị.
a. Nhìn chung những tiết túc truyền bệnh có thể là:
1. Bản thân là tác nhân gây bệnh (cái ghẻ, rệp)
2. Các vật chủ truyền bệnh (một số loài ong,giáp xác 10 chân)
3. Vật truyền bệnh ( muỗi, ruồi, ve, rệp, chấy rận, bọ chét)
b. Các loại tiết túc rất quan trọng về mặt y học và khả năng truyền bệnh của chúng, khả năng của
nó có thể làm vật chủ và làm vecto trong một danh sách dài các tác nhân gây bệnh có thể tóm
tắt rộng rãi như sau (Xem bảng 1)

Loại tiết túc: Sinh vật không có xương sống có đặc trưng chia đoạn với những phần phụ có bộ xương
(vỏ ngoài) bằng kitin, bao gồm một tập hợp lớn hơn những thành phần khác trong tổ hợp vương
quốc đông vật. Chúng bao gồm các lớp được phân loại quan trọng về y học: Insecta (côn trùng),
Archnida, (ve, chấy, rận, nhện, bọ cạp), và Crustacea (copepods, decapods). Hơn nữa, hai nhóm véc
tơ quan trọng nhất đối với bệnh của người là muỗi và ve (xem bảng 2 về danh sách các vec tơ sinh
vật đối với bệnh của người)
Véc tơ chính: Các loại tiết túc chịu trách nhiệm chính về gây bệnh cho người và các súc vật khác bất
kể nếu vật chủ nhiễm bệnh có bằng chứng lâm sàng về bệnh (Ví dụ: Anopheles díu và bệnh sốt rét)
Véc tơ thứ yếu: Thường không quan trọng nhưng có ý nghĩa trong dịch hay trong thời kì gần gũi với
vật chủ trong hoàn cảnh bât thường (Aedes albopictus và Dengue)
Lây truyền ngang: Một dạng truyền bệnh cơ học hay sinh học của tác nhân gây bệnh giữa các vật
chủ, ngoại trừ lây truyền dọc
Lây truyền dọc : Một dạng truyền bệnh sinh học theo con cái giữa các véc tơ truyền bệnh bằng cách
thức chuyển giao di truyền của tác nhân trực tiếp từ bố mẹ sang con cái
Khả năng của vec tơ : Nguy cơ lây truyền di một loại kí sinh trùng véc tơ sinh ra( ví dụ: sốt rét) ở một
vùng nhất định, trong một thời điểm nhất định. Diễn tả về mặt toán họ, nó ít nhiều chịu ảnh hưởng
của những tham số bao gồm: 1) tỷ lệ vết cắn trên người 2) tập quán đốt người, 3) tuổi thọ của véc
tơ, 4) Muỗi nhiễm kí sinh trùng
Năng lực của véc tơ:Khả năng tương đối của một véc tơ truyền một tác nhân gây bệnh từ vật chủ
này sang vật chủ khác bao hàm nó chứa một số lượng tác nhân đủ để gây bệnh hoặc hỗ trợ sự phát
triển của tác nhân và có khả năng truyền một lượng đủ lớn cho một vật chủ mới để đảm bảo gây ra
được bệnh
C. SỰ LÂY TRUYỀN CỦA CÁC TÁC NHÂN GÂY BỆNH: MỐI QUAN HỆ GIỮA NHỮNG TÁC NHÂN
GÂY BỆNH VỚI VEC TƠ VÀ VẬT CHỦ CÁI
a.truyền vec tơ cơ học
1. Không có sự phát triển hay nhân lên của tác nhân trong vec tơ
2. không có thời kì ủ bệnh, có thể truyền ngay
3. Các tác nhân chịu đựng được với môi trường (tularemia, trypanosome châu Phi)
4.Véc tơ truyền bệnh bị “nhiễm” trong một thời gian nhất định
5. Ví dụ: F.Tularensis/ Ruồi của hươu nai;B.Anthracis/ Ruồi(mòng) đốt; Vi rút myxomatosis/

