TIỂU LUẬN tâm lý học vấn đế của NHU cầu TRONG NHÂN CÁCH, ý NGHĨA của nó đối với HOẠT ĐỘNG của con NGƯỜI - Pdf 42

1
VẤN ĐỀ NHU CẦU TRONG NHÂN CÁCH
Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
Trong những thập niên gần đây vấn đề nhu cầu đang được nhiều ngành
khoa học quan tâm nghiên cứu, bởi vai trò to lớn của nó đối với việc thúc đẩy
hoạt động của con người. Trước đây khi khoa học tâm lý học chưa phát triển
người ta cho rằng nhu cầu không liên quan đến động cơ hoạt động của con

người. Ngày nay khoa học đã khẳng định rằng, ngoài các chức năng định
hướng, nhu cầu còn được coi là nguồn năng lượng thúc đẩy các hoạt động
của con người. Trong tâm lý học nhu cầu được gọi là phạm trù xuất phát
để nghiên cứu các vấn đề về hoạt động của con người. Vì vậy, muốn
nghiên cứu động lực thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người,
chúng ta phải tìm hiểu vấn đề nhu cầu của họ.
Lịch sử phát triển của tâm lý học thế giới cho đến ngày nay là lịch
sử đấu tranh của các trường phái tâm lý học để giải quyết nhiều vấn đề về
con người trong đó có quan niệm về vấn đề nhu cầu. Thông qua những
cuộc đấu tranh đó mà vấn đề nhu cầu nhu cầu ngày càng được phát triển
phong phú, đa dạng. Nhìn lại những quan niệm của các trường phái tâm lý
học về vấn đề nhu cầu chúng ta thấy:
Trước sự khủng hoảng của tâm lý học duy tâm nội quan, một
trường phái tâm lý học mới nằm trong tâm lý học khách quan ra đời, đó là
tâm lý học hành vi, đại biểu là J. Watson (1878 – 1958). Các nhà tâm lý học
hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả giảng giải trạng thái tâm lý ý
thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người. Theo các nhà hành vi thì
hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của
môi. Nghĩa là khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể, thì cơ thể sẽ
tạo ra một phản ứng đáp lại. Vì vậy, mọi hành vi do cơ thể tạo ra đều do kích
thích tác động từ bên ngoài vào và có thể biểu đạt theo công thức S R ( S là



Năm 1951, Ông sửa đổi lại hệ thống các nhu cầu và phân chia chúng
thành ba loại: Loại thứ nhất là nhu cầu muốn thoả mãn sự đói khát, nhu cầu
tình dục, nhu cầu được bảo vệ, nhu cầu tránh sự đau đớn…
Loại nhu cầu thứ hai có quan hệ với xã hội bao gồm tính bầy đàn (ở
động vật) hay tính cộng đồng (ở người), nhu cầu về sự phụ thuộc, tính thống
trị, tính phục tùng…
Loại thứ ba là những nhu cầu riêng chẳng hạn nhu cầu cho và nhận của
mỗi cá nhân
Như vậy, tuy đã đi sâu nghiên cứu và phân chia nhu cầu thành nhiều
loại khác nhau, nhưng E. Tolman vẫn thiên về quan điểm sinh vật, đề cao các
nhu cầu sinh vật bản năng, coi nhẹ vai trò của yếu tố xã hội đến sự phát triển
tâm lý con người và coi nhẹ nhu cầu xã hội của họ.
Khác với tâm lý học hành vi, phân tâm học mà đại biểu là S. Freud (1856 –
1939) thì cho rằng, trong cấu trúc nhân cách con người bao gồm có ba khối: là
“cái nó”, “cái tôi” và “cái siêu tôi” hoặc khối “vô thức”, “tiềm thức” và “ý thức”.
Tương ứng với ba khối đó là ba con người trong một con người (con người trung
tính, con người hiện thực và con người xã hội). Các khối này hoạt động theo
nguyên tắc: thoả mãn, kiểm duyệt và chèn ép. Xu hướng chung là khối dưới muốn
vươn lên thoả mãn những nhu cầu của mình, nhưng phải chịu sự kiểm duyệt, chèn
ép của khối trên. Các nhà phân tâm học nhấn mạnh các nhu cầu tự nhiên có nguồn
gốc xuất phát từ bản năng tính dục (libiđô), coi đó là động lực chủ đạo thúc đẩy
con người hoạt động trong mọi lĩnh vực. Khi con người được thoả mãn các nhu
cầu này thì họ sẽ thăng hoa, sáng tạo và hoạt động đạt hiệu quả cao. Mọi nhu cầu
xã hội khác chẳng qua chỉ là sự biến thể của nhu cầu tự nhiên, chúng vẫn có
nguồn gốc từ nhu cầu tự nhiên, là bản năng tính dục. Theo thuyết này, mọi nhu
cầu của con người nhất là nhu cầu tính dục đều cần phải được thoả mãn bằng cách
này hay cách khác, chí ít là trong giấc mơ. Chỉ có như vậy con người mới lấy lại
được sự cân bằng cần thiết cho sự tồn tại của mình. Nếu nhu cầu tính dục không





