VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NHÂM
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN KHÁNH ĐỨC
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội” của luận văn này là kết quả của sự nỗ lực cố
gắng, tìm tòi và sáng tạo của riêng bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn tận
tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS. Trần Khánh Đức. Tôi xin cam
đoan, kết quả nghiên cứu của công trình hoàn toàn là kết quả của cuộc điều tra
xã hội học mà tôi đã tiến hành nghiên cứu tại các đơn vị sự nghiệp của Quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội. Trong công trình nghiên cứu này không hề có
bất kỳ sự sao chép nào mà không có trích dẫn nguồn, tác giả.
UBND
Uỷ ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1.1: Môi trường thể chế chính sách phát triển viên chức……………..18
Bảng 2.1: Số lượng các đơn vị hành chính thuộc quận Hà Đông…………...33
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa, hội nhập
và mở cửa, đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp mà ở đó bao
gồm những viên chức vững vàng về chuyên môn, năng động và có phẩm chất
đạo đức tốt. Mặt khác, đó phải là những viên chức chuyên nghiệp, hiện đại
trong công việc và tư duy những vẫn giữ được bản chất nhân văn của con
người Việt Nam. Phải khẳng định rằng đội ngũ viên chức trong đơn vị sự
nghiệp đã và đang góp phần tích cực vào tiến trình cải cách hành chính theo
mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại có tính chuyên nghiệp cao mà
Đảng và nhân dân ta đặt ra trong thời kỳ mới.
Thể chế quản lý đội ngũ viên chức đều được Nhà nước ban hành. Do
vậy, Chính sách phát triển viên chức là hệ thống các quan điểm chủ trương
của Đảng và Nhà nước ta đối với đội ngũ viên chức; là công cụ và giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng và nhất là nâng cao tính tích cực lao động của đội
dung quan trọng của nền hành chính quốc gia, luôn được Đảng và Nhà nước
chú ý quan tâm và xây dựng quy phạm pháp luật quản lý, sử sụng và đãi ngộ
ngày càng hoàn chỉnh , hợp lý và hiệu quả đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước. Ngày 01/01/2012, Luật Viên chức chính thức có
hiệu lực là một dấu mốc quan trọng, mang một ý nghĩa to lớn trong việc
khẳng định vị trí pháp lý, quyền và nghĩa vụ của viên chức; tạo cơ sở cho việc
ban hành chính sách tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đãi
ngộ đối viên chức.
Thành phố Hà Nội, với vị trí vai trò là trung tâm chính trị, văn hóa của
cả nước, đã có nhiều chính sách khác nhau nhằm xây dựng đội ngũ viên chức
có kiến thức chuyên môn sâu, kỹ năng làm việc thành thạo, hiệu quả, gắn với
từng vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức. Nghiên
cứu, ban hành nhiều cơ chế chính sách phù hợp, đảm bảo tuyển dụng viên
chức trên cơ sở tự do cạnh tranh; có cơ chế phát huy động lực làm việc, tạo môi
2
trường làm việc, khuyến khích sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ viên chức.
Quận Hà Đông là một trong 10 quận thuộc thủ đô Hà Nội, quận có địa
bàn rộng diện tích tự nhiên là 4791.74 ha. Hà Đông luôn có vị trí lý tưởng
trong quá trình xây dựng và phát triển, luôn là trung tâm phát triển kinh tếvăn hóa- xã hội của Thủ đô. Theo các văn bản Hướng dẫn của Chính phủ, Bộ
Nội vụ, UBND thành phố Hà Nội và sự lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm sát sao
của cấp ủy, chính quyền địa phương, nên việc triển khai, thực hiện chính sách
phát triển viên chức đã được tiến hành đúng quy định, chất lượng đội ngũ
viên chức đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên, hiệu quả chưa thực sự
nổi bật và còn tồn tại những hạn chế nhất định.
Do vậy, chính sách phát triển viên chức thực sự mang lại hiệu quả, có tác
động tích cực nhằm nâng cao hiệu quả công việc phục vụ lợi ích của người
dân, thì việc tìm hiểu thực trạng chính sách phát triển viên chức và đưa ra
viên chức và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập từ năm
1998 đến nay”. (Bộ Nội Vụ, 2010) đã làm sáng tỏ thể chế quản lý và sử dụng
viên chức cả nước, trong đó có bàn đến nội dung phát triển viên chức cả nước.