Thường không truyền cơ học
Một số bệnh lí học trong véc tơ truyền bệnh, nhưng thường hạn chế (ngoại trừ dịch sốt
phát ban/dịch hạch)
Ví dụ:Sốt vàng, muỗi, dịch hạch/bọ chét, sốt phát ban, dịch/ chấy rận, sốt phát ban địa
phương (bọ chét) tularemia/ ve, bartonellosis/ ruồi cát, sốt có vệt đốm nhóm rickettsia/ ve
Lây truyền nhân giống có chu kì: Nhân giống ở véc tơ và có mặt tại các giai đoạn trong
véc tơ đều không xảy ra ở vật chủ có xương sống
Đặc điểm của kí sinh trùng đơn bào với chu kì sống phức tạp (sốt rét, hemoflagellates)
Nhân giống có thể (sốt rét) hoặc không có thể bị hạn chế (flagellates) trong véc tơ
Ví dụ 1: sốt rét
Các giai đoạn vô tính ở động vật có xương sống (vật chủ trung gian)
Các giai đoạn hữu tính ở mỗi véc tơ (vật chủ chính
Nhân giống hạn chế ở véc tơ, khuynh hướng gây nhiễm đến khi bị tiêu diệt
 Ví dụ 2:Bệnh Hemoflagellates trong máu (Leishmania, Trypanosoma)
Không có thời kì hữu tính (không có vật chủ chính hay vật chủ trung gian)
Các giai đoạn phát triển khác nhau của kí sinh trùng có thể gặp vật chủ và véc tơ
Nhân giống kí sinh trùng trong véc tơ không bị hạn chế
Một số bệnh trypanotom cũng có thể được truyền cơ học
Cơ chế truyền sinh học
Ô nhiễm:
Lôi ra tích cực: giun chỉ/ muỗi, culicoides spp
Phân: Rickettsia/bọ chét, chấy rận, Coxiella/ ve
Chất tiết: spirochete/ ve Argasid
Cơ chế bị đập nát: spirochete(Boerelia) chấy rận
Nuốt vào:
Tổ chức của các véc tơ truyền bệnh dioylidium/ bọ chét. Hymenolepis/ong
Chích vào
Nước bọt: sốt rét và Arbovirus/ Muỗi, trypanossomes/ ruồi
Chất nôn ói: ruồi cát, dịch hạch/ bọ chét
D. SỰ LÂY TRUYỀN GIỮA CÁC TÁC NHÂN GÂY BỆNH:BẰNG CHỨNG BUỘC LOẠI TIẾT TÚC LÀ

bào sinh ra muỗi có mặt trên 100 nước và gây ra trên 100 triệu người mắc bệnh trong đó có từ 12 triệu người chết hằng năm.Giám sát kết quả trong nhiều thập kỉ gần đây nhận thấy ngày càng ít
kết quả do những cản trở về mặt kĩ thuật,hậu cần và chính trị
Về mặt dịch tễ học bệnh sốt rét rất phức tạp do sự tương tác tinh tế của các yếu tố: về sinh vật
học về hình thái xã hội và kinh tế. Bản chất thời gian và mức độ trầm trọng của bệnh sốt rét phụ
thuộc không chỉ vào các loại kí sinh trùng sốt rét mà còn theo mức độ miễn dịch mắc phải đặc hiệusốt rét của mỗi cá thể. Sốt rét là một bệnh tập trung sự can dự chịu ảnh hưởng của hàng tá yếu tố
liên quan đến nhau bao gồm: người, muỗi, quần thể kí sinh trùng và môi trường. Cũng vì những
nguyên do này nên bệnh sốt rét được chọn để bàn luận rộng rãi
Để hình dun xa hơn tính phức tạp của bệnh này những ấn phẩm cần phải xem xét khi mô tả tình
trạng bệnh sốt rét liên quan đến: người, kí sinh trùng, véc tơ và môi trường. Một danh sách tóm tắt
từng phần của các yếu tố dịch tễ ảnh hưởng đến tiếp xúc véc tơ- vật chủ và sự truyền sốt rét trình
bày như sau
a,Môi trường
1.Đất
Loại đất
Địa hình (địa thế)
Độ cao


