Thực trạng công tác tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012 - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng là một bệnh thường gặp ở các nước đang phát triển trong đó có
Việt Nam. Hậu quả của suy dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sự phát triển thể
chất mà còn ảnh hưởng tới phát triển tinh thần, trí tuệ và để lại hậu quả cho xã hội.
Trong 10 năm gần đây, Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng
nhanh, cùng với thành tựu đó tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng trẻ em cũng được cải
thiện. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng từ 50% trong những năm 90 xuống còn 30,1% vào năm
2002 và xuống còn 19,9% năm 2008. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được coi là nước có tỉ
lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn chiếm tới 32,6% [8].
Trong những thập niên gần đây, nước ta đã và đang nỗ lực giải quyết gánh
nặng suy dinh dưỡng bằng rất nhiều giải pháp, trong đó có chương trình nuôi con
bằng sữa mẹ. Không ít các hội thảo trong và ngoài nước dành riêng cho chương
trình này. Tổ chức quỹ nhi đồng liên hợp quốc đã coi nuôi con bằng sữa mẹ là một
trong bốn biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em [1].
Nuôi con bằng sữa mẹ đảm bảo vệ sinh hơn và rẻ hơn nuôi trẻ bằng các
thực phẩm khác. Thêm vào đó, các thành phần miễn dịch có trong sữa mẹ giúp trẻ
chống lại những bệnh nhiễm trùng phổ biến. Trẻ được bú mẹ sẽ giúp trẻ nâng cao
sức khỏe khi bước vào môi trường không gian bên ngoài. Sữa mẹ là thực phẩm ưu
việt trên toàn Thế Giới, đặc biệt nó chiếm một vị trí quan trọng trong các nước đang
phát triển, nơi mà có nhiều gia đình nghèo hơn, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe yếu
kém hơn, môi trường sức khỏe nói chung có nhiều nguy hiểm hơn. Như vậy quỹ nhi
đồng liên hợp quốc (UNICEFF) đã thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ như một
phần chính của chiến lược cải thiện cuộc sống trẻ thơ [27].
Bên cạnh đó, khi nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh thì hàng loạt
những sản phẩm sữa hộp và các sản phẩm thay thế sữa mẹ được bày bán công khai,
quảng cáo ở nhiều nơi đã ảnh hưởng không ít tới việc nuôi trẻ.
Ở Việt Nam, chương trình nuôi con bằng sữa mẹ đã được triển khai nhiều
thập kỷ nay và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Việc khuyến khích, hỗ trợ



2

Thang Long University Library


Header Page 3 of 126.

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Một số định nghĩa về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ
- Sữa mẹ: Được tạo ra từ hệ thống tuyến sữa trong vú của người phụ nữ từ
khi có thai tháng thứ 4 trở đi, bắt đầu có nhiều từ khoảng 24 đến 48 giờ sau khi
sinh. Sữa mẹ được xem như là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất cho trẻ sơ
sinh, trước khi trẻ có thể tiêu hóa các loại thực phẩm khác.
- Nuôi con bằng sữa mẹ (breastfeeding): là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ
được trực tiếp bú sữa mẹ hoặc gián tiếp uống sữa mẹ được vắt ra[22].
- Bú mẹ hoàn toàn (exclusive breastfeeding): Trong đó trẻ chỉ được ăn sữa
mẹ qua bú trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua vắt sữa mẹ hoặc bú trực tiếp tù
người mẹ khác, ngoài ra không được nuôi bằng bất cứ loại thức ăn đò uống nào
khác. Các thứ khác ngoại lệ được chấp nhận là các giọt dạng dung dịch có chứa
vitamin, khoáng chất hoặc thuốc [22].
- Tƣ vấn trực tiếp về NCBSM: là quá trình trao đổi trực tiếp với cán bộ y
tế về những vấn đề liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ.
- Tƣ vấn gián tiếp: Người tham gia tư vấn được tìm hiểu về nội dung cần tư vấn
thông qua hình ảnh, báo chí, tờ rơi, băng hình hay các phương tiện truyền thông.

