Header Page 1 of 126.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Đoàn Thị Thùy Dung
TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
SAU KHI RA TRƯỜNG
Tiểu luận khoa học
Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Lớp: 1305 QTVE
Ngành: Quản trị văn phòng
Quảng Nam - 2015
1
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Đoàn Thị Thùy Dung
TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
SAU KHI RA TRƯỜNG
1.3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ............................................................8
1.3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU .................................................................8
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................................8
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG ............................................................9
2.1 KHÁI NIỆM THẤT NGHIỆP ..................................................................9
2.2 PHÂN LOẠI THẤT NGHIỆP ..................................................................9
2.3 NGUYÊN NHÂN GẮN VỚI LOẠI HÌNH THẤT NGHIỆP.................11
2.4 TỶ LỆ THẤT NGHIỆP ...........................................................................11
2.4.1 KHÁI NIỆM TỶ LỆ THẤT NGHIỆP .............................................11
2.4.2 CÔNG THỨC TÍNH TỶ LỆ THẤT NGHIỆP ................................13
2.5 TỶ LỆ THẤT NGHIỆP TƯ NHIÊN ......................................................15
2.6 CÁC YẾU TỐ XÁC ĐỊNH TỶ LỆ THẤT NGHIỆP .............................15
2.7 YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ LỆ THẤT NGHIỆP TỰ NHIÊN ........15
3
Footer Page 3 of 126.
Header Page 4 of 126.
CHƯƠNG 3. TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU
KHI RA TRƯỜNG .........................................................................................16
3.1. TÌNH TRẠNG ........................................................................................16
3.2 CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG ................................................20
CHƯƠNG 4. BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THẤT
NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP ............24
4.1 BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG..........................................................24
4.2 MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP ..............................................................24
Footer Page 6 of 126.
6
Header Page 7 of 126.
NỘI DUNG
Lời nói đầu
Sinh viên ra trường hiện nay thất nghiệp đang là vấn đề đáng báo
động trong xã hội hiện nay. Câu hỏi đặt ra ở đây là nguyên nhân của
tình hình thất nghiệp của sinh viên hiện nay là do đâu? Hậu quả để lại
là gì? Vấn đề đó đã gây thiệt hại gì cho nền kinh tế nước nhà? Và
chúng ta phải làm gì để khâc phục tình trạng trên? Vấn đề này được
nhìn từ nhiều góc độ khác nhau và mỗi người một quan điểm khác
nhau. Tuy nhiên giải pháp nhằm đặt ra gấp để giải quyết vấn đề lao
động trong xã hội cũng như đảm bảo công ăn việc làm cho hàng nghìn
sinh viên mỗi năm ra trường. Vấn đề này cần sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước ta, và nó không nằm ngoài sự quan tâm của em vì vậy em
chọn đề tài “Vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường” để
nghiên cứu. Đề tài của em gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý luận về vấn đề thất nghiệp
Chương 3: Thực trạng về vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi
ra trường
Chương 4: Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên
và Một số ý kiến đóng góp
7
Footer Page 7 of 126.
8
Header Page 9 of 126.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP SINH VIÊN SAU
KHI RA TRƯỜNG
2.1.Khái niệm thất nghiệp
Thất nghiệp có nghĩa là một bộ phận lao đông không được thuê mướn(
không có việc làm)
Người trong tuổi lao động: là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quyền
lợi lao động được quy định trong hiến pháp
Nữ 18->55
Nam 18->60
Người ngoài tuổi lao động = dân số - tuổi lao động
-Người trong tuổi lao động có hai loại
Lực lượng lao động:
+Người có việc làm : làm trong hoạt động kinh tế xã hội
+Người thất nghiệp:người ko có việc làm nhưng mong muốn tìm được việc
làm
2.2.Phân loại thất nghiệp
Theo các nhà khoa hoc thì thất nghiệp được chia thành các loại sau:
Trong các sách báo kinh tế chúng ta thường gặp rất nhiều những tên gọi
khác nhau về các lọai hình thất nghiệp. Thực tế đó bắt nguồn từ những
quan niệm không thống nhất về thất nghiệp hoặc dựa trên những tiêu
chuẩn phân loại khác nhau. Chúng ta hay gặp các thuật ngữ : Thất nghiệp
tạm thời, Thất nghiệp tự nhiên, Thất nghiệp tự nguyện, Thất nghiệp không
tự nguyện, Thất nghiệp cơ cấu, Thất nghiệp công nghệ, Thất nghiệp mùa
vụ, Thất nghiệp hữu hình, Thất nghiệp trá hình, Thất nghiệp ngắn hạn,
khi tuyển những người không phù hợp về chuyên môn, nghiệp vụ.