2.Loại thực vật :
3.Khí hậu/ thời tiết
Nhiệt độ ( xung quanh, nơi cư trú hẹp).
Mưa
Độ ẩm
Gió
b. Xã hội văn hóa:
1. Vật chủ thay đổii
Tuổi
Giới
Tình trạng miễn dịch sốt rét
2. Vùng thị tứ:

Phân phối trong quần thể dân cư
Tạm thời (theo mùa)
 Không gian
Mức độ tính chất dịch địa phương (thấp, vừa cao, toàn thể)
Nhạy cảm thuốc
2. Véc tơ chủ yếu là loài Anophen
Phân phối tạm thời và rộng khắp
Nơi ở thích hợp của ấu trùng
Nơi sinh sản sẵn có
Phạm vi bay của loại trưởng thành
Vật chủ sở thích
Thói quen hút máu
Thích người
Thích loài vật
Nơi thích nghỉ ngơi
Bên trong


Bên ngoài
Nhạy cảm với: hóa chất trừ sâu
Độc tính
Cách đáp ứng
Dễ bị nhiễm trùng
Tuổi thọ (trưởng thành sống tốt)
Độ dài của vòng trứng
Sinh sản
Khả năng truyền bệnh
Phục tùng kiểm tra
d.Chương trình giám sát sốt rét tại chỗ
1. Hỗ trợ kinh tế

trùng, điều kiện sinh sản, tình trạng nhạy cảm với chất diệt côn trùng
3. Nghiên cứu lâm sàng: kiểm tra lam máy, chỉ số lách, những thử nghiệm huyết
thanh( nếu làm được
4. Thu thập dữ liệu, phân tích báo cáo
Chuẩn bị cho các hoạt động giám sát:
1. Thiết lập một ngân sách hàng năm cho việc giám sát thường qui và những khi điều
tra dịch
2. Phát triển các hình thức thu thập các số liệu qui tắc chuẩn cho bệnh nhân, kí sinh
trùng, véc tơ và các số liệu về môi trường
3. Bảo đảm csc số liệu này được thu nhập và phân tích
4. Tìm kiếm và chuẩn bị các trang thiết bị, vật dụng chuẩn bị cho việc giám sát
5. Thiết lập liên lạc và sự chấp thuận chính thức của các phòng xét nghiệm chẩn đoán
địa phương và các chuyên gia lâm sàng, dịch tễ học, côn trùng học để hỗ trợ cho việc
điều tra
6. Bản tường thuật về thu nhập mẩu bệnh án/ huyết thanh
7. Bản tường thuật về giám sát véc tơ
8. Thu được hay phát triển các “nhóm” về định loại véc tơ dùng
G. GIÁM SÁT VÉC TƠ
Có nhiều phương pháp và kĩ thuật khác nhau có thể điều tra để đánh giá sự có mặt và tầm quan
trọng tương đối của các véc tơ trong truyền bệnh. Cuối cùng sự giám sát cung cấp những thông tin
cần thiết cho quá trình hoạt động để chỉ đạo những nỗ lực giám sát có hiệu quả khác nhau trong
giám sát để chỉ đạo những nỗ lực giám sát có hiệu quả sự khác nhau trong giám sát loài tiết túc là
chú ý đến các týp của véc tơ hơn là bệnh đã truyền. Để cho thuận tiện những phương pháp nghiên
cứu chung về muỗi Aedes aegypti được coi như một ví dụ đặc biệt để giám sát vi rút dengue. Phần
tiêp theo là phần tổng quan nói về việc sử dụng hợp lí một vài biện pháp khi đánh giá quần thể
muỗi
a. Nghiên cứu về ấu trùng: Để xác minh nguồn của muỗi và xác định sự phong phú tương
đối của chúng
b. Nghiên cứu muỗi trưởng thanh: Cung cấp thông tin về sự phong phú tương đối và sự
phân phối trong không gian và theo mùa của những loại muỗi trong một vùng. Điều này có