1.2. Thành phần dinh dƣỡng của sữa mẹ
Sữa mẹ là thức ăn tự nhiên hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ
vì trong sữa mẹ có đầy đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như

Một thành phần quan trọng của sữa mẹ mà không một loại sữa nào khác có
thể thay thế được là chất kháng khuẩn. Đó là các kháng thể IgA có nhiều nhất
trong sữa non và giảm dần ở các ngày sau đó. Lactofein là một protein gắn sắt
có tác dụng kìm khuẩn không cho vi khuẩn ưa sắt phát triển. Các enzyme
lactozym có tác dụng diệt khuẩn. Và hơn 80% tế bào trong sữa là các lympho
bào, thực bào có tác dụng thực bào và tiết IgA, interferon có tác dụng ức chế
hoạt động của vi khuẩn, virus, nấm…[30]. Ngoài ra trong sữa mẹ còn có yếu tố
kích thích sự phát triển của vi khuẩn lactobacillus bifidus, lấn át sự phát triển
của vi khuẩn gây bệnh như Ecoli. Sữa mẹ có khoảng hơn 100 thành phần không
tìm thấy trong bất kỳ loại sữa công thức nào, hầu như không có một đứa trẻ nào
dị ứng với sữa mẹ mình.

Footer Page 4 of 126.

4

Thang Long University Library


Header Page 5 of 126.

1.3. Tầm quan trọng của NCBSM

1.3.1. Đối với trẻ
-

NCSM giúp trẻ phát triển tốt hơn: Do thành phần và tính chất ưu việt

như vậy nên NCBSM là biện pháp dinh dưỡng tối ưu cho trẻ [39]. Nhiều nghiên
cứu cho thấy có một sự liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ với việc



Header Page 6 of 126.

cho bú ít nhất 2 năm làm giảm bệnh tật và đặc biệt ỉa chảy và những bệnh nhiễm
trùng khác. NCBSM làm giảm những trường hợp chết do ỉa chảy 32%, nhiễm
khuẩn hô hấp 22%, và những nhiễm trùng khác là 17% [25].
Ở Châu Mỹ La Tinh hàng năm có khoảng 500 nghìn trẻ em dưới 5 tuổi
chết do ỉa chảy, mà hầu hết xảy ra ở trẻ em dưới 1 tuổi. Người ta nhận thấy rằng
nguy cơ trẻ chết do ỉa chảy ở trẻ em ăn nhân tạo cao hơn gấp 14 lần so với trẻ
được bú mẹ [16], [17]. Những nghiên cứu do Brend & cộng sự (1988), Victoria
và cộng sự (1997),(1987), cũng chỉ ra rằng hầu hết những trường hợp bệnh
nhiễm khuẩn cấp ở trẻ em có sự liên quan lớn đối với trẻ được nuôi bằng nhân
tạo [13], [34], [35].
Theo thống kê của UNICEF cho thấy suy dinh dưỡng protein- năng
lượng xuất hiện nhiều nhất ở lứa tuổi từ 4 đến 18 tháng tuổi trong đó ở lứa tuổi
dưới 12 tháng có nguyên nhân chủ yếu là không được bú sữa mẹ hoặc cho trẻ ăn
bổ sung quá sớm [30].
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Trọng An, Đào Ngọc Diễn (1993) ở
các trẻ nội ngoại thành cũng chỉ rõ tỉ lệ suy dinh dưỡng và mắc bệnh tiêu chảy,
nhiễm trùng hô hấp ở trẻ dưới 12 tháng cao hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm trẻ
không được bú mẹ so với nhóm trẻ được bú mẹ[5].
Ngoài bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp và suy dinh dưỡng, Ducan và
cộng sự (1993) nghiên cứu trên 1200 trẻ nhỏ chỉ ra rằng số trể bị viêm tai giữa ở
trẻ bú mẹ hoàn toàn từ 4-6 tháng chỉ bằng 1/2 trẻ không được bú mẹ và bằng
40% số trẻ được bú mẹ và cho ăn < 4 tháng [19].
NCBSM là biện pháp nuôi dưỡng tự nhiên, tuyệt đối an toàn và hiệu quả.
Chandra (1979) thấy rằng trẻ được bú mẹ không những giảm tỉ lệ nhiễm trùng
mà còn giảm tỉ lệ dị ứng ở trẻ nhỏ [15]. Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng. Trẻ
được bú mẹ ít bị dị ứng, aczema so với trẻ ăn sữa bò [3].

