Quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại các cơ sở mầm non tư thục phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KHUẤT THỊ THANH HIỀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ
TẠI CÁCCƠ SỞ MẦM NON TƯ THỤC
PHƯỜNG KHƯƠNG ĐÌNH, QUẬN THANH XUÂN,
HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số

: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ HUỆ

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

KHUẤT THỊ THANH HIỀN



MỞ ĐẦU

1

Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ

13

mầm non
1.1

Môt số khái niệm công cụ

13

1.2

Một số loại hình cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập, vị trí và

19

vai trò của quản lý cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập
1.3

Đặc trưng của công tác quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ

20

mầm non
1.4

32

Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
2.3

Thực trạng về hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo

32

dục mầm non tư thụcPhường Khương Đình
2.4

Thực trạng công tác quản lí hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong

36

các cơ sở mầm non tư thụctại Phường Khương Đình
2.5

Nhận xét chung về thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ

43

trong các cơ sở giáo dục mầm non tư thục tại phường Khương Đình
Chương 3. Một số biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
tại các cơ sở mầm non tư thục tại phường Khương Đình,
quận Thanh Xuân, Hà Nội

50


65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

68


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBGVNV

: Cán bộ giáo viên nhân viên

CS-GD

: Chăm sóc giáo dục

BGDĐT

: Bộ Giáo dục và Đào tạo

GD

: Giáo dục

GD&ĐT

: Giáo dục và Đào tạo

GDMN


THCS

: Trung học cơ sở

TTLT

: Thông tư liên tịch

UBND

: Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
2.1 Thực trạng hoạt động chăm sóc trẻ

33

2.2 Thực trạng thực hiện chương trình GDMN

34

2.3 Mức độ lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ tại các

36

cơ sở mầm non tư thục Phường Khương Đình Quận Thanh Xuân
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ tại các


chăm sóc giáo dục trẻ tại các cơ sở mầm non tư thục

59


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Giáo dục làquốc sách hàng đầu” để xây dựng và phát triển đất nước. Công
tác giáo dục luôn là mối quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì lẽ
đó,Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy
sự nghiệp giáo dục phát triển.
Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối
giáo dục, một con đường quan trọng để phát triển giáo dục nước ta. Xã hội hóa giáo
dục nhằm mục tiêu huy động sự tham gia của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp
giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, làm cho mọi người, mọi tổ
chức đều được đóng góp để phát triển giáo dục cũng như được hưởng thụ những
thành quả giáo dục ngày càng cao.
Hiện nay, nhà nước thống nhất quản lý giáo dục trên quy mô quốc gia, gồm
02 khu vực: công lập và ngoài công lập. Việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục,
phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục ngoài công lập với hai hình thức dân lập và
tư thục, mở rộng liên kết, hợp tác với nước ngoài và phát triển hợp lý cơ sở giáo dục
do nước ngoài đầu tư 100% vốn. Quyền sở hữu của các cơ sở giáo dục ngoài công
lập được xác định theo bộ Luật Dân sự.
Thực tế cho thấy vai trò của khu vực giáo dục ngoài công lập, đặc biệt là
mạng lưới các trường tư thục đang ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình, đặc biệt
là trong giáo dục mầm non.
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt
nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm
mỹ của trẻ em trước 6 tuổi. Những kĩ năng mà trẻ lĩnh hội được qua các chương
trình giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của

trong những năm gần đây đang được coi trọng và mang lại nhiều kết quả tích cực,
song trên địa bàn cả nước nói chung và quận Thanh Xuân nói riêng, hoạt động của
các cơ sở mầm non tư thục vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như: Tình trạng số lượng
nhóm lớp tăng nhanh nhưng không theo quy hoạch, phát triển nhỏ lẻ, manh mún
nằm xen kẽ trong khu dân cư, do đó các nhóm lớp này không ổn định về số lượng,
chất lượng giáo dục. Việc quản lí gặp nhiều khó khăn, công tác quản lý các cơ sở
mầm non tư thục chưa theo kịp sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của loại hình
này. Đội ngũ giáo viên của các cơ sở tư thục hầu hết là người ngoại tỉnh nên thiếu
ổn định. Chất lượng chăm sóc sức khỏe, ăn uống, vệ sinh an toàn thực phẩm và