Sau thời gian thực hiện từ năm 1998 đến 2003, thực hiện chủ trương của
Đảng về tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, đẩy
mạnh phân cấp quản lý cán bộ, công chức, tiếp tục thực hiện cải cách hành
chính nhà nước.
- Các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đã có cách tiếp cận khác
nhau, nghiên cứu lý luận về viên chức, chính sách phát triển viên chức nói
chung và đi sâu vào thực tiễn thực hiện chính sách phát triển viên chức tại
một cơ quan cụ thể. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào
cung cấp đầy đủ và hệ thống về lý luận và thực tiễn chính sách phát triển viên
chức tại một đơn vị hành chính cấp quận, cụ thể là quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài “Chính sách phát triển viên chức từ thực
tiễn Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” hướng tới làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận về chính sách phát triển viên chức, phân tích thực trạng đội ngũ
viên chức và việc thực thi chính sách phát triển viên chức ở Quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển chất
lượng đội ngũ viên chức ở Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong quá trình
phát triển.
Để thực hiện được mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận, lý thuyết về chính sách phát triển viên chức.
- Vận dụng lý thuyết chính sách công để nghiên cứu chính sách phát
chính sách công.
- Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết
liên quan đến chính sách công, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng hiệu quả của chính sách đã ban hành.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan ban ngành
trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách một cách hiệu quả trong thời kỳ
phát triển.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được
bố cục theo 3 chương sau:
- Chương 1: Lý luận về chính sách phát triển viên chức.
- Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Phương hướng hoàn thiện giải pháp chính sách phát triển
viên chức.
6
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
1.1. Lý luận về chính sách phát triển viên chức
1.1.1. Khái niệm về chính sách phát triển viên chức
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của
Đảng cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng sử cơ bản
của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc
đẩy và quản lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước.
Khái niệm Chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách
công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa
chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các
pháp luật Việt Nam, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Nhà xuất bản tư pháp
các Trung tâm trực thuộc Cục được hưởng lương theo hệ số từ quỹ lương của
các đơn vị sự nghiệp công lập (tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày
14/12/2004 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công
chức, viên chức và lực lượng vũ trang); được bổ nhiệm vào một trong các các
ngạch: nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp.
Viên chức gồm có viên chức quản lý, viên chức hành chính và viên chức
chuyên môn. Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý
có thời hạn, chị trách nhiệm điều hành tổ chức thực hiện một hoặc một số
công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và
được hưởng phụ cấp chức quản lý. Viên chức hành chính là những người làm
công việc hành chính tổng hợp. Viên chức chuyên môn là người làm công
việc theo chuyên môn cụ thể.
Chính sách phát triển viên chức là tập hợp các quyết định có liên quan của
nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện
giải quyết các vấn đề của phát triển viên chức theo mục tiêu xác định. Chính
sách phát triển viên chức bao gồm chính sách tuyển dụng, sử dụng; chính sách
đào tạo, bồi dưỡng; có tác động trực tiếp đến việc sử dụng, quản lý viên chức,
8
tạo lập môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ đối với viên chức, hướng đến
mục tiêu phát triển năng lực viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
1.1.2. Vấn đề chính sách phát triển viên chức
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quy trình xây
dựng chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội, mâu
thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội, đến mức cần phải có giải pháp giải
quyết bằng chính sách cho đến khi hoàn thành những mục tiêu của chính sách
công. Những vấn đề đó thường là những mâu thuẫn trong xã hội, những khó
1.1.2.1. Vấn đề tuyển dụng
Tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng
lực đáp ứng yêu cầu công việc, là khâu đầu tiên trong quá trình quản lý nhân