NCBSM có điều kiện gắn bó mẹ con, mẹ và con có nhiều thời gian gần
gũi tự nhiên đó là yếu tố tâm lý quan trọng giúp cho sự phát triển hài hòa của
đứa trẻ, cả về trí tuệ, nhân cách và tình cảm, giúp cho bà mẹ giảm căng thẳng và
đặc biệt giảm tỉ lệ bệnh trầm cảm sau sinh [4].

1.3.4. Hiệu quả kinh tế của NCBSM
Sữa mẹ luôn có sẵn và ở nhiệt độ thích hợp, cho trẻ ăn ngay dù mùa
đông hay mùa hè. Cho con bú sữa mẹ sẽ thuận lợi vì không phụ thuộc vào giờ
giấc, không cần phải đun nấu, dụng cu pha chế. Trẻ bú sữa mẹ sẽ kinh tế hơn
nhiều so với nuôi nhân tạo bằng sữa bò hay bất cứ loại thức ăn nào khác, vì bà
mẹ sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, tiền bạc vì không phải chi phí cho việc
mua, vận chuyển, phân phối và chuẩn bị thực phẩm. Khi người mẹ ăn uống đầy
đủ, tinh thần thoải mái thì sẽ đủ sữa cho con bú.

Footer Page 7 of 126.

7


Header Page 8 of 126.

1.4. Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc NCBSM
1.4.1. Trình độ văn hóa của bà mẹ
Nhiều nghiên cứu được tiến hành về các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ
NCBSM. Theo nghiên cứu của Sjolin và cộng sự (1995) nghiên cứu trên 200 bà
mẹ ở Nigieria thấy rằng các bà mẹ sống trong điều kiện tốt và có trình độ cao thì
thời gian cho con bú kéo dài hơn [32]. Một nghiên cứu tại Việt Nam được tiến
hành bởi Swenson và cộng sự (1993) cho thấy rằng thời gian cho con bú của các
bà mẹ trình độ văn hoá cao và sống ở các tỉnh khác nhau có khác nhau [33].
Như vậy, kiến thức và thái độ của bà mẹ đóng vai trò rất quan trọng trong tình

sữa đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý bà mẹ chọn sữa nuôi con.

1.4.3. Ảnh hưởng của cán bộ y tế đến thực hành NCBSM
Vai trò của cán bộ y tế và những người phục vụ về sức khỏe có ảnh
hưởng rất lớn đến việc nuôi con của các bà mẹ. Trong các nhà hộ sinh cũng như
những phòng khám phụ nữ hoặc ở nơi chăm sóc sau đẻ, nó lại càng đặc biệt
quan trọng, bởi vì họ đến đây trong tình trạng cần được chăm sóc sức khỏe hoặc
vì những bệnh tật của họ. Những cán bộ y tế trở thành một phần của xã hội ảnh
hưởng mạnh mẽ đến họ [22], [36]. Các cán bộ y tế có ảnh hưởng tới hành vi về
nuôi con của các bà mẹ bằng cách cung cấp thông tin, hướng dẫn cách chăm sóc
và bảo vệ nguồn sữa. Cả hai việc đều làm cho bà mẹ hiểu và bảo vệ được nguồn
sữa [29].
Những thực hành của cán bộ y tế đóng một vai trò quan trọng trong việc
cho con bú sớm. Nghiên cứu của Omotola va Kingele (1985) cho thấy rằng 80%
trẻ được bú mẹ trong vòng 48 giờ đầu sau khi đẻ hầu hết các bà mẹ đều vứt bỏ
sữa non trong vòng 24 giờ đầu lý do chủ yếu là các bà mẹ không được nhận
những lời khuyên thích hợp và mẹ và con phải nằm tách nhau sau khi sinh. Tác
giả đã nhấn mạnh nên có một chương trình giáo dục dinh dưỡng [28].
Kết quả nghiên cứu của Morrow (1992) cũng tìm thấy rằng một số cán bộ
y tế Việt Nam thậm chí ở trong các Bệnh viện lớn cũng cho các bà mẹ những lời
khuyên không đúng, những điều đó làm trì hoãn việc cho trẻ bú sớm từ 1-3 ngày
sau đẻ [26].
Nhiều nghiên cứu khác cho thấy việc giáo dục của cán bộ y tế, cho con
nằm chung với mẹ sau khi đẻ, cho trẻ bú sớm có ảnh hưởng tích cực đến tỉ lệ và
thời gian cho bú [21], [41].

