Liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện ba vì, thành phố hà nội tt - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K

ĐINH THỊ BÍCH HẢO

LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀO CHUỖI
SẢN PHẨM BÒ SỮA Ở HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số

: 60.34.04.10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học:

TS. LÊ ANH VŨ

Phản biện 1: PGS.TS. PHẠM TRUNG LƯƠNG
Phản biện 2: TS. LÊ MINH NGHĨA


trợ cho chuỗi sản xuất lúa gạo chưa được thiết lập.
Theo Sykuta và Parcell (2003), thực hiện nông nghiệp hợp đồng
là hệ giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn là nông dân thiệt thòi trong
quan hệ với DN chế biến và DN thu mua.
Liên kết nông dân – doanh nghiệp cũng thu hút được sự quan tâm
của nhiều tác giả trong đó Hồ Quế Hậu đã phân tích tổng quát về thực
trạng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến nông sản Việt
Nam trong thời gian qua. Mối liên kết này còn được đề cập đến dưới
một tên gọi khác là nông nghiệp hợp đồng trong một số nghiên cứu gần
đây của Nguyễn Thị Bích Hồng (2008),Nguyễn Thị Hà (2010).

1


Có thể khẳng định, các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp theo
hình thức hộ sản xuất hàng hóa đã xuất hiện và phát triển ở nhiều nơi.
Tuy nhiên, những hạn chế trong việc liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp vẫn là phổ biến.Do vậy, tác giả mong muốn
nghiên cứu về “Liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa
ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội” để có những giải pháp tăng cường
liên kết các chủ thể trong chuỗi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:Trên cơ sở làm rõ về cơ sở lý luận và thực
trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì
hiện nay, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh liên kết các chủ thể tham gia
chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì.
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn về liên kết kinh tế của các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm nông
nghiệp; Làm rõ thực trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản
phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, qua đó đánh giá được những tồn tại, hạn

để xử lý số liệu, phương pháp thống kê so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: góp phần làm rõ về mặt lý luận về liên kết các chủ
thể trong chuỗi nông sản trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Ý nghĩa thực tiễn: góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc
khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy liên kết phát triển chuỗi cung ứng
nông sản ở nước ta hiện nay; là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý,
các viện nghiên cứu và trường đại học.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham
khảo, đề tài kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết các
chủ thể trong chuỗi nông sản

3


Chương 2: Thực trạng liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò
sữa tại huyện Ba Vì, Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể
trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Hà Nội
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ TRONG CHUỖI NÔNG SẢN
1.1. Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản
1.1.1. Khái niệm liên kết
Có nhiều khái niệm khác nhau về liên kết:
Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ
thống thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát
nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể.

mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm,
thành phẩm và phân phối chúng đến người tiêu dùng.
Tác giả Christopher cho rằng chuỗi sản phẩm là mạng lưới của
những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược
và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm
tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng, bao
gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản
phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến
khách hàng cuối cùng.
Như vậy, theo các quan điểm đã trích dẫn, về cơ bản một chuỗi
sản phẩm bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó
có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm:- Cung cấp: tập trung vào các hoạt
động cung cấp đầu vào cho sản xuất ra sao? chủ thể chế biến hoặc
chuyển đổi trong chuỗi mua nguyên liệu như thế nào? mua từ đâu và
khi nào nguyên liệu được cung cấp?- Sản xuất: là quá trình chuyển
đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng.- Phân phối: là quá

5


trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được cung ứng đến người tiêu dùng
cuối cùng một cách kịp thời và hiệu quả.
Kết luận: chuỗi nông sản là chuỗi sản phẩm bao gồm tất cả các
khâu từ cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm đến tay người tiêu dùng; chuỗi nông sản không chỉ bao gồm
nhà cung cấp đầu vào, nhà sản xuất, nhà chế biến, mà còn liên quan
đến hoạt động thương mại, kinh doanh, bán hàng và người tiêu dùng.
1.1.3. Tính tất yếu liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản
Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản là tất yếu vì:
- Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản là vô cùng cần thiết