5
quy định bởi nhu cầu nội tại của họ và tác dụng của môi trường xung
quanh. Theo K. Lewin, không phải lúc nào con người cũng ý thức được
không gian sống, nhưng điều quan trọng trong không gian sống là mục
đích con người tìm đến (mang tiêu trị dương), hoặc xa lánh nó (mang tiêu
trị âm). Những tiêu trị dương nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân,
giúp con người thoải mái hơn, những tiêu trị âm có thể dùng cho những
hoàn cảnh đặc biệt mà người ta không muốn. Ông cho rằng, yếu tố quyết
định nhất đến hành vi con người vẫn là sức căng của trường lực nội tại,
tức là nhu cầu nội tại của cơ thể. Từ cách lập luận, lý giải trên, ông đưa ra
công thức: B = f(P.E)
Trong đó: B là hành vi
f là hàm số
P là nhân cách (có nhu cầu cá nhân)
E là hoàn cảnh khách quan
Xét theo công thức này thì hành vi của con người sẽ tỉ lệ thuận với nhu
cầu của cá nhân. Nghĩa là tính tích cực hoạt động của cá nhân nào đó, phụ
thuộc vào nhu cầu của họ, nếu nhu cầu càng lớn thì họ càng tích cực hoạt động
và ngược lại. Vì vậy khi nghiên cứu hoạt động của con người không thể bỏ qua
việc phân tích nhu cầu của họ. Những quan niệm về “trường tâm lý” và “không
gian sống” của K. Lewin đã thể hiện một phương pháp mới đối với việc mô tả,
giải thích hành vi hiện thực của nhân cách. Đồng thời ông đã khám phá ra mối
quan hệ giữa động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân với hoàn cảnh, nhu
cầu và nguyện vọng của con người. Tuy nhiên, nếu theo lý luận của ông, thì
người ta không thể biết được cấu trúc không gian sống của một con người cụ
thể. Vì trên thực tế hoàn cảnh sống của con người luôn thay đổi, không gian
sống của họ cũng không ổn định. Do đó, nếu chỉ dựa vào không gian sống thì
rất khó xác định được nhân cách và nhu cầu của con người.

một địa vị cao trong xã hội để mọi người biết đến.


7

Tầng 5: Là nhu cầu tự hoàn thiện. Đây là bước phát triển cao nhất của nhân
cách, là sự mong muốn đạt tới chỗ cao nhất mà con người có thể đạt tới. Nhu cầu
hoàn thiện là loại nhu cầu phức tạp nhất trong bảng hệ thống thang nhu cầu của
Maslow. Loại nhu cầu này nói lên sự mong muốn thể hiện toàn bộ tiềm lực của con
người, mong muốn cá nhân trưởng thành, có cơ hội cho sự phát triển và học hỏi.
Trong 5 bậc thang về nhu cầu thì 3 nhu cầu phía dưới được coi là nhu
cầu bậc thấp của con người, còn 2 loại nhu cầu phía trên là những nhu cầu
bậc cao. Nhu cầu ở bậc cao chỉ xuất hiện khi nhu cầu ở bậc thấp đã được thoả
mãn, trường hợp nhu cầu bậc thấp chưa được thoả mãn thì nhu cầu bậc cao
nếu có xuất hiện cũng không tạo thành động lực thúc đẩy hoạt động của con