1.5. Tình hình NCBSM trên Thế Giới và Việt Nam
1.5.1. Tình hình NCBSM trên Thế Giới

Footer Page 9 of 126.

có 98% trẻ nhỏ được bú mẹ. Tỉ lệ này khác nhau theo từng vùng địa lý, dân tộc,
trình độ văn hóa của bà mẹ, nơi đẻ nhưng sự khác biệt không đáng kể, nơi ít
nhất cũng có 90% trẻ được bú mẹ [12].
Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự (1983) đã nghiên cứu trên
500 trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nông thôn và nội thành Hà Nội, kết quả cho thấy
hầu hết trẻ được bú mẹ sau 2-3 ngày. Tỉ lệ trẻ được bú mẹ trong vòng 24 giờ chỉ

Footer Page 10 of 126.

10

Thang Long University Library


Header Page 11 of 126.

đạt 15,8% ở nội thành và 35,5% ở nông thôn, từ 68% đến 97% trẻ được ăn bổ
sung trong vòng 4 tháng đầu [5].
Nghiên cứu 162 cặp bà mẹ và con dưới 36 tháng tuổi của Nguyễn Công
Khẩn, Hoàng Đức Thịnh và Nguyễn Thị Thế Trâm năm 1990 ở một vùng sinh
thái miền Trung cho thấy có tới 91,5% số bà mẹ cho con bú muộn sau 24 giờ;
83,8% bà mẹ sử dụng các dung dịch cho trẻ uống ngay sau khi sinh ra. Khi trẻ
bị bệnh có tới 69,8% số bà mẹ vẫn tiếp tục cho con bú bình thường. Nhưng có
tới 30,2% số bà mẹ ngừng cho con bú, đồng thời kiêng các thức ăn như thịt mỡ,
dầu ăn, cá, trứng và các thức ăn chua đối với cả mẹ và con [6].
Qua điều tra 611 bà mẹ đang nuôi con dưới 24 tháng ở các vùng sinh thái
khác nhau của Cao Thu Hương, Phạm Thúy Hòa, Trần Thúy Nga, Hà Huy Khôi: tỉ
lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu chỉ đạt 44,4%, vẫn còn 56% các bà
mẹ có con dưới 4 tháng đã cho con ăn bổ sung vì các bà mẹ quan niệm rằng: mẹ
thiếu sữa(41,2%), mẹ phải đi làm (30%), cho trẻ cứng cáp(18,8%) [12].