2


phòng tránh tai nạn tại các cơ sở này còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn nhiều nguy cơ có
ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc giáo dục và sự an toàn của trẻ.
Do tốc độ đô thị hóa nhanh, người dân có xu thế tập trung về các thành phố
lớn nên nhu cầu gửi con đến trường ngày một gia tăng.Theo con số thống kê, hiện
nay ở Hà Nội có 1.270 trường mầm non công lập và 1886 cơ sở mầm non ngoài
công lập. Trong đó Quận Thanh Xuân là địa bàn quận xếp thứ 4 trong tổng số quận
huyện có nhiều cơ sở mầm non ngoài công lập nhất(gần 140 cơ sở mầm non ngoài
công lập). Vì thế, việc quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại các cơ sở mầm
non ngoài công lập nói chung và tư thục nói riêng cần được thực hiện sát sao và
hiệu quả để tạo điều kiện giúp đỡ và phát huy những mặt tốt và ngăn chặn, hạn chế
mặt còn tiêu cực, để giáo dục ngoài công lập nói chung ngày một khẳng định và hòa
nhập với giáo dục công lập, tạo cho lớp trẻ sự phát triển hài hòa và đúng đắn cả về
Đức, Trí, Thể, Mĩ.
Nghiên cứu về quản lí hệ thống GDMN NCL nói chung, và các nhóm lớp tư
thục nói riêng đã được quan tâm chú ý từ lâu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào
vềquản lý các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn phường Khương Đình, quận
Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

toàn bộ công trình kiến trúc”.
- Tác giả Đặng Quốc Bảo có tham luận “Chiến lượng phát triển giáo dục mầm
non - một số vấn đề nhìn từ bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta hiện nay” (Những vấn
đề về chiến lượng phát triển giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa).
Trong bài viết này tác giả đã phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và chiến lượng phát triển giáo dục mầm non [2].
- Tác giả Trần Thị Bích Liễu với cuốn sách: “Kỹ năng và bài tập thực hành
quản lý trường mầm non của hiệu trưởng” đã cung cấp những tri thức khoa học về
nghiệp vụ quản lý trường mầm non và hệ thống các bài tập hình thành các kỹ năng
cơ bản của người hiệu trưởng như: kỹ năng lập kế hoạch.
Tác giả Trần Thị Bích Liễu trong bài báo đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Giáo
dục:“Một số biện pháp nâng cao chất lượng lập kế hoạch của Hiệu trưởng trường
mầm non” đã mô tả các biện pháp lập kế hoạch trong quá trình quản lí nhà trường
của hiệu trưởng các trường mầm non. Đây là cơ sở để hiệu trưởng quản lí tốt hơn
công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trường mầm non nói chung, trong đó có các
trường tư thục[31].

4


- Tác giả Nguyễn Thị Hoài An với đề tài: “Biện pháp quản lý mầm non tư
thục ở Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ” đã chỉ ra các biện
pháp quản lí các cơ sở giáo dục mầm non tư thục ở Hà Nội.
- Tác giả Nguyễn Thị Bích Liên với đề tài: “Biện pháp quản lý chất lượng
các trường mầm non theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể” đã xây dựng quy
trình quản lí nhà trường mầm non theo mô hình quản lí chất lượng tổng thể (TQM).
- Tác giả Trần Ngọc Trâm có bài viết: “Đổi mới quản lý cơ sở giáo dục mầm
non ngoài công lập trong quá trình hội nhập quốc tế” đã chỉ ra cách thức quản lí các
trường mầm non trong quá trình hội nhập.
- Tác giả Nguyễn Thị Thuận có công trình nghiên cứu về “Công tác xã hội

trẻ ở Singapore do các tổ chức doanh nhân và xã hội điều hành và đăng ký với Bộ
Giáo dục. Các trung tâm nuôi dạy trẻ phải được Bộ Phát triển Cộng đồng và Thể
thao cấp giấy phép hoạt động.
Phần lớn các trường mẫu giáo hoạt động 2 buổi trong ngày và 5 ngày
trong tuần. Chương trình học thông thường bao gồm các chương trình Anh
ngữ và một ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, tuy nhiên cũng có các trường mẫu giáo
dành riêng cho học sinh ngoại quốc. Hệ thống giáo dục bậc mầm non giúp trẻ
em phát triển về ngôn ngữ và các kỹ năng đọc, các khái niệm về khoa học và
số học, các kỹ năng về xã hội và sự thưởng thức âm nhạc, các hoạt động và
cách thức vui chơi.
Tại Canada
GDMN Canada không chỉ thuộc Bộ Giáo dục mà còn thuộc cả Bộ Gia
đình và Xã hội. Trong những năm gần đây, GDMN Canada ngày càng phát
triển. Do nhận thức được tầm quan trọng của bậc học này nên GDMN được
coi là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Ngoài chủ
trương thực hiện phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi, Chính phủ Liên bang có
chính sách quốc gia về hỗ trợ chăm sóc giáo dục trẻ thông qua việc cung cấp,
hỗ trợ tài chính hằng tháng đến từng gia đình. Từng gia đình có thể lựa chọn
tự chăm sóc trẻ ở nhà hoặc gửi trẻ đến các trung tâm chăm sóc giáo dục trẻ.
Chính phủ các bang cũng rất quan tâm đến các trung tâm chăm sóc
trẻ ngoài công lập.
Tại New Zealand:
Chương trình giáo dục mầm non của New Zealand được xây dựng trên
nguyên tắc thúc đẩy học sinh học tập và phát triển toàn diện, giáo dục mầm non gắn

6


kết tích cực với việc tăng tính chuẩn bị cho việc học lớp 1, giảm tình trạng học lại
và giảm nguy cơ phải học lớp đặc biệt.



