Một số quan điểm về cấu trúc nhân cách
Nhân cách là một trong những vấn đề quan trọng trong Tâm lý học được các
nhà tâm lý cũng như các tác giả ở các lĩnh vực khoa học khác quan tâm nghiên
cứu. Từ khi sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời, con người chúng ta trải qua những
giai đoạn phát triển khác nhau. Ở mỗi giai đoạn, chúng ta đều để lại những dấu ấn
mang tính đặc trưng, khác biệt so với mọi người và được xã hội nhìn nhận, đánh
giá một cách tổng thể. Tổ hợp những đặc trưng đó còn được gọi là tổ hợp các thuộc
tính tâm sinh lý (nhân cách).
Nhân cách là tổng hòa các phẩm chất xã hội, được cá nhân lĩnh hội trong
hoạt động và giao tiếp, phản ánh giá trị xã hội của cá nhân trong cộng đồng.
Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa
con người với con người. Trong cuộc sống, nhân cách tạo nên tư cách chủ thể
của cá nhân trong hoạt động và quan hệ xã hội, nhân cách là đặc trưng của từng
cá nhân, là bản chất thực của con người. Nhân cách càng phát triển thì con
người càng có khả năng hoạt động một cách độc lập, chủ động và mở rộng các
quan hệ xã hội. Chính vì vậy, nhân cách phản ánh giá trị xã hội của cá nhân.
1. Cấu trúc nhân cách
1.1. Khái niệm nhân cách
1
Bàn về vấn đề nhân cách có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập
nhau do dựa trên thế giới quan, phương pháp luận và lập trường giai cấp khác
nhau. Thời cổ đại, các triết gia Hy Lạp đã quan niệm, nhân cách là sự thể hiện và
phản ánh vai trò xã hội của cá nhân trong lịch sử - xã hội. Khổng Tử quan niệm
nhân cách là tính người, phẩm chất xã hội của từng con người; đồng thời, có sự
phân biệt giữa hai khái niệm con người và nhân cách. Từ khi tâm lý học ra đời với
tư cách là một khoa học độc lập cho đến nay, cũng đã xuất hiện nhiều cách hiểu và
quan niệm khác nhau về nhân cách, nhưng nhìn chung nhân cách luôn được nhìn
nhận trong mối quan hệ mật thiết với các khái niệm con người và cá nhân.
hay ít sẽ nói lên giá trị xã hội của nhân cách cao hay thấp. Nhìn vào hệ thống các
phẩm chất xã hội và giá trị xã hội của mỗi cá nhân mà đánh giá được trình độ phát
triển nhân cách cao hay thấp, tích cực tiến bộ hay tiêu cực lạc hậu. Thực chất quá
trình giáo dục phát triển nhân cách chính là nhằm hình thành, phát triển hệ thống
các phẩm chất xã hội ở mỗi cá nhân phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội
và các lĩnh vực hoạt động cụ thể.
1.2. Một số quan điểm về cấu trúc nhân cách
* Vấn đề cấu trúc nhân cách theo quan niệm phương Đông cổ đại.
Quan niệm con người là một tiểu vũ trụ và thiên - địa - nhân hợp nhất. Con
người là sản phẩm của tự nhiên; luôn dung hòa giữa trời và đất; trời đất và người
là một thể thống nhất. Bản thân con người cũng là một vũ trụ thu nhỏ với tất cả
các đặt trưng, quy luật của vũ trụ; đồng thời quá trình hình thành, tồn tại và phát
triển của con người luôn chịu sự tác động và chi phối của tự nhiên mà đặc trưng
của nó được thể hiện trong thuyết “âm dương”, “ngũ hành” (kim, mộc, thủy,
hỏa, thổ). Chính vì vậy, sự tác động của các quy luật tự nhiên không chỉ đến mỗi
nhân cách mà còn tác động đến cộng đồng xã hội. Do vây, đời sống tâm lý của
con người luôn cân bằng và hài hòa không thái quá. Đây là luận điểm rất đúng
đắn phản ánh mối quan hệ và sự thuộc tất yếu của đời sống con người, tâm lý ý
thức con người vào môi trường, điều kiện tự nhiên; tâm lý ý thức con người có
nguồn gốc từ hiện thực khách quan.
Sự phát triển của nhân cách vừa mang tính ổn định; đồng thời vừa mang
tính biến đổi mạnh mẽ theo sự tác động của quy luật tương sinh và tương khác.
Theo đó, cách phân chia nhân cách theo ngũ hành bao gồm các đặc điểm của
mỗi kiểu nhân cách tương ứng và sự biến đổi của nhân cách.