sự. Tuyển dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ viên
chức có đủ phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn tại các cơ quan đáp
ứng đủ nhu cầu giải quyết công việc. Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ
vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và
quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo Điều 21, Luật Viên chức,
việc tuyển dụng viên chức phải theo các nguyên tắc: Bảo đảm công khai,
minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật; bảo đảm tính cạnh
tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm; đề cao
trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; ưu tiên người có
tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số. Việc tuyển
dụng viên chức đã được chuyển đổi từ phân phối theo kế hoạch sang thực
hiện thông qua nhiều phương thức như thi tuyển, xét tuyển, thuyên chuyển,
tiếp nhận và điều động khách quan chất lượng và bước đầu đã chú ý đãi ngộ
người có tài năng. Các đơn vị sự nghiệp đã thực hiện quyền tự chủ trong quản
lý, việc tuyển dụng viên chức đã phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự
nghiệp. Tuy nhiên, việc tuyển dụng viên chức hiện vẫn đang gặp phải vấn đề
chất lượng lượng đầu vào chưa cao, chưa đồng đều; tuyển dụng người không
đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ. Hệ thống các quy định về tiêu chuẩn viên
chức chú trọng vào văn bằng chứng chỉ mà ít chú ý đến năng lực kinh
10
nghiệm. Nhà nước đã có nhiều văn bản quy định việc đổi mới cơ chế quản lý
hoạt động các đơn vị sự nghiệp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho
các đơn vị sự nghiệp. Mặt khác, về văn bản đề ra những quy định rất chặt chẽ
nhưng rất ít các cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm túc, minh bạch mà
tính hình thức, không lấy năng lực và hiệu quả công việc làm tiêu chuẩn để
thực hiện. Đồng thời, quy hoạch không gắn với đào tạo, bố trí sử dụng; chưa
xuất phát từ nhu cầu nhiệm vụ và năng lực thực tế cán bộ. Do vậy mà quy
hoạch không hợp lý, mang tính hình thức và thiếu tính khả thi, chất lượng
chưa cao.
1.1.2.3 Vấn đề nội dung phát triển viên chức chưa đầy đủ
Phát triển viên chức toàn diện bao gồm: phát triển về chuyên môn nghiệp
vụ, chính trị, kỹ năng quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học, kỹ năng mềm, đạo
đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy vấn đề phát triển toàn
diện chưa được quan tâm, có chú trọng đến phát triển chuyên môn nghiệp vụ
và lý luận chính trị nhưng quên mất các kỹ năng quan trọng khác không được
đào tạo bồi dưỡng. Đây là vấn đề cần được quan tâm trong phát triển năng lực
viên chức đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
1.1.2.4 Vấn đề tiếp cận phương hướng phát triển viên chức.
Phát triển viên chức đáp ứng đầy đủ nhu cầu tăng cường năng lực là vấn
đề phát triển toàn diện hài hòa không chỉ về trình độ, năng lực công tác mà
còn về các kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ tin học, giáo dục chính trị tư
tưởng, phẩm chất và trách nhiệm nghề nghiệp. Chính vì vậy đào tạo, bồi
dưỡng viên chức nói chung được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, có
ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên
môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả công việc theo vị trí việc làm.
Theo Điều 33 của Luật viên chức về chế độ đào tạo, bồi dưỡng, việc đào tạo
bồi dưỡng được thực hiện đối với viên chức trước khi bổ nhiệm chức vụ quản
lý, thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức,
kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp. Nội dung, chương trình, hình thức
12
và thời gian đào tạo bồi dưỡng viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức vụ
chế thị trường, dù liên tục điều chỉnh nhưng tăng vẫn không kịp so với tốc độ
trượt giá và mức tăng trưởng của nền kinh tế. Chính sách tiền lương chưa thực
sự là động lực khuyến khích được viên chức nâng cao trách nhiệm, hiệu quả,
phát huy năng lực trong thực thi nhiệm vụ. Nhiều viên chức, trong đó không ít
trí thức trẻ, có trình độ chuyên môn cao chuyển sang làm việc tại các doanh
nghiệp hoặc cơ quan nước ngoài có mức lương cao hơn.
Theo Nghị định số 34/2012/NĐ-CP, viên chức và người lao động đang
làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không được hưởng phụ cấp
công vụ là 25%. Đây là một thiệt thòi lớn vì đội ngũ viên chức trong các đơn
vị sự nghiệp công lập cũng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu
nhất định, thực hiện nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công cho xã hội nhưng lại
không được hưởng chế độ phụ cấp công vụ là thiếu hợp tình và hợp lý. Do
vậy, không khuyến khích được đội ngũ viên chức phấn đấu và nỗ lực hết
mình trong thực hiện nhiệm vụ.