yêu cầu của thị trường buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với
các nhà có điều kiện cung cấp các dịch vụ đầu vào, đầu ra.
Nhân tố về cơ chế chính sách: Chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước đóng vai trò định hướng cho phát triển kinh tế nói
chung, sự phát triển nền nông nghiệp và mối liên kết giữa các chủ thể
nói riêng. Yếu tố này càng được quan tâm đúng ñắn, kịp thời thì hiệu
quả liên kết càng cao.
Năng lực liên kết của các chủ thể: gồm(1) năng lực liên kết của
hộ nông dân: năng lực liên kết của hộ nông dân được đánh giá thông
qua 3 yếu tố đó là nhận thức của hộ về liên kết, khả năng kinh tế của
hộ để tham gia liên kết và quy mô sản xuất của hộ. (2) năng lực liên
kết của DN: Năng lực liên kết của DN phụ thuộc vào các yếu tố đó là
quy mô DN, khả năng cạnh tranh của sản phẩm và nhu cầu của thị
trường về sản phẩm của DN.

7


1.2. Kinh nghiệm liên kết kinh tế các chủ thể tham gia vào chuỗi
nông sản ở một số địa phương trong nước
1.2.1. Mô hình liên kết tại tỉnh Vĩnh Long trong sản xuất lúa hàng
hóa
Vĩnh Long là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có diện
tích nông nghiệp hơn 116 ngàn ha, chiếm 78% diện tích đất tự nhiên
với dân số hơn 1.031 ngàn người. Vụ Đông Xuân năm 2013-2014,
tỉnh Vĩnh Long đã mở rộng dự án cánh đồng mẫu lớn với 3.183ha và
vận động được một số DN thực hiện liên kết trong sản xuất, tiêu thu
lúa trong vùng dự án cánh đồng mẫu lớn. Theo đó, các DN đầu tư
thuốc bảo vệ thực vật theo hình thức trả chậm; các DN kinh doanh
sản phẩm lúa gạo đã phối hợp với chính quyền địa phương, ký hợp

chăm sóc thì hợp đồng mới thu hút được nông dân, mới có động lực
để phát triển.
Chương 2
THỰC TRẠNG LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ TRONG CHUỖI
SẢN PHẨM BÒ SỮA TẠI HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết các chủ thể trong chuỗi
sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Huyện Ba Vì có tổng diện tích tự nhiên 42.804 ha, trong đó đất
nông nghiệp 29.183 ha (chiếm trên 68% diện tích tự nhiên), dân số
khoảng 280 ngàn người, hơn 70% tổng dân số làm nông nghiệp. Đặc
điểm riêng của Ba Vì là địa hình được hạ thấp từ Tây Nam lên Đông
Bắc do ngọn núi Ba Vì nằm ở phía nam của huyện và Sông Đà có
đoạn chảy ngược lên phía Bắc. Do địa hình trên mà tạo nên những
vùng đồi thấp, thoai thoải kiểu bình nguyện, thảo nguyên quanh chân
núi Ba Vì rất thuận lợi cho chăn nuôi gia súc, nhất là chăn nuôi bò
sữa.

9


2.1.2. Cơ chế, chính sách
Chính sách hỗ trợ đất đai, vốn, khoa học kỹ thuật, chính sách
khuyên khích doanh nghiệp liên kết với nông dân...
Luật Đất đai năm 1993, sau đó sửa đổi, bổ sung năm 2003 và
năm 2014; Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại; Nghị
quyết 09/2000/NQ-CP và Quyết định 167/2000/QĐ-TTg ngày
26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển chăn nuôi bò sữa
giai đoạn 2001-2010;Quyết định số 22/2005/QĐ-BCN ngày
26/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt dự án phát triển

Dự án Jica giai đoạn 2001-2012 đã giúp cho năng lực quản lý,
chữa trị bệnh, kỹ thuật chăn nuôi được thay đổi một cách rõ rệt tại
vùng Ba Vì như: đã áp dụng các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phù
hợp cho từng giai đoạn phát triển của bê, bò sữa; sử dụng kỹ thuật
thụ tinh nhân tạo 100% cho bò sữa; sử dụng công nghệ cấy truyền
phôi, sử dụng hormone để tăng năng suất sinh sản cho đàn bò; sử
dụng tinh phân ly giới tính để tăng đàn bò cái; sử dụng các tiến bộ kỹ
thuật để chế biến thức ăn nâng cao giá trị dinh dưỡng trong khẩu
phần của bò sữa; có những giải pháp khống chế và điều trị có hiệu
quả các bệnhvề chân móng,sinh sản, lệch dạ múi khế. Qua đó góp
phần thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì.
2.1.5. Nhận thức của các chủ thể
Đối với hộ chăn nuôi: Trình độ còn hạn chế, điều kiện kinh tế
còn gặp nhiều khó khăn, SX còn lạc hậu, quy mô SX còn nhỏ lẻ,
manh mún nên nhận thức của nông hộ về vấn đề liên kết trong SX và
tiêu thụ sản phẩm vẫn còn nhiều bất cập.
Đối với doanh nghiệp: Các DN tham gia liên kết bao gồm các
DN hoạt động về cung ứng giống, cung ứng vật tư và DN chế biến
tiêu thụ... song chủ yếu là các DN vừa và nhỏ, nên năng lực liên kết
của DN cũng có những hạn chế.