- Giáo dục cho các bà mẹ về quyền lợi và lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ
- Hướng dẫn các kiến thức và thực hành về NCBSM để bảo vệ nguồn sữa
mẹ và thắt chặt tình mẫu tử.
- Đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên, tư vấn viên về NCBSM
- Tổ chức các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông
- Hỗ trợ các hoạt động về phát triển kinh tế gia đình: Vay vốn, tạo việc làm…
- Lồng ghép nội dng NCBSM vào các chương trình truyền thông sức khỏe
tại cộng đồng.
1.7. Hoạt động tƣ vấn NCBSM tại bệnh viện PSTW
- Bệnh viện Phụ Sản Trung ương là tuyến chuyên môn cao nhất về chuyên ngành
Sản, Phụ khoa tại Việt Nam. Trong những năm qua, tập thể cán bộ của Bệnh viện đã nỗ
lực phấn đấu, vượt qua rất nhiều khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Công
tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, các chỉ tiêu
khám chữa bệnh, phẫu thuật đều đạt và vượt mức chỉ tiêu được giao.
- Năm 2000 BVPSTW đã được công nhận là bệnh viện Bạn Hữu Trẻ Em khi
thực hiện đầy đủ 10 điều kiện theo tiêu chuẩn toàn cầu để NCBSM thành công.
- Hàng năm, bệnh viện đều mở các lớp tập huấn NCBSM cho nhân viên học.
Tất cả các nhân viên trong bệnh viện đều được hướng dẫn thực hành NCBSM theo
quy định. Các nhóm hỗ trợ NCBSM được thành lập bởi 5-6 nhân viên của bệnh
viện đến từng giường bệnh giúp đỡ cho các sản phụ mới sinh cách cho con bú.
Thường xuyên đi đầu trong việc áp dụng phương pháp mới trong chăm sóc là
phương pháp da kề da ngay sau đỡ đẻ để bà mẹ có thể cho em bé bú sớm nhất.
Hàng tuần thường xuyên có các buổi tư vấn trực tiếp NCBSM vào thứ 4, thứ 6 tại

Footer Page 12 of 126.

12

Thang Long University Library


2.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Tại khoa Sản 2 và khoa Điều Trị Theo Yêu Cầu bệnh viện PSTW từ tháng
6/2012 đến tháng 8/2012.

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang.

2.2.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu: tính theo công thức (ước tính một tỷ lệ trong quần thể)

n  Z12

2

p(1  p )
( p. ) 2

Trong đó:
- n: là cỡ mẫu tính cho nghiên cứu

Footer Page 14 of 126.

14

Thang Long University Library


Header Page 15 of 126.


phỏng vấn, kỹ năng tiếp xúc với bệnh nhân và kỹ năng làm việc nhóm.

2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu:

Footer Page 15 of 126.

15


Header Page 16 of 126.

 Phương pháp thu thập số liệu bằng bảng kiểm được trình bày ở phần phụ lục.

2.4. Các biến số trong nghiên cứu
2.4.1. Các biến số nghiên cứu phục vụ mục tiêu 1
- Số lần sinh
- Nghề nghiệp
- Địa chỉ
- Địa điểm nơi khám thai
- Tham gia tư vấn NCBSM
- Có tham khảo tài liệu (sách báo, phim ảnh…)
2.2.4.2. Các biến số nghiên cứu phục vụ mục tiêu 2
- Được tư vấn NCBSM
- Tư vấn khi khám thai hay sau sinh
- Hnh thức tư vấn trực tiếp hay gián tiếp
- Nhớ các nội dung đã được tư vấn (dùng bảng đánh giá )

2.5. Xử lý số liệu
 Số liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm SPSS 11.0
 Trước khi phân tích, số liệu được làm sạch và kiểm tra kỹ nhằm hạn chế các

chiếm cao nhất là 41.5 %.
Bảng 3.1: Phân bố nghề nghiệp và nơi ở của các bà mẹ
Đặc điểm
Nghề nghiệp
Công chức
Tự do
Nội trợ
Làm ruộng
Tổng số
Nơi ở
Địa chỉ ở Hà Nội
Địa chỉ ở ngoại tỉnh
Tổng số

n

Tỷ lệ (%)

77
53
39
31
200

38,5
26,5
19,5
15,5
100


Tổng

n

%

n

%

n

%



110

70,1

47

29,9

157

100

Không


Địa điểm

n

Tỷ lệ (%)

Tại BVPSTW

175

87,5

Nơi khác

9

4,5

Không

16

8

Tổng

200

100


18

Thang Long University Library


Header Page 19 of 126.