người. Từ nghiên cứu học thuyết về nhu cầu trên đây có thể khẳng định
Maslow đã có những đóng góp mới rất có giá trị cho lý thuyết về nhu cầu
trong tâm lý học. Học thuyết của ông đã làm rõ các thang nhu cầu của con
người, tuy nhiên trong thực tế nhu cầu của con người rất đa dạng và phong
phú, không chỉ đơn giản bó gọn trong thang nhu cầu 5 bậc mà Ông đã đề ra.
Ngoài ra, hạn chế của Ông là coi việc con người muốn thoả mãn nhu cầu bậc
cao hơn thì phải thoả mãn những nhu cầu bậc thấp trước. Nhưng thực tiễn đời
sống của con người không phải lúc nào cũng thoả mãn nhu cầu bậc thấp mới
xuất hiện nhu cầu bậc cao, nhiều khi có thể thoả mãn những nhu cầu bậc cao
mà không nhất thiết phải thoả mãn nhu cầu bậc thấp. Chính vì điểm hạn chế
này mà sau này Maslow đã khắc phục bằng cách cho rằng, trong hành vi của
con người không phải do một nhu cầu tác động, mà do rất nhiều nhu cầu tác
động. Nhưng ông lại không làm rõ được sự tác động tổng hợp của các nhu cầu
đó đến hành vi hoạt động của con người.

ra. Mỗi yếu tố mang một đặc trưng và tương ứng với nó là biểu hiện của một
loại nhu cầu nhất định nào đó. Chẳng hạn, “Kim” biểu hiện cho nhu cầu an
toàn; “Mộc” chỉ sự sinh trưởng, sự phát triển vươn lên, đây là biểu hiện của
nhu cầu phát triển; “Thổ” là yếu tố có đặc tính là dưỡng hoá vạn vật. Nó


9

tượng trưng cho nhu cầu vật chất, nhu cầu sinh vật của con người; “Thủy” là
yếu tố có tính hàn, hướng xuống, là biểu hiện nhu cầu được thừa nhận, hòa
nhập; “Hoả” là muốn nói đến sự đốt nóng, sự hướng lên trên, đây là yếu tố
biểu thị cho nhu cầu thành đạt. Theo thuyết này, nhu cầu con người là hệ quả
của sự đan xen, phát triển, kết hợp của năm yếu tố cơ bản đã nói ở trên, sự
vận động kết hợp đó tuân theo nguyên lý “tương sinh”, “tương khắc” và “chế
- hoá”. Theo hệ thống nguyên lý này thì tương sinh lâu phải có “chế”, tương
khắc lâu thì phải có “hóa”. Mục đích của “chế – hoá” là lấy một loạt nhu cầu
này để khống chế một loạt nhu cầu khác nhằm mục đích đạt được sự cân
bằng.
Như vậy, rõ ràng là thuyết “Ngũ hành” mang nét độc đáo của triết học
và tâm lý học của người phương Đông. Theo thuyết này, một nhu cầu nào đó
của con người chưa được thoả mãn, thì vẫn có thể nảy sinh ra một nhu cầu
khác. Quan điểm này xét ở một góc độ nhất định nó gần giống với thuyết nhu
cầu của Clayton Alderfer và có sự tiến bộ hơn so với lý thuyết về thang nhu
cầu của Maslow.
Các nhà tâm lý học Mác xít đứng vững trên lập trường quan điểm của
triết học Mác xít khẳng định rằng: con người là một thực thể tự nhiên, đồng
thời là một thực thể xã hội; các phẩm chất tâm lý nói chung của con người
được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao tiếp của họ. Các
nhu cầu cần được thoả mãn của con người kể cả nhu cầu sinh vật như ăn, ở,
mặc, đi lại…cũng được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp của họ.

giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội. Những yếu tố này làm cho sự lựa
chọn nhu cầu và xác định tâm thế hoạt động để thoả mãn nhu cầu của mỗi cá
nhân có sự khác nhau. Đối với người này thì nhu cầu này là cấp bách, nhưng
đối với người khác sẽ không hẳn là như vậy. Chính điều này đã góp phần tạo
nên tính phong phú, phức tạp, nhiều vẻ về quan niệm nhu cầu trong xã hội.
Cùng nằm trong trường phái tâm lý học Mác xít, A. N. Lêônchiev
(1903 – 1979) một trong những nhà tâm lý học vĩ đại người Nga với cách tiếp
cận nhu cầu theo hướng: Hoạt động - nhu cầu - đối tượng, cho rằng: nhu cầu