11


2.2. Liên kết các chủ thể
2.2.1. Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Ba Vì
Bảng 2.1. Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn
huyện
Giaiđoạn(từ
năm,đếnnăm)


1.200÷4.500

3÷5

3.500÷4.500

8.000÷10.000

2011÷2015

1.200÷1.800

4.500÷10.000

5÷7

4.200÷5.200

11.000÷13.000

Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10/2016 của tác giả
2.2.2. Chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì
Chuỗi sản phẩm bò sữa huyện Ba Vì gồm 6 chức năng cơ bản
sau: (1) Chức năng đầu vào.(2) Chức năng sản xuất. (3) Chức năng
thu gom. (4) Chức năng chế biến. (5) Chức năng thương mại. (6)
Chức năng tiêu dùng. Tương ứng với 6 chức năng trên, chuỗi sản
phẩm bò sữa huyện Ba Vì có 7 chủ thể chính tham gia bao gồm: (1)
Nhà cung cấp bò sữa giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và công
cụ chăn nuôi, (2) Hộ nông dân chăn nuôi bò sữa, (3) Trạm thu gom

như 100%). Kết quả điều tra đối với 200 hộ chăn nuôi cho thấy: Hộ
chăn nuôi chỉ được hỗ trợ một phần về dịch vụ tiêm phòng cho bò
sưa, hầu như 100% các hộ chăn nuôi phải tự trả chi phí thú y mỗi khi
bò sữa bị bệnh. Kinh phí cho việc chữa bệnh cho bò sữa mỗi năm
cũng tương đối lớn, bình quân 3-5 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, cũng
nhiều hộ gặp rủi ro do bò sữa bị bệnh không chữa trị đúng cách và

13


kịp thời, dẫn đến phải thải loại bò bán cho lò giết mổ với giá rẻ, gây
tổn thất lớn cho các hộ chăn nuôi, có hộ tổn thất 10-20 triệu
đồng/năm.
* Liên kết các chủ thể cung ứng vốn cho hộ chăn nuôi
Liên kết trong cung ứng vốn diễn ra như sau: Hộ chăn nuôi bò sữa
huy động vốn chủ yếu từ ngân hàng, quỹ tín dụng, người thân, họ hàng.
Do đặc điểm chăn nuôi bò sữa cần vốn đầu tư ban đầu lớn, đầu vào cho
chăn nuôi không thể trả chậm nên hộ chăn nuôi có nhu cầu vay vốn cao.
Kết quả điều tra đối với 200 hộ chăn nuôi, chỉ 25% (50 hộ) là dùng vốn
tự có của gia đình, cùng với vay người thân, họ hàng, 75% (150 hộ) phải
vay vốn chủ yếu từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một phần từ các
nguồn hỗ trợ khác như quỹ khuyến nông, hụi, họ, phường.
2.3.2. Liên kết các chủ thể sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ
sản phẩm bò sữa
* Liên kết hộ chăn nuôi – hộ chăn nuôi
Mối liên kết phổ biến nhất giữa các hộ mới thể hiện dưới các hình
thức sơ khai như: đổi công cho nhau, trao đổi thông tin, kinh nghiệm sản
xuất mà ít thể hiện các mối liên kết thị trường. Một số nhóm hộ chăn
nuôi bò sữa thành lập hội cùng sở thích, cùng nhau chơi phường để quay
vòng vốn giúp đỡ các hộ trong hội.

thác các kênh tiêu thụ khác nhau của thị trường trong nước gồm kênh
tiêu thụ truyền thống (khai thác các điểm bán hàng, các khu du lịch ở
các tỉnh trong cả nước); kênh siêu thị, trung tâm thương mại; kênh
trường học, các khu công nghiệp...
2.4. Tác động của liên kết đến các chủ thể trong chuỗi sản phẩm
bò sữa ở huyện Ba Vì
2.4.1. Tác động đến hộ nông dân:được tiếp cận được thông tin về thị
trường tốt hơn, được bao tiêu sản phẩm và được thanh toán kịp thời;
được tạo điều kiện trong việcvay vốn với thủ tục nhanh, gọn, không
rườm rà; được công ty chế biến sữa lựa chọn giúp công ty cung cấp