- Ho gà (Bodetella pertussis)
- Não mô cầu khuẩn (Neisseria meningitidis)
- Lao (Mycobacterium tuberculosis)
1.2. Vi rút
- Cúm và các vi rút gây hội chứng cúm
- Cúm chim (avian inftuenza hay bird flu) hay cúm gia cầm là một loại bệnh cúm do vi rút
gây ra cho các loài chim và có thể xâm nhiễm một số loài động vật có vú.
- Sởi, quai bị, thủy đậu, đậu mùa
- Virut gây nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính
1.3. Sức đề kháng
Phần lớn các tác nhân gây bệnh có sức đề kháng yếu, dễ bị tiêu diệt ở môi trường bên ngoài
trong điều kiện bình thường
Ví dụ: Vi rút sởi, là một trong những vi rút có sức chịu đựng kém nhất, chúng chết ở ngoại
cảnh trong vòng 30 phút và chỉ có thể bảo quản bằng đông khô.
Một số có sức đề kháng rất cao ở môi trường bên ngoài như vi rut đậu mùa, vi khuẩn lao,
trực khuẩn bạch hầu. Chúng có thể tồn tại hàng tuần, hàng tháng , thậm chí hằng năm
trong các yếu tố môi trường xung quanh
Ví dụ: Trực khuẩn bạch cầu có sức đề kháng cao ở môi trường bên ngoài, đặc biệt là trực
khuẩn chịu được khô hanh. Trên các đồ chơi bằng gỗ chúng sống được 3 tháng, trên quản
bút mà học sinh bị bệnh hạch hầu ngậm vào mồm đã phát hiện thấy trực khuẩn bạch hầu
sau 15 ngày
Trực khuẩn lao trong đờm của người bệnh sống từ 2-5 tháng, trong bụi sống được 4 tháng
2. Quá trình dịch
2.1.1 Nguồn truyền nhiễm
Các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp có nguồn truyền nhiễm duy nhất là người (riêng bệnh
lao có thể có nguồn truyền nhiễm ở vài loài súc vật nhưng cơ chế truyền nhiễm khác hẳn)
Cơ chế truyền nhiễm

Các bệnh trong nhóm này đều có cơ chế truyền nhiễm giống nhau do có cơ chế sinh
bệnh giống nhau:

mang tai rõ rệt đến 9 ngày sau đó. Tỷ lệ lây nhiễm cao nhất xảy ra vào khoảng 48 giờ trước
khi khởi phát bệnh
Bệnh thủy đậu, thời kì lây dài nhất 5 ngày; thường từ 1-2 ngày trước khi phát ban và không
quá 5 ngày khi xuất hiện lớp phỏng dạ đầu tiên

Thời kì phát bệnh
Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, thời kì phát bệnh là thời kì lây lan mạnh nhất, mầm
bệnh đào thải ra nhiều và liên tục khi bệnh nhân ho nhiều. Nguy cơ lây lan thường đi song
song với tình trạng bệnh. Bệnh càng nặng càng lây nhiều và bệnh giảm dần thì tính chất lây
lan cũng giảm theo cho đén khi khỏi bệnh
Riêng bệnh ho gà người ta thấy sự lây lan kết thúc sớm hơn tình trạng lâm sàng; bệnh chỉ
lây trong vòng 3 tuần đầu kể từ khi phát bệnh, rồi sau đó không còn lây nữa mặc dù người
bệnh vẫn còn cơn ho rít nhiều ngày sau