11

thực sự bao giờ cũng là nhu cầu về một “cái gì đó”. Tức là nhu cầu luôn luôn
có tính đối tượng. Khi phân tích sự phát triển nhu cầu Ông phát hiện ra mối
liên hệ giữa nhu cầu và đối tượng đáp ứng, Ông coi đây chính là bước chuyển
quan trọng nhất trong việc hình thành động cơ. Theo đó, khi chủ thể ở trạng
thái có nhu cầu nhưng chưa bắt gặp đối tượng có khả năng thoả mãn thì chưa
xuất hiện động cơ thúc đẩy. Khi nhu cầu bắt gặp đối tượng nó sẽ hình thành
động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động chiếm lĩnh đối tượng nhằm thoả mãn nhu
cầu của chủ thể. Tuy nhiên, nếu con người không hoạt động thì họ không thể
bắt gặp đối tượng và khi đó không thể xuất hiện nhu cầu. Như vậy nhu cầu
chỉ xuất hiện thông qua hoạt động. Ông còn cho rằng, cuộc sống là hệ thống
các hoạt động thay thế nhau. Khi xem xét các vấn đề liên quan đến con người
về mặt bản chất, thì lúc đó sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về nhu cầu. Con người
khác xa với động vật ở chỗ con người mang bản chất xã hội – lịch sử, chính
bản chất xã hội – lịch sử là yếu tố quy định bản chất nhu cầu của con người.
Ngoài ra trong tâm lý học Mác xít cũng xuất hiện quan niệm tiếp cận nhu cầu
theo hướng: “Nhu cầu - hoạt động - nhu cầu”. A. N. Lêônchiev cho rằng quan
niệm này xuất phát từ bản thân các nhu cầu hoặc các rung cảm do chúng gây
ra, chỉ các rung cảm ấy mới giải thích tại sao con người lại đặt ra cho mình

đây:
Giai đoạn ý hướng: đây là giai đoạn đầu tiên của nhu cầu. Chủ thể lúc này
ở trạng thái thiếu thốn về một cái gì đó. Đây là giai đoạn chủ thể chưa ý thức đầy
đủ về đối tượng và khả năng thoả mãn. Nhưng những ý hướng về nhu cầu của con
người đã có sự khác xa so với ở động vật. Ý hướng có thể được xem như là bước
đầu tiên để xuất hiện nhu cầu khi chủ thể chưa ý thức được đối tượng có khả năng
thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu. Nói cách khác, lúc này bản thân chủ thể
đang sống trong sự thiếu thốn một cái gì đó và ý thức được điều đó, nhưng chưa
thể tìm ra đối tượng và phương thức thoả mãn chúng. Khi chủ thể ý thức rất rõ về
đối tượng thoả mãn nhu cầu thì chuyển sang giai đoạn thứ hai.
Giai đoạn ý muốn: đây là giai đoạn tiếp theo trong quá trình hình thành
nhu cầu, khi chủ thể đã có sự ý thức rõ ràng về đối tượng, mục đích hoạt


13

động, nhưng chưa tìm kiếm được phương thức, điều kiện để thoả mãn nhu
cầu. Lúc này, ý muốn có liên quan đến những hoạt động rộng lớn như: mơ
ước, ý tưởng, cảm xúc…Khi ý muốn xuất hiện sẽ hình thành tính tích cực bên
trong của chủ thể thúc đẩy quá trình tìm kiếm phương thức hành động để thoả
mãn nhu cầu. Khi con đường, phương tiện thoả mãn nhu cầu đã được xác
định, thì chuyển sang giai đoạn ý định.
Giai đoạn ý định: đây là giai đoạn cao của ý thức trong nhu cầu của
con người. Ở giai đoạn này chủ thể đã xác định được mục đích, phương tiện,
điều kiện hoạt động và được ý thức một cách đầy đủ. Chủ thể ở trạng thái sẵn
sàng hành động theo một phương thức xác định. Đồng thời, sẵn sàng đón
nhận kết quả hay hậu quả do những hành động của mình mang lại.
Từ phân tích quá trình hình thành, nảy sinh nhu cầu X. L. Rubinstêin
đã khẳng định: nhu cầu như là nguồn gốc tính tích cực hoạt động của con
người. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, nhu cầu của con người có mạnh