15


thức ăn chăn nuôi do vậy cũng được đảm bảo hơn về chất lượng, giá
cả; được hỗ trợ tiêm phòng dịch đại trà từ Thú y xã, huyện, được hỗ
trợ trong việc tập huấn phòng bệnh; được lợi ích trong việc nâng cao
được kiến thức, kỹ thuật chăn nuôi.
2.4.2. Tác động đến Nhà khoa học: được truyền đạt các lớp đào tạo,
tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, và từ đó phần nào tăng thêm thu nhập cho
các Nhà khoa học, bên cạnh đó họ cũng tích lũy được kinh nghiệm từ
thực tế, nâng cao trình độ của mình.
2.4.3. Tác động đến doanh nghiệp:giúp cho thị phần bán hàng của
doanh nghiệp được ổn định hơn, từ đó góp phần nâng cao số lượng, doanh
số, thu nhập của doanh nghiệp.
2.4.4. Tác động đến người thu gom, chế biến:giúp người thu gom,
chế biến thu được giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản phẩm.
2.5. Đánh giá những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những
tồn tại hạn chế trong liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản
phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì

2.5.2. Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế.
- Đối với hộ chăn nuôi: Do sản phẩm sản xuất ra của hộ chăn
nuôi là sữa tươi nên nhu cầu liên kết của hộ chăn nuôi trong tiêu thụ
sản phẩm sữa tươi là cao.
- Đối với các công ty chế biến sữa: Các công ty chế biến sữa nói
chung là vì mục tiêu lợi nhuậnsẵn sàng nhập sữa bột nguyên liệu từ
nước ngoài về (với giá rẻ hơn giá sữa tươi) để hoàn nguyên thay thế
sữa tươi đầu vào chế biến các sản phẩm sữa. Trong khi đó, hiện nay ở
Việt Nam cơ chế minh bạch trong tiêu chuẩn, chất lượng các sản
phẩm sữa chưa rõ ràngtrên thị trường.
- Đối với các Trạm Thu gom: Các trạm thu gom còn có quy mô
nhỏ, với trữ lượng thu gom bình quân trên 2 tấn sữa/trạm/ngày, cũng
ảnh hưởng đến liên kết thu gom cho hộ chăn nuôi.

17


- Đối với Chính quyền huyện, xã: Chính sách về liên kết chưa
hoàn thiện, đồng bộ; việc đầu tư cho khoa học nói chung, nghiên cứu
và triển khai chuyển giao KHKT còn ít; chế độ, sự hỗ trợ đối với cán
bộ khoa học còn thấp; chưa khuyến khích, hỗ trợ họ trong việc tham
gia liên kết kinh tế.
- Đối với Chính phủ, các bộ, ngành chức năng: Chưa quy định
cụ thể tỷ lệ nhập sữa bột nguyên liệu trên tỷ lệ thu mua sữa tươi của
các công ty sữa để đảm bảo ổn định cho người chăn nuôi bò sữa.
Chương 3
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT
CÁC CHỦ THỂ TRONG CHUỖI SẢN PHẨM BÒ SỮA
Ở HUYỆN BA VÌ
3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế

trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Chính quyền
huyện Ba Vì giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt
động của các chủ thể trong chuỗi bò sữa.
* Quan điểm thứ hai: Liên kết phải có lộ trình, không tách rời, cần
phù hợp với các chương trình, mục tiêu, định hướng phát triển chung
của cả nước, vùng về tái cơ cầu ngành nông nghiệp theo hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đảm bảo sự gắn kết giữa
sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ nhằm phát triển sản xuất kinh
doanh tốt đem lại hiệu quả chung của ngành nông nghiệp.
* Quan điểm thứ ba: Liên kết giữa các chủ thể hướng tới nâng cao
kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa phải theo cơ chế thị
trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông
dân và người tiêu dùng, đồng thời cả mục tiêu kinh tế, xã hội và môi
trường.