Thời kì lui bệnh
Đa số các bệnh trong nhóm này đến thời kì lui bệnh tính chất lây lan đã giảm rất nhiều như
bệnh sởi, thủy đậu, quai bị. Đậu mùa còn lây đến khi bong hết vẩy
Bệnh bạch hầu vẫn còn lây đến hết thời kì lui bệnh và có thể lây kéo dài hơn nữa.
2.1.2. Nguồn truyền nhiễm là người bệnh không điển hình
Có những bệnh bị nhiễm mầm bệnh là có biểu hiện triệu chứng lâm sàng điển hình như
bệnh sởi, đậu mùa. Các bệnh khác lại có rất nhiều thể bệnh không điển hình mà phần lớn là
thể nhẹ như bệnh cúm, ho gà , bạch hầu. Những thể nhẹ rất nguy hiểm vì họ vẫn đào thải
mầm bệnh ra môi trường xung quanh, số lượng đông, không được chần đoán xác định nên
họ không được cách li điều trị
2.1.3. Nguồn truyền nhiễm là người khỏi mang mầm bệnh
Vai trò lây truyền của người khỏi mang mầm bệnh trong nhóm này không lớn.
Có nhiều bệnh không có tình trạng người khỏi mang mầm bệnh như sởi, đậu mùa, quai bị,
thủy đậu, ho gà.Các bệnh khác như cúm có thể có tình trạng người khỏi mang mầm bệnh
nhưng ngắn và vai trò truyền bệnh cũng không đáng kể. Bệnh bạch hầu và viêm màng não
do não mô cầu có tình trang người khỏi mang mầm bệnh có vai trò dịch tễ quan trọng

nhiễm bằng giọt nước bọt chỉ có tác dụng ở gần nguồn truyền nhiễm (1-2m), nhất là đối
với các bệnh như cúm ,sởi, ho gà sự truyền nhiễm chỉ xảy ra khi có sự tiếp xúc mật thiết
giữa người ốm với người khỏe (ở nhà trẻ, trường học, đô thị)
 Mức độ phân tán của các giọt tùy thuộc vào tính chất của dịch tiết do niêm mạc đường hô
hấp giải phóng ra. Khi dịch tiết có độ nhầy lớn( như ở những người lao, ho gà thì sẽ tạo
thành những giọt to). Ngược lại nếu dịch tiết lỏng như ở bệnh sởi và cúm thì sẽ sinh ra
những giọt nhỏ khí dung có nồng độ cao nhất ở gần người bênh khi ho và hắt hơi, còn ở xa
hơn thì khí nồng độ cao nhất ở gần người bệnh khi ho và hắt hơi, còn ở xa hơn thì khí dung
loãng ra. Như vậy càng xa nguồn truyền nhiễm thì nguy cơ bị lây càng giảm

Khí dung: Sau khi giọt nước bắn vào không khí, một phần của lớp ngoài bay hơi,
khi ấy giọt teo lại thành giọt nhỏ lơ lửng lâu trong không khí đó là khí dung. Trung tâm
giọt nước bọt vẫn còn độ ẩm đủ để duy trì đời sống của các vi sinh vật gây bệnh có sức chịu
đựng tương đối cao( như vi khuẩn bạch hầu)

Bụi: Sớm hay muộn, giọt nước bọt phải rơi xuống đất, khô đi và hóa lẫn với bụi. Khi
quét nhà, lau chùi đồ vật, rũ chăn chiếu hoặc đi lại, thì bụi dễ bốc vào không khí và bị hít
vào. Tuy nhiên, cơ chế truyền nhiễm bằng hít bụi chỉ có thể xảy ra nếu vi sinh vật có sức chịu
đựng cao, không bị chết khô bởi khô hành và tia nắng mặt trời. Như đã biết trực khuẩn lao
có thể sống trong bụi hàng tuần.Tuy nhiên, hiệu lực truyền nhiễm của bụi kém hơn so với
giọt nước bọt, vì số vi sinh vật trong hạt bụi không thể so sánh với số vi sinh vật gây bệnh
trong giọt nước bọt.Một vài bệnh súc vật cũng truyền sang người bằng bụi. Trong bệnh
than cũng có thể truyền bằng bụi của gia súc vật chết do bệnh này để trong kho vi người ta
thấy các người giữ kho đôi khi cũng bị mắc bệnh than.Các thí dụ trên chứng minh rằng vi
sinh vật gây các bệnh trên có sức chịu đựng cao và có thể tồn tại bên ngoài trong một thời
gian dài
2.3. Khối cảm nhiễm