Để đỡ phức tạp và có cách hiểu đồng nhất, thuận lợi cho việc xác định
nguyên nhân và đề xuất những công cụ, giải pháp thích hợp, chúng tôi đề
xuất chia các loại hình thất nghiệp đã nêu thành 3 nhóm : thất nghiệp tạm
thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu.
Thất nghiệp tạm thời là tình trạng không có việc làm ngắn hạn do không
có đầy đủ thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều
kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của
người lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế.
Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do không phù hợp về qui mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao
Footer Page 10 of 126.
10
Header Page 11 of 126.
động theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc). Sự không phù hợp
có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung
của lực lượng lao động.
Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà
GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn
trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo
và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy
thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.
2.3.Nguyên nhân gắn với loại hình thất nghiệp
Hiệu quả can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực lao động - việc làm để
nhân của thất nghiệp vẫn còn đang gây tranh cãi. Kinh tế học Keynes nhấn
mạnh rằng thất nghiệp là do nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh
tế không đủ (thất nghiệp chu kỳ). Những người khác cho rằng đó là do vấn
đề cơ cấu và tính không hiệu quả trong thị trường lao động; thất nghiệp cơ
cấu liên quan tới sự không phù hợp giữa cung và cầu đối với lao động có
những kỹ năng cần thiết, đôi khi bị ảnh hưởng bởi công nghệ hỏng hoặc quá
trình toàn cầu hóa. Kinh tế cổ điển hoặc tân cổ điển có xu hướng bác bỏ
những giải thích này, và tập trung nhiều hơn vào những quy định cứng nhắc
áp đặt cho thị trường lao động, chẳng hạn như tổ chức công đoàn, luật về
lương tối thiểu, thuế, và các quy định khác làm giảm việc thuê lao động (thất
nghiệp theo lý thuyết cổ điển). Tuy nhiên những người khác cho rằng thất
nghiệp phần lớn là do sự lựa chọn tự nguyện của những người không có việc
làm và thời gian cần để tìm kiếm một công việc mới (thất nghiệp do chuyển
nghề). Kinh tế học hành vi nêu bật các hiện tượng như tiền lương cứng nhắc
và tiền lương hiệu quả mà có thể dẫn đến thất nghiệp.
Footer Page 12 of 126.
12
Header Page 13 of 126.
Cũng có bất đồng về quan điểm làm thế nào để đo lường chính xác tỷ lệ thất
nghiệp. Các nước khác nhau có tỷ lệ thất nghiệp khác nhau; Theo truyền
thống, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ thấp hơn so với các nước thuộc liên minh
châu Âu, mặc dù cũng có sự khác nhau về tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước
này, các nước như Anh và Đan Mạch hoạt động tốt hơn Ý và Pháp và tỷ lệ
thất nghiệp cũng thay đổi theo thời gian (ví dụ cuộc Đại suy thoái) trong
suốt chu kỳ kinh tế.
và giới tính. Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất cho việc so sánh
tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước trên thế giới.
Những dự đoán chính thức về tỷ lệ thất nghiệp được đưa ra bằng sự kết hợp
thông tin của một hoặc nhiều hơn trong số 3 phương pháp khác nhau.
Việc sử dụng phương pháp này làm giảm tác dụng của những Cuộc điều tra
về thực trạng lao động.
Số liệu thống kê về Bảo hiểm xã hội chẳng hạn như trợ cấp thất nghiệp,
được tính toán dựa trên số lượng người được bảo hiểm, đại diện cho tổng lực
lượng lao động và số lượng người được bảo hiểm mà đang nhận trợ cấp.
Phương pháp này bị chỉ trích rất nhiều do thời hạn hưởng trợ cấp kết thúc
trước khi người ta tìm được việc làm.
Số liệu thống kê của Phòng lao động là ít có tác dụng nhất bởi vì họ chỉ tính
đến số lượng người thất nghiệp hàng tháng, những người đến các Phòng lao
động để tìm việc làm. Phương pháp này cũng kể đến cả những người thất
nghiệp mà theo định nghĩa của ILO họ không bị thất nghiệp
Footer Page 14 of 126.
14
Header Page 15 of 126.
Tỷ lệ thất nghiệp = 100%
Số người không có việc làm
Tổng số lao động xã hội
Tử số: Không tính những người không cố gắng tìm việc.
Mẫu số: Tổng số lao động xã hội = Số người có việc làm + số người
điện thoại, đi gia sư…Chỉ là những công việc đơn giản như thế, lương
không đủ ăn nhưng để xin được một chỗ làm ổn định cũng không phải dễ
dàng gì.