19


3.2.2. Một số mục tiêu chủ yếu về vấn đề liên kết các chủ thể
Môi trường liên kết ngày càng được cải thiện, đáp ứng yêu cầu,
tạo thuận lợi cho các chủ thể liên kết với nhau để nâng cao năng suất,
cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng cho chuỗi.
Tỷ lệ các đối tượng tham gia liên kết ngày càng cao.
Nâng cao nhận thức, hiểu biết của các chủ thể tham gia liên kết.
3.3. Một số giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể tham gia
vào chuỗi sản phẩm bò sữa huyện Ba Vì
3.3.1. Hoàn thiện quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa huyện Ba Vì
Xây dựng và công bố công khai quy hoạch, các dự án phát triển
các vùng sản xuất hàng hóa nông sản. Quy hoạch phát triển cần phải
gắn với quy hoạch tiêu thoát nước, quy hoạch bảo vệ rừng, bảo vệ tài

* Đối với cán bộ khoa học: Cần có cơ chế, chính sách để thu hút các
nhà khoa học, liên kết với nhà khoa học trong việc đầu tư nghiên cứu
và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa nhằm tạo
ra sữa có chất lượng cao đặc trưng của Sữa Ba Vì; thành lập Công ty
giống bò sữa Ba Vì nhằm nghiên cứu đưa ra chăn nuôi trên địa bàn
huyện những giống bò sữa chất lượng cao, phù hợp với điều kiện tự
nhiên, khí hậu của vùng núi Ba Vì, giúp các hộ chăn nuôi được liên
kết, tiếp cận với giống bò sữa tốt trong chăn nuôi, cải thiện giống bò
sữa hiện nay đang chăn nuôi. Thiết lập hệ thống quản lý mạng từ xã,
phường đến huyện, tỉnh, doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả chọn lọc
đàn giống; Phòng trị kịp thời và hiệu quả bệnh bò sữa; Vệ sinh thú y,
hạn chế các bệnh về chuyển hóa trong dinh dưỡng.
* Đối với Trạm thu gom sữa tươi: Cần có cơ chế tạo điều kiện để các
Trạm thu gom sữa tươi được đầu tư mở rộng quy mô, đảm bảo tiêu
chuẩn kỹ thuật trong việc bảo quản sữa tươi để tăng sản lượng thu
mua sữa tươi của các Trạm thu gom.
* Đối với Các công ty chế biến sữa trên địa bàn

21


Cần có cơ chế tạo điều kiện để các Cơ sở chế biến tư nhân nhỏ,
các công ty TNHH kinh doanh về các sản phẩm sữa, chế biến sữa có
điều kiện hoạt động và phát triển, qua đó sẽ tăng cường được liên kết
của các Công ty đối với các Trạm thu gom sữa và tăng cường liên kết
đối với hộ chăn nuôi.
3.3.5. Phát triển các tổ chức đại diện cho nông dân (Hợp tác xã, tổ
hợp tác)
Thực hiện chuyển đổi các Hợp tác xã hoạt động theo đúng Luật
Hợp tác xã năm 2012; có các chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho các Hợp

xuất thức ăn TMR (Total Mixed Ration) trên địa bàn huyện.
Đề xuất giải pháp đối với Thành phố Hà Nội và các bộ/ngành:
xây dựng tiêu chuẩn, chất lượng sữa Ba Vì để đảm bảo minh bạch về
chất lượng trong các sản phẩm sản xuất từ sữa tươi nguyên chất,
nhằm bảo quyền lợi của người người chăn nuôi và tiêu dùng; Nhà
nước cần quy định về tỉ lệ nhập sữa bột nguyên liệu theo tỉ lệ thu mua
sữa tươi để đảm bảo sự ổn định cho người chăn nuôi nếu không sự
rủi ro lớn sẽ thuộc về người chăn nuôi chứ không phải là nhà doanh
nghiệp.
KẾT LUẬN
Luận văn xác định mục tiêu là trên cơ sở nghiên cứu lý luận
và thực tiễn, để đề xuất một số giải pháp khả thi cho việc thực hiện
liên kết kinh tế giữa Hộ chăn nuôi với các chủ thể trong sản xuất, thu
gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm sữa tươi trên địa bàn huyện Ba
Vì, Thành phố Hà Nội. Để giúp ngành chăn nuôi bò sữa của huyện
Ba Vì phát triển và ổn định, tác giả đề xuất một số giải pháp tập trung
vào thúc đẩy liên kết của các chủ thể như hoàn thiện quy hoạch vùng
sản xuất, đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, tăng
cường năng lực liên kết cho các chủ thể… là những giải pháp cần chú
ý hiện nay.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status