3
Trên cơ sở luận giải về quan niệm nhân cách, có thể khái quát đặc điểm
nhân cách người phương Đông nói chung bao gồm: tính thiện, tính nhân và thích
sự im lặng. Tính thiện, là người phương Đông đề cao tính thiện; mọi tu thân, xử
Buồn
nảy
Vô cảm
chủ động
và uể oải
và hưng phấn rầu và ủ rũ
Thuyết nhân cách của H.J.Eysenck
Theo H.J.Eysenck, nhân cách có 3 bình diện: hướng ngoại, nhiễu tâm (ổn
định hay không ổn định và loạn tâm (tư duy thực tiễn hay không thực tiễn). Sự
khác biệt nhân cách dựa trên 3 bình diện này là do sự khác biệt về gien sinh học
của mỗi người.
Quan điểm của Sigmund Freud
Cấu trúc: Theo ông tâm lý con người được tạo bởi ba khối: Vô thức, ý thức và
siêu thức (Khối vô thức là khối bản năng, trong có bản năng tình dục giữ vị trí
trung tâm). Ứng với 3 khối đó là cái ấy, tôi, siêu tôi. Sự tác động lẫn nhau giữa 3
khối này tạo nên nhân cách, nói cách khác nhân cách gồm 3.
Cái "ấy" là con người bản năng, hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn
Cái "tôi" là con người của hiện thực, được hình thành do áp lực thực tại bên
ngoài, đến toàn bộ khối bản năng. Nó bảo đảm các chức năng tâm lý như chú ý, trí
nhớ v.v... Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại.
Cái "siêu tôi": là con người xã hội, là những chế ước xã hội: đạo đức, nghệ
thuật, giáo dục, tôn giáo… Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt.
4
Cả 3 khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối.
nội dung cái tôi. Ý thức không đồng nhất với tâm lý mà còn có vô thức nữa. Vô
thức là hiện tượng được thể hiện ở sự quên, những kinh nghiệm đã được xác định
trước đây bị ức chế, che lấp chưa trở về được với ý thức.
Jung không thừa nhận bản năng tình dục của Freud là quyết định tâm lý con
người. Nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô thức như Freud đã quan
niệm. Vì vậy, về bản chất học thuyết của Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cải
biên thành học thuyết phân tâm học mới.
Cấu trúc nhân cách theo Jung
Thế giới bên ngoài
Nhân cách (Person)
Ý thức
Tôi
Cá nhân Cái bản thân Vô thức
Phần cá nhân
Nó
Trong tập thể
Vô thức
Nhân cách nguyên thuỷ Vô thức
Vô thức tập thể
Qua cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức. Nhân cách là người mẹ của
ý thức và vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân.
Về nhân cách Jung cho rằng con người có 3 lớp vô thức. Những vô thức này
chi phối số phận con người trong việc chọn lựa tình yêu, bạn bè, nghề nghiệp,
trong ốm đau, chết chóc.
Lớp thứ nhất là vô thức cá nhân thể hiện trong cuộc sống hàng ngày.
Lớp thứ hai là vô thức gia đình thể hiện trong động lực gây ra đồng tính luyến
ái vô thức và sự trỗi dậy của bản năng.
Lớp thứ ba là vô thức tập thể xuất phát từ hình tượng cổ sơ có nguồn gốc văn
vực này lại thành siêu đẳng trong lĩnh vực khác..Ví dụ một cô gái kém cỏi về nhan
sắc thì lại bù trừ trong lĩnh vực học hành. Cơ chế bù trừ của Adler khác với cơ chế
bù trừ ở Freud là ở chỗ sự bù trù trong quan niệm của Freud xuất phát từ động cơ
tình dục, còn bù trừ của Adler xuất phát từ động cơ xã hội. Sự bù trừ là có thật
7
trong đời sống con người. Nhưng sự bù trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
đó yếu tố xã hội có tính chất quyết định. Ở đây Adler quá thổi phồng tính chất bù
trừ trong đời sống con người, mà không thấy vai trò hoạt động con người trong xã
hội.
Erich Fromm.