Tất cả mọi người không có miễn dịch đều có khả năng cảm nhiễm với bệnh



Nhiều bệnh khó tránh khỏi khi đã xảy ra dịch (cúm, sởi) vì bệnh lây lan ở thời kì ủ
bệnh hay thời kì khởi phát

Vacxin phòng bênh đặc hiệu có thể ngăn ngừa được bệnh
4.Các biện pháp phòng chống dịch
4.1. Các biện pháp đối với nguồn truyền nhiễm
4.1.1 Chẩn đoán phát hiện sớm

Chẩn đoán lâm sàng: Đối với một số bệnh điển hình phổ biến, chỉ cần chẩn đoán
lâm sàng cũng đủ như sởi, thủy đậu, ho gà quai bị. Xết nghiệm thường để chẩn đoán phân
biệt.Đối với cúm lâm sàng chỉ có thể bao gồm trong “hội chứng cúm” và cũng dễ nhầm với
nhiều bệnh khác

Chẩn đoán xét nghiệm: Cần thiết trong chẩn đoán xác định bệnh bạch hầu và bệnh
viêm màng não do não mô cầu

Chẩn đoán dịch tễ học: Dựa vào các đặc điểm dịch tễ về lứa tuổi, tính chát mùa và
dựa vào điều tra dịch tễ học giúp cho chúng ta có hướng chần đoán sớm về lâm sàng và xét
nghiệm
4.1.2.Khai báo

Các cán bộ y tế ở các tuyến y tế cơ sở, phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện đều
phải ghi phiếu khai báo cho các trung tâm y tế dự phòng theo đúng qui định
4.1.3.Cách ly

Về nguyên tắc tất cả các bệnh trong nhóm này đều phải cách ly ở bệnh viện kể từ
khi phát hiện đến khi khỏi bệnh và xét nghiệm không còn mang mầm bệnh.Tuy việc cách ly
này ít có hiệu lực vì nhiều bệnh lây từ cuối thời kỳ ủ bệnh nhưng rất cần thiết trong một số
bệnh như bạch hầu và viêm màng não do não mô cầu

Trên đây là các biện pháp đối với nguồn truyền là người bệnh thể điển hình.Đối với
nguồn truyền nhiễm là người bệnh thể không điển hình, thể nhẹ và người lành mang mầm
bệnh khó phát hiện hết nên trong vụ dịch được phép coi tất cả các trường hợp này như là
người bệnh điển hình và áp dụng các biện pháp như đã nêu trên
4.2. Các biện pháp đối với đường truyền nhiễm

Vì các bệnh trong nhóm này lây truyền theo đường hô hấp với các yếu tố truyền
nhiễm là không khí là không khí có chứa các giọt nước bọt nhỏ mang mầm bệnh, nên rất
khó ngăn ngừa