Có 71.1% bà mẹ được được tư vấn trong quá trình mang thai, còn 28.3 % bà mẹ
được tư vấn NCBSM sau sinh tại BVPSTW.
Bảng 3.5: Tỷ lệ sản phụ tham gia tư vấn trực tiếp và gián tiếp
Thời điểm

Trƣớc sinh

Sau sinh

n

%

n

%

n

%

Trực tiếp


71,7

52

28,3

184

92

Tổng

Hình thức

Tỷ lệ các sản phụ được tham gia tư vấn trực tiếp khi khám thai là 73% (n=119);
44% (n=27) các sản phụ sau sinh được hướng dẫn thực hành NCBSM tại phòng hậu
sản, cao hơn nhóm sản phụ được phát tờ rơi và đọc bảng hướng dẫn NCBSM tại
viện khi khám thai.
Bảng 3.6: Hình thức sinh của các sản phụ:
Hình thức sinh

n

Tỷ lệ (%)

Đẻ thường

115

57,5


74

37

2 ngày

69

34,5

3 ngày

36

18

>3 ngày

21

10,5

200

100

Tổng

Trong tổng số 200 sản phụ được phỏng vấn, số lượng sản phụ sau đẻ ngày thứ

Công chức

72

97.3

2

2.7

3

18.75

77

100

Tự do

46

93.9

3

6.1

4


2

8.3

7

43.75

31

100

Tổng

175

87.5

9

4.5

16

8

200

100


%

n

%

Trực tiếp

96

58,9

67

41,1

163

100

Gián tiếp

12

57.1

9

42.9


Không

Tổng

n

%

n

%

n

%

144

78,3

40

21,7

184

100

Không


21


Header Page 22 of 126.

Trong tổng số các sản phụ không tham gia tư vấn có 63% người không tìm hiểu
về NCBSM qua sách báo.

Bảng 3.11:Liên quan nghề nghiệp và tham khảo tài liệu về NCBSM
Tham khảo



Nghề

n

Không
%

n

Tổng
%

n

%

Công chức


74

10

26

39

100

Làm ruộng

23

74

8

26

31

100

Tổng

150

75


%

Con thứ 1

74

88

10

12

84

100

Con thứ 2

65

77

19

23

84

100

50

22

200

100

Các bà mẹ sinh con đầu lòng tìm hiểu thông tin NCBSM qua sách báo nhiều nhất
là 88%. Trong đó chỉ có 56% các bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên tìm hiểu điều này
Bảng 3.13: Liên quan hình thức tư vấn của các bà mẹ và số lần sinh

Tƣ vấn

Trực tiếp

Con

n

Gián tiếp

%

n

Tổng
%

n


Con thứ 3 (>=3)

29

90,6

3

9,4

32

100

Tổng

163

88.6

21

11.4

184

100

Tỷ lệ tham gia tư vấn trực tiếp ở các sản phụ sinh con đầu lòng cao hơn các sản

15,3

72

100

2 ngày

52

89,7

6

10,3

58

100

>3 ngày

50

92,5

4

7,5


3.3. Hiệu quả công tác tƣ vấn NCBSM
Bảng 3.15: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tư vấn
Tƣ vấn

Trực tiếp
Trƣớc sinh

Chỉ tiêu

Gián tiếp

Sau sinh

Trƣớc
sinh

Sau sinh

n

%

n

%

n

%


83

13

77

5

63

3

118

99

34

77

11

85

3

60

4


5

63

6

117

98

40

91

9

69

3

60

7

116

97

38


111

93

37

84

10

77

3

60

10

107

90

33

76

6

69


91

9

69

2

25

13

113

95

41

93

8

62

3

60

14


1

13

16

115

97

40

91

7

54

2

25

17

114

96

41



13

100

8

100

Hình thức tư vấn trực tiếp khi khám thai đạt hiệu quả cao nhất từ 90% trở lên.
Các nội dung tư vấn gián tiếp chỉ tiêu đạt được thấp hơn.

Footer Page 25 of 126.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status