Như vậy, rõ ràng là tiền lương cũng là một trong những vấn đề ảnh
hưởng đến phát triển viên chức, cần phải được tính đến trong phát triển viên
chức ở nước ta cũng như ngành tư pháp hiện nay.
1.1.3. Các chủ thể chính sách phát triển viên chức
Chủ thể tham gia chính sách phát triển viên chức ở nước ta bao gồm
các chủ thể trực tiếp và chủ thể gián tiếp.
Chủ thể trực tiếp là các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực
hiện chính sách phát triển viên chức và các đối tượng thụ hưởng của chính
sách là toàn thể viên chức. Chủ thể trực tiếp bao gồm: những đơn vị chủ quản
quản lý họ.
Chủ thể gián tiếp là các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm phối
hợp trong việc thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước ta. Chủ thể
gián tiếp bao gồm các cơ quan cung cấp nguồn lực (Bộ Tài chính, Sở Tài
chính, phòng Tài chính...) và các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về
chức bảo đảm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức và tài năng của đội
15
ngũ viên chức, phù hợp với quá trình cải cách khu vực dịch vụ công, phát
triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện chính sách tuyển dụng theo vị
trí việc làm và quản lý viên chức theo chế độ hợp đồng làm việc.
* Quốc hội:
Theo Điều 1, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Quốc hội là cơ quan
đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập
hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám
sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Ở Điều 5, Quốc hội quyết định
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội. Quốc hội thảo luận, xem xét, thông qua dự án luật.
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện. Do vậy luật là văn
bản pháp quy hiệu lực cao nhất chỉ sau Hiến pháp. Luật điều chỉnh hành vi
của các cá nhân, các mối quan hệ trong đời sống xã hội, trong đó có Viên
chức. Vì vậy, các văn bản dưới luật đều phải tuân thủ các nội dung của luật do
Quốc hội ban hành.
* Chính Phủ:
Ban hành các văn bản QPPL, cơ chế, chính sách cụ thể để đảm bảo
phát triển nguồn nhân lực là quốc sách hàng đầu.
* Bộ Nội vụ:
Căn cứ Điều 1, Nghị định 58/2014/NĐ-CP, ngày 16/6/2014 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của Bộ Nội
vụ, Bộ Nội vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước một số ngành, lĩnh vực,
trong đó có tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa địa giới
viên chức hiện hành gồm:
- Luật viên chức năm 2010;
- Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ
tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;
17
- Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2014 quy định việc tuyển dụng,
sử dụng và quản lý viên chức;
- Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 hướng dẫn về tuyển
dụng và ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối
với viên chức.
Bảng 1.1: Môi trường thể chế chính sách phát triển viên chức
Hệ thống thể
chế
Quốc Hội
Chính Phủ
Bộ Nội vụ
CấpTrung ương
Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Cấp địa phương
Thẩm quyền
ban hành
Chủ thể ban hành
XI đã tập trung vào ba vấn đề cấp bách cần phải làm ngay đó là: ngăn chặn
18
đầy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp;
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế;
xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị.
1.1.5.2. Quan điểm phát triển của chủ thể
Điều 10, Luật viên chức đã chỉ rõ “Nhà nước tập trung xây dựng các đơn
vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải
chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y
tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa
có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục
tại miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Chính phủ phối hợp với
các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo việc lập quy hoạch, tổ chức sắp xếp lại các
đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xác định lĩnh vực cần tập trung ưu tiên
phát triển, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tập trung nguồn lực nhằm
nâng cao các hoạt động sự nghiệp. Không tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập
chỉ thực hiện dịch vụ kinh doanh thu lợi nhuận. Tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt
động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập; tách chức năng quản lý nhà nước của Bộ,
các cơ quan ngang Bộ với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp công
lập. Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức có đạo
đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
khu vực dịch vụ công; phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng đãi ngộ xứng
về quản lý viên chức còn cơ chế “xin- cho” và giữ nguyên dấu ấn của cơ chế
kế hoạch hóa tập trung trước đây. Cụ thể là:
- Chưa xác định và quy định rõ hoạt động nghề nghiệp của viên chức
thực hiện theo hệ thống chức nghiệp suốt đời hay hệ thống vị trí việc làm.
20