Người ta có thể khử trùng không khí trong những phòng kín đối với những bệnh
như: bạch hầu, đậu mùa bằng cách dùng đèn cực tím, dùng foocmôn phun dưới dạng khí
dung
4.3. Các biện pháp đối với khối cảm nhiễm
4.3.1 Huyết thanh phòng bệnh
Là biện pháp gây miễn dịch thụ động nhân tạo cho những trẻ em đã tiếp xúc với bệnh nhân,
hiện đang trong giai đoạn ủ bệnh, nhằm ngăn ngừa không cho bệnh xảy ra.Người ta có thể
dùng máu mẹ, huyết thanh người mới khỏi bệnh,nhưng ngày nay người ta thường dùng
gamma gloubulin. Ví dụ: Bệnh sởi, dùng globulin miễn dịch cho những người cảm nhiễm
trong hộ gia đình, những người tiếp xúc khác có nguy cơ biến chứng rất cao hoặc những
người chống chỉ định dung vacxin sởi.Liều globulin miễn dịch là : 0,25ml/kg và tối đa là
15ml
4.3.2 Vacxin phòng bệnh đặc hiệu

Hiện nay chúng ta đã có vacxin phòng bệnh rất có hiệu quả, bảo đảm gây được
miễn dịch bảo veejcho khối cảm thụ không bị mắc bệnh nếu sử dụng vacxin đúng qui
cách.Đó là các vacxin: đậu mùa, sởi, bạch hầu, ho gà, lao. Thực tế đã chứng minh điều này.Vi
dụ:Nhờ có vacxin phòng bệnh đậu mùa mà chúng ta đã thanh toán được bệnh đậu mùa trên
toàn thế giới.Vacxin cúm thì có hiệu quả thấp hơn, gây miễn dịch không bền vững và không
chắc chắn

 Hiệu lực của vacxin BH-HG-UV khá cao khi tiêm đủ 3 liều, với khoảng cách giữa 2 lần tiêm
ít nhất là 30 ngày. Cần hoàn thành cả 3 mũi tiêm BH- HG- UV trước khi trẻ đủ 12 tháng tuổi
 Vacxin BH-HG-UV trước khi trẻ đủ 12 tháng tuổi
 Vacxin BH-HG-UV tiêm bắp, mỗi liều 0.5ml. Tiêm 3 liều gây miễn dịch cơ bản cùng với luvs
cho uống vacxin Sabin
 Sau khi tiêm vacxin có thể xuất hiện một số phản ứng nhẹ như :sốt 39C, đau, đỏ, nổi cục
ở chỗ tiêm.Những phản ứng này không có gì đáng ngại, sẽ mất đi sau ít ngày

Vacxin phòng bệnh sởi.
 Vacxin sởi chế tạo từ vi rút sởi sống đã làm giảm độc lực
 Vacxin sởi nhạy cảm với nhiệt độ cao, cần được bảo quản đông lạnh, ở tuyến y tế cơ sở
vacxin phải bảo quản trong phích lạnh ở nhiệt độ 0-8C
 Hiệu lực của vacxin sởi khá cao (95%). Hiệu lực cao nhất nếu tiêm cho trẻ vào lúc 9-12
tháng tuổi
 Vacxin sởi tiêm một liều cho trẻ đủ 9-11 tháng tuổi, tiêm dưới da 0.5 ml. Vacxin sởi có thể
tiêm đồng thời với các loại vacxin khác
 Vacxin sởi không gây tai biến, đôi khi có sốt và phát ban nhẹ , lành tính không lây sang trẻ
khác

Kết luận
Trong các biện pháp phòng chống dịch các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, thì các biện
pháp đối với nguồn truyền nhiễm, thường chỉ thực hiện muộn về phương diện dịch tễ ;vì
bệnh đã lây truyền từ cuối thời kì ủ bệnh. Cho nên dẫu có đáp ứng triệt để các biện pháp đó
cũng không thể ngăn ngừa bệnh lây truyền được.Các biện pháp đối với đường truyền nhiễm
thì lại càng khó áp dụng một cách rộng rãi, gần như chúng ta không làm gì được. Do đó các
biện pháp bảo vệ khối cảm nhiễm bằng các vacxin phòng bệnh đặc hiệu là quan trong nhất
và hiệu quả nhất
3.LƯỢNG GIÁ BÀI HỌC
Sau bài học, học viên có khả năng
1.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status