Rất nhiều trung tâm tuyển dụng việc làm lợi dụng các sinh viên mới ra
trường để lừa bịp bằng các chiêu nộp hồ sơ cộng với tiền phí xin việc để
rồi công việc thì chẳng thấy đâu, nhiều sinh viên mới ra trường do thiếu
hiểu biết nên vừa bị lừa mất tiền, lại mất cả công sức lẫn thời gian làm
việc không công cho một công ty nào đó.
Tình trạng ấy không chỉ xảy ra với các sinh viên có bằng loại khá, trung
bình khá mà thậm chí cả những sinh viên ra trường với tấm bằng loại giỏi
vẫn loay hoay không biết phải đi đâu, về đâu trong tình trạng ở các công
ty, các cơ quan lúc nào cũng chồng đống những xấp hồ sơ xin việc. Nên
có không ít bạn sinh viên sau khi học xong Cao đẳng hay Đại học do
không xin được việc đã chọn giải pháp là học tiếp, học liên thông hay học
văn bằng hai để lại được bố mẹ nuôi như tâm sự của một số bạn sinh
viên: “Mình chán cảnh phải ngồi chầu chực xin việc ở các trung tâm mà
cuối cùng lại về không nên mình đã bảo bố mẹ rồi, mình sẽ học lên Cao
học. Hy vọng với tấm bằng thạc sĩ thì ra trường sẽ suôn sẻ hơn”.
Cũng có nhiều sinh viên ra trường nhưng còn dành thời gian và tiền bạc
đi học thêm các chuyên ngành khác như tiếng Anh, lập trình, nghiệp vụ
thư ký, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ báo chí… để có thể “đỡ đần” trước
Footer Page 16 of 126.
16
Header Page 17 of 126.
mắt lúc ra trường.
Cũng có nhiều sinh viên ra trường đã tìm được việc làm sau một vài
định. Con số này tuy có chiều hướng giảm nhưng không ổn định và vẫn ở
mức cao, gấp đôi tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước, hiện tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị khoảng 7,2%, nông thôn là 10%, tổng số người chưa
có công ăn việc làm khoảng 3, 2 triệu người. Tất nhiên, con số 20% sẽ
giảm đáng kể nếu chúng ta kéo dài khung thời gian ra 5 năm hoặc dài
hơn nữa, tuy nhiên nó cũng phản ánh khá rõ những khó khăn trong tìm
kiếm việc làm của giới trẻ”.
Đoàn Thị Thùy Linh, quê Quảng Trị, tốt nghiệp loại khá Trường ĐH
Kinh tế Quốc dân, cho biết: “Em ra trường đã hơn 3 năm, nhưng vẫn
chưa có một việc làm ổn định. Những nơi có công việc hấp dẫn thì đòi
hỏi quá cao về kinh nghiệm, thâm niên công tác, bằng cấp... Nơi vừa sức
thì lại bấp bênh, không phù hợp với chuyên môn, trình độ, hoặc đãi ngộ
không xứng đáng. Kiểu “thấp không ưa, cao chưa tới” là tình trạng khá
phổ biến trong giới sinh viên mới tốt nghiệp. Trường hợp của Nguyễn
Diệu Thư là một ví dụ. Mặc dù cuộc sống vật chất không đến nỗi vất vả
do chị vẫn làm những việc làm công theo giờ ở những cửa hàng bán áo
quần, làm thiệp cưới, nhưng vẫn bị coi là kẻ thất nghiệp điển hình. Kể từ
khi tốt nghiệp hệ cao đẳng tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội cơ sở miền
Trung tới nay đã hơn 1 năm, chị vẫn chưa chính thức được nhận vào 1 cơ
quan hành chính, công ty hay doanh nghiệp nào phù hợp chuyên ngành
với chị. Thất nghiệp với Diệu Thư chỉ đơn giản vì chị thích được làm
đúng ngành nghề mà mình theo học ở một cơ quan nhà nước, còn những
công ty tư nhân, doanh nghiệp nhỏ thì chị lại không muốn làm.
TS. Lưu Hồng Minh nhận xét: “Tình trạng này ngoài nguyên nhân xuất phát
từ yếu tố cá nhân của các bạn trẻ, những bất cập trong chương trình đào tạo
so với yêu cầu thực tế của công việc, còn phải kể đến các em quá thiếu kỹ
Footer Page 18 of 126.
18
Header Page 20 of 126.
nguyện nghỉ việc để chờ cơ hội tốt hơn. Thực sự, đó cũng là một cách thể
hiện khát vọng bản thân của mỗi cá nhân. Đương nhiên, những người đó
phải có cơ sở thật vững chắc về kinh tế và tự tin vào bản thân mình thì mới
“dám thất nghiệp” kiểu như vậy.