Một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud mới
là Erich Fromm (1901). E.Fromm sinh ở Phrăngphuốc (đầu thế kỷ 20) sau sang
Mỹ, trở thành nhà phân tâm học Mỹ. Ông có ý đồ pha trộn phân tâm học của Freud
và học thuyết xã hội học của Mác vào nhau là xây dựng nên lý thuyết "chủ nghĩa
nhân đạo mới". Ông cho rằng Mác và Freud đều vẽ nên một mẫu người trong xã
hội tư bản. Trong xã hội này con người làm ra máy móc, và đồng thời con người
cũng hoạt động như một cái máy. Chính vì vậy trong xã hội đó con người không có
nguồn vui thật sự, con người không có tình cảm, không có lý trí và không có tình
yêu. Ông tìm thấy con người tự do trong nhân cách của Freud và con người tự do
trong xã hội của Mác. Về tâm lý học, Froom cho rằng cơ chế tự nhiên và xã hội
trong con người là vô thức, đó là cái phi lý, hạt nhân của nhân cách. Nó biểu hiện
sự mong muốn vươn tới cái hài hòa toàn diện của con người. Ông cho rằng nhu
cầu tạo ra cái tự nhiên trong con người. Những nhu cầu đó là:
1) Nhu cầu quan hệ giữa người và người;
2) Nhu cầu tồn tại "cái tâm" con người;
3) Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa;
4) Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, với giai cấp, với tôn
giáo;
Tiêu biểu là Maslow - chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ.
Về nhân cách ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứng
nhân cách và năng lực. Tất cả những yếu tố này tạo nên động lực thúc đẩy hành vi
con người. Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu. Theo ông có thể chia ra
năm loại nhu cầu:
Nhu cầu sinh lý: như nhu cầu thỏa mãn đói, khát, sinh dục, những nhu cầu
này có tính chất bản năng, có cả ở động vật.
Nhu cầu an toàn: nhu cầu về sự yên ổn, trật tự và an ninh.
Nhu cầu yêu thương, nhu cầu lệ thuộc.
9
Nhu cầu được thừa nhận (tự trọng); nhu cầu thành đạt, kết quả, nhu cầu về
niềm tin.
Nhu cầu tự khẳng định, tự thực hiện như nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết,
nhu cầu tri thức, nhu cầu nghệ thuật.
Các loại nhu cầu này được chia làm nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao.
Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loài,
cũng như phát triển của cá nhân. Đồng thời đây cũng là thứ tự thỏa mãn các nhu
cầu đó. Nếu nhu cầu cấp thấp không thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể
thực hiện được. Nhu cầu tự thực hiện là nhu cầu cao nhất nhằm phát triển tiềm
năng của cá nhân.
Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người bởi vì mỗi người đều có tiềm năng riêng
khác nhau. Có người có nhu cầu tự thực hiện trên lĩnh vực văn chương, người khác
thì có nhu cầu lãnh đạo, v.v... Những nhu cầu này không bị sự kiểm soát của xã
hội. Nhưng không phải ai cũng thực hiện được nhu cầu này, bởi vì còn những nhu
cầu khác chưa thực hiện được.
Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người. Các nhu cầu
đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định. Chính vì vậy, học thuyết nhu cầu của
nhất biện chứng với nhau trong mỗi con người. Sự tác động của điều kiện xã hộilịch sử tới nhân cách diễn ra thường xuyên đa dạng và đã để lại dấu ấn trong các
đặc điểm, thuộc tính của từng nhân cách, nhưng nhân cách không phải là sản phẩm
thụ động của hoàn cảnh. Tâm lý học Mác xít quan niệm rằng: Nhân cách là chủ thể
11
hoạt động có vai trò tác động trở lại đối với xã hội, thông qua đó góp phần cải tạo
xã hội và cải tạo chính bản thân mình.
Mác và Ph. Ănghen đã đánh giá cao vai trò của con người đối với xã
hội. Trong cuốn Hệ tư tưởng Đức các ông đã chỉ rỏ: “ Lịch sử xã hội là lịch sử
của những con người. Bằng hoạt động có ý thức, con người không chỉ làm thay
đổi tự nhiên, mà còn tạo nên xã hội thông qua việc sản xuất ra tư liệu thỏa mãn
nhu cầu xã hội, phát triển quan hệ giao tiếp xã hội và làm biến đổi ý thức xã
hội”. Hoạt động và giao tiếp của con người không chỉ có ý nghĩa đối với xã hội,
mà con quyết định sự hình thành và phát triển của bản thân nhân cách. Bởi vì
bằng hoạt động và giao tiếp, con người thực hiện đồng thời hai quá trình “đối
tượng hóa” và “nội tâm hóa” các thuộc tính người để làm biến đổi hoàn cảnh và
hoàn thiện mình.
* Quan điểm của tâm lý học mác xít về cấu trúc nhân cách
A.N.Leonchiev
Nhà tâm lý học Nga kiệt xuất đã từng giữ chức Phó chủ tịch hội Tâm lý thế
giới. Ông đã đưa ra lý thuyết hoạt động để giải quyết vấn đề tâm lý học, được giới
tâm lý học đánh giá cao. Về mặt nhân cách ông cũng có những quan điểm mới mẻ.
A.N. Leonchiev coi nhân cách như một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong
các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó. Nó là một
cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn. Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự
phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hóa cá thể của con người. Nó là kết quả của
quá trình chín muồi của những nét bẩm sinh dưới tác động của môi trường xã hội.
Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống.
Hoạt động là cơ sở của nhân cách. Ông cho rằng muốn hiểu nhân cách phải
nhân cách khi có ý thức xác định các quan hệ đối với môi trường của mình, khi có
một diện mạo riêng.
Cấu trúc: Gồm ý thức của chủ thể và các thái độ: thái độ đối với thế giới xung
quanh, thái độ đối với người khác và thái độ đối với bản thân. Cụ thể là những thành
phần: hứng thú, sự đam mê, tâm thế tạo nên các xu hướng, lý tưởng của nhân cách.
Vì vậy, ông cho rằng, nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tự ý thức của nhân cách,
nghiên cứu “cái tôi” như là chủ thể nắm lấy tất cả cái gì con người làm ra, có trách
nhiệm của bản thân đối với tất cả các sản phẩm vật chất mà mình tạo ra. Ru đi từ
13
các phạm trù tinh thần, ý thức, chủ thể… đến phạm trù nhân cách, coi nhân cách là
các trải nghiệm và đi vào vấn đề hình thành, phát triển nhân cách trong hoạt động.
Rubinstein đã nhấn mạnh tính chất sđặc thù của riêng từng nhân cách, nói lên xu
hướng riêng của người ấy, bao gồm ý hướng, ý muốn của từng người, năng lực của
từng người, bản tính của nó.
B.G. Ananhiep
B. G. Ananiev là nhà tâm lý học xuất sắc của Liên Xô đã có nhiều đóng góp
cho sự phát triển tâm lý học. B.G.Ananhiep đã xuất phát từ những khái niệm cá
thể, chủ thể, khách thể, hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách. Ông
cho rằng nhân cách là cá thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từng
bước tiến lịch sử. Nhân cách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch
sử. Vì thế việc nghiên cứu nhân cách phải nghiên cứu lịch sử cá nhân. Con đường
cơ bản của việc nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tính chất lịch sử, tính chất xã
hội, tính chất tâm lý - xã hội của nhân cách. Sự phong phú của mối quan hệ xã hội
của cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách.
Cấu trúc nhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân hoạt
động trong mối quan hệ xã hội. Ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc:
Nguyên tắc thứ bậc và nguyên tắc phối hợp. Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặc
điểm xã hội chung nhất quy định những đặc điểm tâm sinh lý. Nguyên tắc phối
Tiểu cấu trúc thứ nhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…).
Tiểu cấu trúc 2 là kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen) do GD
Tiểu cấu trúc thứ 3 cấu trúc nhỏ thứ ba là các quá trình tâm lý, do luyện tập.
Tiểu cấu trúc thứ 4 là các thuộc tính sinh học quy đinh nhân cách (khí chất
giới tính, lứa tuổi, bệnh lý…).
Ngoài 4 cấu trúc nhỏ trên còn có 2 cấu trúc nằm trên 4 cấu trúc đó là tính cách
và năng lực. Cấu trúc này có tính cơ động vì nó không cố định ở một nhân cách cụ
thể, nó thay đổi từ lúc đứa trẻ có nhân cách đến chế. Tính cách cũng như năng lực
là tổng hoà các thuộc tính cá nhân trong 4 tiểu cấu trúc. Tính cách và năng lực cá
nhân tương hỗ với nhau. Trong một mức độ nào đó, năng lực biểu hiện ra và trở
thành tính cách.
Quan điểm của A.G.Covaliov
15
Nhân cách bao gồm 4 thuộc tính: Xu hướng, năng lực, tính cách và khí chất.
Xu hướng thể hiện chiều hướng phát triển của nhân cách; tính cách biểu hiện đạo
đức, cốt cách làm người; năng lực thể hiện khả năng của con người và khí chất thể
hiện hành vi của con người. Quan điểm của A.G.Covaliov về cấu trúc nhân cách
được nhiều nhà tâm lý học Việt Nam thừa nhận.
Xu hướng: Hoạt động của con người được thúc đẩy bởi các động cơ. Xu
hướng của nhân cách là hệ thống động cơ quy định tính tích cực và sự lựa chọn
thái độ của con người trong quá trình hoạt động. Xu hướng của nhân cách thường
được biểu hiện qua: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…
Năng lực: Năng lực là hệ thống các đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân phù hợp
với yêu cầu của một hoạt động cụ thể, đảm bảo cho hoạt động đó mang lại hiệu
quả.
Năng lực bao gồm năng lực chung và năng lực riêng. Năng lực chung có ở tất
cả mọi người như: năng lực quan sát, cảm giác, tri giác, tư duy…Năng lực riêng là
năng lực chỉ có ở một số người.