Đầu tư của Nhà nước, kết hợp các nguồn khác (từ các tổ chức phi Chính phủ)
tập trung cho vùng nghèo, vùng khó khăn nhằm rút ngắn khoảng cách giàu- nghèo.
Tất cả những điều này thể hiện rõ chính sách đảm bảo sự công bằng cho mọi trẻ em.
Tại Việt Nam:
Ở Việt Nam bậc học mầm non được xem là bậc học cơ sở của hệ thống
giáo dục quốc dân. Trong quá trình phát triển của bậc học này, nhiều chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã được ban hành. Những vấn đề cơ bản
của bậc học này cũng đã được qui định trong Luật Giáo dục. Điều 24 Luật Giáo dục
năm 2005 đã qui định rõ về việc “Xây dựng chương trình CS - GD mầm non”.
Ngày 25 tháng 7 năm 2009 Bộ GD&ĐT đã có Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT
ban hành Chương trình GDMN.
Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương khuyến khích phát triển các
cơ sở giáo dục mầm non tư thục của Chính phủ, nhiều tổ chức, cá nhân ở các
địa phương đã tiến hành lập dự án xây dựng trường MẦM NON TƯ THỤC. Một số
địa phương đã ban hành các văn bản nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước,
kiểm tra, giám sát, chỉ đạo sự phát triển của các trường, lớp đối với các cơ sở
giáo dục mầm non tư thục phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, vùng
miền, nhằm hướng tới nâng cao chất lượng CS-GD và đảm bảo an toàn cho trẻ. Bộ
GD&ĐT đã ban hành Qui chế “Tổ chức và hoạt động trường MNTT”, ban hành
kèm theo Quyết định số 41/2008/QĐ/ BGDĐT, ngày 25 tháng 7 năm 2008, của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT. Theo Qui chế này, các cơ sở MNTT được tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng
và phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực
hiện mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo
dục, đáp ứng yêu cầu xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của hệ thống cơ sở giáo dục mầm non tư thục
hiện nay cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung tháo gỡ, sửa đổi cả về cơ chế,
chính sách và công tác quản lý.

trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập tại phường Khương Đình, quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
trong các cơ sở mầm non.

9


3.2.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục trẻ; thực trạng quản
lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập tại
phường Khương Đình, quận Thanh Xuân và phân tích nguyên nhân của thực trạng.
3.2.3. Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, luận văn đề xuất một
số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động chăm
sóc,giáo dục trẻ tại các cơ sở GDMN ngoài công lập ở phường Khương Đình, quận
Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí hoạt động chăm sóc, giáo dục
trẻ tạicác cơ sở giáo dục mầm non tư thục tại phường Khương Đình, quận Thanh
Xuân, TP Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Quản lý cơ sở GDMN bao gồm nhiều lĩnh vực, đề
tài giới hạn việc nghiên cứu bốn lĩnh vực sau: Quản lý hoạt động phòng chống tai
nạn thương tích, quản lý chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý chất lượng giáo
dục (chương trình, giáo viên, kiểm tra - đánh giá); tổ chức và quản lý nhân sự của
các cơ sở giáo dục mầm non tư thục phường Khương Đình từ năm 2014 - 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm các văn kiện, tài liệu, các tạp chí, các văn bản có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu.
+ Phân tích, tổng hợp các giáo trình, sách báo, các công trình như các đề tài

5.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm quản lý của các cơ sở mầm non tư thục trên cả nước
thông qua các báo cáo kinh nghiệm, hội thảo khoa học...
5.3. Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ
5.3.1. Phương pháp chuyên gia
Sử dụng phương pháp này trong quá trình xây dựng đề cương, xây dựng
công cụ nghiên cứu, đánh giá các biện pháp đề xuất...
5.3.2. Phương pháp thống kê toán học:Dùng các công thức toán học thống kê
để xử lý kết quả khảo sát, định lượng kết quả nghiên cứu và đưa ra các nhận xét,
đánh giá khoa học.