ThS.Vũ Thùy Anh (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho biết, thất nghiệp tự
nguyện, hay thất nghiệp công nghiệp là khái niệm còn tương đối mới ở Việt
Nam, nhưng là điều thông thường đối với các nước phát triển. Về một mặt
nào đó, có thể coi đây là tín hiệu vui cho thị trường lao động thời gian qua.
ThS.Thùy Anh nhấn mạnh: “Con số chính xác về tỷ lệ thất nghiệp tự nguyện
là tham số quan trọng trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô về lao
động và việc làm”. Hy vọng, đợt điều tra về tình hình thất nghiệp trong hai
tuần đầu tháng 7 sẽ cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh và xác thực về
tình trạng công ăn việc làm trong giới trí thức nói riêng, trong dân cư nói
chung.
3.2. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên khi
ra trường:
Bị động khi tìm việc
Đây là một những trong lỗi thường mắc phải của sinh viên mới ra trường.
Thường thì họ sẽ dựa vào hoặc ỷ lại vào bố mẹ, tận dụng các mối quan hệ
của bố mẹ hoặc chờ đợi một công ty, cơ quan nào đó đến tìm mình.
Dựa dẫm vào mạng internet thái quá
Không biết thiết lập mạng lưới quan hệ
Lý tưởng hóa công việc
Xem thường buổi phỏng vấn
Sinh viên không thực sự có khả năng
Không tự lượng sức mình, tham vọng quá cao cũng là những sai lầm mà ứng
viên trẻ thường mắc phải.
Nhiều người đứng đầu trong các công ty tuyển dụng việc làm vẫn tâm sự với
21
Footer Page 21 of 126.
Header Page 22 of 126.
báo chí rằng phần nhiều các sinh viên khi đi phỏng vấn xin việc đều chưa
biết cách ứng xử, thiếu tự tin. Nhiều bạn trẻ chưa có kinh nghiệm nhưng khi
ứng tuyển lại hay đòi ở những vị trí cao so với khả năng hoặc đưa ra một
mức lương mà công ty khó có thể chấp nhận được. Điều này khiến ứng viên
mất khá nhiều điểm.
Nguyên nhân thứ hai là bộ hồ sơ không ấn tượng, không tạo cho nhà tuyển
dụng cảm giác muốn thử sức các bạn trẻ, xem khả năng làm thế nào? Có thật
sự có khả năng như trong bảng giới thiệu hay không? Về phần mình, nhiều
ứng viên tự nhận thấy sai lầm của họ là chưa quan tâm đúng mức đến bộ hồ
sơ. Sinh viên có thể tạo ấn tượng qua đơn xin việc, lý lịch hay ngay trong
buổi phỏng vấn bằng sự thông minh, năng động của mình.
Nguyên nhân cuối cùng là sinh viên không biết cách nói về mình. Một lợi
thế của sinh viên là họ ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến và lĩnh hội nhanh
công việc được giao. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm cũng là
những yếu tố mà doanh nghiệp hiện nay đang rất cần trong quá trình cạnh
tranh và hội nhập. Ngoài ra, yếu tố sức khỏe, chấp nhận đi xa cũng như dễ
hòa nhập đã trở thành điểm mạnh nổi trội ở những người trẻ tuổi. Vì vậy,
sinh viên nên tận dụng và phát huy tối đa những thế mạnh của mình để nâng
cao vị thế cạnh tranh trong tìm việc.
Đào tạo nhiều hơn nhu cầu.
Hiện nay có rất nhiều nghành nghề trong các trường Cao đẳng – Đại học
chuyên môn. Chỉ có như vậy mới mong kiếm được một công việc ổn định và
phù hợp với chuyên nghành mình được đào tạo
23
Footer Page 23 of 126.
Header Page 24 of 126.
Chương 4
BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ Ý
KIẾN ĐÓNG GÓP
4.1.Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi
ra trường
- Hoàn thiện thể chế thị trường lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế
cho đầu tư phát triển
- Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước trong giải quyết việc làm và phát
triển thị trường lao động
- Nâng cao chất lượng nguồn lao động cả về trình độ học vấn và trình độ
chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề; thực hiện liên thông giữa các cấp
trình độ; giáo dục - đào tạo theo định hướng gắn với cầu lao động
- Đa dạng hóa các "kênh" giao dịch trên thị trường lao động; tổ chức
thường xuyên, định kỳ các sàn giao dịch việc làm để có thể kết nối hoạt
động giao dịch trên phạm vi toàn quốc
- Nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp
và nâng cao thể lực đảm bảo cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cả
về thể lực và trí lực, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp
4.2.Một số ý kiến đóng góp