triển. Nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực hoạt động của con người. Khi phân
tích làm rõ quan điểm của mình, Ông lập luận rằng, ở giai đoạn mới xuất hiện
nhu cầu, chủ thể đang trong trạng thái thiếu thốn một cái gì đó cần phải tìm
tòi để thoả mãn. Đến khi nhu cầu bắt gặp đối tượng nó hướng dẫn hoạt động
và trở thành động cơ thôi thúc con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu.
Ông cho rằng quá trình hình thành và phát triển nhu cầu phải tuân theo năm
nguyên tắc chung:
Một là, nhu cầu chỉ có thể nảy sinh trong quá trình tiến hành một hoạt
động cụ thể nào đó.
Hai là, nhu cầu chỉ được phát triển khi mà phương tiện thoả mãn đa
dạng, phong phú.
Ba là, nhu cầu tinh thần được hình thành khi hoạt động thoả mãn “phù
hợp”, và nó xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu.
Bốn là, điều kiện quan trọng để phát triển các nhu cầu tinh thần là
chuyển từ hoạt động nhớ lại sang hoạt động sáng tạo.


15

Năm là, nhu cầu được củng cố khi chủ thể ý thức được ý nghĩa của nó
đối với bản thân và xã hội. Mặt khác sự giáo dục và dư luận tập thể cũng có
tác động to lớn đến việc củng cố, phát triển nhu cầu của mỗi cá nhân.
Từ phân tích trên đây cho thấy, trong tâm lý học nói chung và trong
tâm lý học hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu.
Trong đó các học thuyết động cơ của các nhà tâm lý học phương Tây đều đưa
ra khái niệm nhu cầu và hiểu nó như là những kích thích bên trong, là động
lực của hành vi. Nghĩa là nhu cầu chính là các kích thích tạo nên tính tích cực
của cá thể có nguồn gốc từ cõi vô thức, từ bản năng tính dục (quan niệm của
phân tâm học). Quan niệm của thuyết hành vi lại không xét đến tính tích cực,
tính chủ thể của từng con người sống thực, đồng nhất cơ chế hoạt động của

mối quan hệ giữa hoàn cảnh bên ngoài với điều kiện bên trong của con người.
Nó biểu hiện sự lệ thuộc của con người vào hoàn cảnh sống cụ thể chứ không
phải nảy sinh từ ý thức hay ý chí chủ quan của con người. Nhu cầu hình
thành, lúc đầu chỉ là trạng thái thiếu thốn một cái gì đó; nó kích thích con
người tìm hiểu, nhưng chưa có phương hướng nào rõ rệt. Sau đó, chủ thể bắt
gặp đối tượng có thể thỏa mãn, nó hành động quyết đoạt lấy; lúc đó nhu cầu
trở thành động cơ trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động theo một phương
hướng rõ rệt, nhằm đạt tới đối tượng. Các nhu cầu của con người vừa mang
tính khách quan vừa mang tính chủ quan, nó được hình thành trong quá trình
sống, trong hệ thống các quan hệ xã hội, dưới tác động của hoàn cảnh và giáo
dục.. Nhu cầu của mỗi người được nảy sinh khác nhau tuỳ theo vị thế xã hội
và đặc điểm riêng của cá nhân. Do đó nội dung nhu cầu của mỗi người cũng
khác nhau. Nhưng nhu cầu của con người không phải cố định mà biến đổi
theo hoàn cảnh sống. Quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu lại làm nảy
sinh nhu cầu mới. vì thế nhu cầu của con người ngày càng phong phú, đa
dạng. Nhu cầu là hiện tượng khách quan, nhưng thoả mãn nó bằng cách nào
lại phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người, vào công tác giáo dục. Do
vậy, giáo dục nhu cầu là một trong những nhiệm vụ trung tâm của quá trình
1