11


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận của luận văn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã hệ thống hóa các lí luận và thực tiễn về
công tác quản lý, chăm sóc giáo dục trẻ tại các cơ sở mầm non tư thục , góp
phầnlàm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tại các
cơ sở GDMẦM NON TƯ THỤC nói chung và mầm non tư thục nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Phản ánh thực trạng hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ và quản lí hoạt động
chăm sóc, giáo dục trẻ ở các cơ sở GDMN tư thục ở phương Khương Đình, quận
Thanh Xuân, Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở phường
Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong quản lý hoạt
động giáo dục trẻ tại các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn quận Thanh Xuân.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,

QL (-Lập kế hoạch QL- Tổ chức các nguồn lực đế thực hiện kế hoạch QL- Thực
hiện kế hoạch QL- Kiếm tra thực hiện kế hoạch QL- Hành động hiệu chỉnh để đạt
mục tiêu chung của QL trong kế hoạch QL đã lập)”. Đây là một định nghĩa làm
việc, làm cho hoạt động quản lý vừa mang tính khoa học, vừa mang tính công nghệ,
đặc biệt là bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ khi xác định “QL...tácđộng
qualạicủa chủ thể QL và khách thể QL trong đó chủ thể QL đóng vai trò chủ đạo”.
Tác giả Trần Quốc Thành quan niệm: “Quản lý là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và
hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý phù
hợp với quy luật khách quan”[36].

13


Theo các tác giả Vũ Dũng, Nguyễn Thị Mai Lan cho rằng “Quản lý là sự tác
động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể
đến khách thể của nó” [20].
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu: Quản lý là một
quá trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể
quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích
đề ra.
Từ những khái niệm trên cho thấy, về mặt cấu trúc khái niệm có khác nhau,
song đều thể hiện những điểm chung đó là:
Người quản lý giữ vai trò chủ thể quản lý với chức năng điều khiển hệ quản
lý làm cho nó vận hành với mục tiêu đặt ra
Người bị quản lý giữ vai trò khách thể quản lý, bao gồm những người thừa
hành, trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất.
Mục tiêu quản lý là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các biện pháp tác động
lên đối tượng quản lý.
Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý

+ Quản lí quá trình chăm sóc - nuôi dưỡng: Khác với các bậc học khác, giáo
dục mầm non thu hút trẻ từ 3 đến 72 tháng tuổi là độ tuổi mà đòi hỏi sự chăm sóc tỉ
mỉ, nuôi dưỡng khoa học, đòi hỏi sự kết hợp hài hoà giữa sự chăm sóc ở nhà trường
và sự chăm sóc ở gia đình. Bác Hồ đã từng dạy rằng:“Làm mẫu giáo tức là thay mẹ
dạy trẻ, muốn làm được như thế phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ
chịu khó mới nuôi dạy được các cháu... ” (Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch,
NXB Sự thật - HN 1960, tập 5, tr.263)[34, tr.263].
Hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ là tất cả những hành động, việc làm của
giáo viên mầm non thực hiện trong quá trình chăm sóc trẻ tại trường mầm non,
nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt: nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ và
tình cảm kỹ năng xã hội, nhất là sức khỏe, thể chất.
Quản lý hoạt động CS-GD trẻ tại trường mầm non được hiểu là việc xây
dựng, tổ chức các hoạt động CS-GD theo chương trình giáo dục MN nhằm giúp trẻ
phát triển toàn diện theo yêu cầu của xã hội.
Trong quá trình chăm sóc - nuôi dạy trẻ, các nhà quản lý cần quan tâm đến
những công việc cụ thể: Đảm bảo an toàn cho trẻ; Chăm sóc sức khỏe: Tổ chức
khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ, cân kiểm tra sức khoẻ cho trẻ 3 tháng 1 lần, với các
cháu suy dinh dưỡng hoặc béo phì một tháng cân một lần để có những biện pháp
kịp thời về tình trạng sức khoẻ của trẻ nói chung và tình trạng phát triển cân nặng
của trẻ nói riêng, từ đó có biện pháp chăm sóc trẻ hợp lý. Ngoài ra phải tổ chức cho
trẻ ăn theo thực đơn đảm bảo bữa ăn đủ chất, hợp lý và phù hợp với chế độ ăn theo
từng độ tuổi của trẻ trong trường mầm non, thực đơn phải thay đổi theo ngày, theo
tuần và theo mùa. Mặt khác nhà quản lý còn phải lưu tâm đến vấn đề vệ sinh thân
thể của trẻ, vệ sinh phòng nhóm, lớp học và phòng chống dịch bệnh.
Hoạt động giáo dục trẻ mầm non bao gồm: Hoạt động có chủ đích, Hoạt động
vui chơi, hoạt động lao động, hoạt động vệ sinh, hoạt động ăn ngủ.

17






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status