Viện khoa học xã hội nhân văn, Từ điển TLHQS,Hà Nội, 2005


17

hình thành và phát triển nhân cách.
Nghiên cứu về nhu cầu, các nhà tâm lý học và tâm lý học quân sự Việt
nam chỉ ra nhu cầu có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng, nghĩa là nhu cầu không tự
nhiên mà có, cũng không phải do mong muốn chủ quan của con người. Nhu

đã chỉ ra rằng: “…đáng lẽ người ta phải giải thích rằng hoạt động của mình
là do nhu cầu của mình quyết định thì người ta lại quen giải thích rằng hoạt
động của mình là do tư duy của mình quyết định”. Vậy tính tích cực hoạt
động là gì? Qua nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn chúng ta nhận
thấy, tích cực là điều kiện cần thiết để hình thành những phẩm chất nhân
cách của con người. L.X.Vưgôtxki đã cho rằng, sự phong phú của cuộc
sống nội tâm phụ thuộc vào số lượng hoạt động, nghĩa là phụ thuộc vào
tính tích cực hoạt động của con người. Ngay cả trường phái hành vi chủ
nghĩa cũng coi hệ thống các hành vi chính là chỉ số về tính tích cực của
mỗi chủ thể trong hoạt động. Như vậy có thể khẳng định: tính tích cực bao
giờ cũng là tính tích cực của một hoạt động cụ thể nào đó. Tính tích cực
nằm trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hành động
cụ thể. Ở một mức độ nhất định, người ta có thể coi tính tích cực như là
một nhu cầu đối với hoạt động. Điều này có thể thấy tính tích cực hoạt
động của con người bao giờ cũng gắn liền với nhu cầu của họ. Kết luận này
thể hiện rõ quan niệm tiếp cận nhu cầu theo hướng: Hoạt động – Nhu cầu
– Hoạt động mà các nhà tâm lý học Mác xít đã đưa ra. Có thể nói nhu cầu
chính là thành tố tâm lý tạo nên nguồn gốc, động lực tính tích cực hoạt
động của con người. Nếu không có nhu cầu thì sẽ không thể có tính tích
cực hoạt động. Khi nói nhu cầu với tư cách là nguồn gốc, động lực tính tích
cực hoạt động của con người, thì không chỉ thuần tuý những nhu cầu về mặt
sinh học và bản năng (như ăn, uống, tính dục, tự vệ…) theo quan điểm của
phân tâm học, mà còn là các nhu cầu mang tính chất người như: nhu cầu lao
động, nhu cầu học tập, nhu cầu nhận thức, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu giao
tiếp…Mặt khác nhu cầu của con người là những nhu cầu có ý thức. Vì thế,


19

tính tích cực hoạt động của họ bao giờ cũng bao hàm tính chủ động, tính sáng


Thứ ba, Để phát huy tốt tính tích cực hoạt động của con người, cần
phải quan tâm giáo dục nâng cao trình độ nhận thức mọi mặt cho con người
làm cơ sở cho việc hình thành những nhu cầu đúng đắn, phù hợp. Trong điều
kiện hiện nay, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chưa thể đáp ứng
đầy đủ mọi nhu cầu, nguyên vọng chính đáng của nhân dân, cho nên cần thực
hiện tốt dân chủ để mọi công dân thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của
mình, đây là điều kiện để biến nhu cầu thành tích tích cực hoạt động của con
người. Mặt khác cần quan tâm thích đáng tới việc giải quyết vấn đề lợi ích.
Bởi lợi ích chính là cái không tách rời nhu cầu, chỉ có lợi ích mới có thể đáp
ứng sự thoả mãn nhu cầu của chủ thể hoạt động. Vì lợi ích chính là yếu tố giữ
vai trò động lực thúc đẩy hoạt động. Tuy nhiên, khi giải quyết vấn đề lợi ích
cần phải kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội,
không được tuyệt đối hoá bất kỳ một lợi ích nào. Trong đó, lợi ích cá nhân là
động lực trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động, nhưng khi lợi ích cá nhân
mâu thuẫn với lợi ích xã hội thì phải đặt lợi ích xã hội lên trên. Điều này đã
được Đảng ta khẳng định: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi
ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân”2.

ĐCSVN, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb. Sự thật, Hà Nội. 1991,
tr.5.
2




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status