Header Page 1 of 133.
LUẬN VĂN:
Những tác động của Quốc tế Cộng
sản đến Cách mạng Việt Nam
Footer Page 1 of 133.
Header Page 2 of 133.
I. phần mở đầu
yêu cầu khách quan cần tìm hiểu những tác động của quốc tế cộng sản đến cách
mạng nước ta
Trong môn học Quan hệ quốc tế, dành cho các học viên hệ Cao học Chính trị học
thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, cần tìm hiểu sâu rộng. Song, do đặc trưng và
phương pháp tiếp cận của chuyên ngành quy định, trong Tiểu luận này, chúng tôi chỉ đề
cập đến một vấn đề quan trọng, dù đã thuộc về quá khứ, nhưng vẫn nguyên những giá trị
thời sự chính trị - xã hội, nếu đặt trong mối quan hệ mọi cuộc cách mạng trong thế giới
hiện đại đều phối thuộc, tác động sâu sắc lẫn nhau. Đó là vấn đề: "những tác động của
quốc tế cộng sản đến cách mạng Việt Nam".
Tìm hiểu mối quan hệ này là một yêu cầu khách quan. Bởi, có nhiều lý do. Thứ
nhất, trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, nhất là trong giai đoạn đầu, sự
ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản đối với Cách mạng nước ta là sâu sắc. Là học viên Cao
học thuộc một trong những chuyên ngành về Khoa học - Chính trị, dĩ nhiên phải tìm hiểu,
nghiên cứu. Thứ hai, thực tế lịch sử - cụ thể của mối quan hệ ấy đã cho chúng ta nhiều
bài học, kinh nghiệm quý, từ đó cho phép chúng ta vừa thẩm định lại lịch sử cách mạng
Việt Nam với tư cách là một bộ phận của cách mạng thế giới; vừa góp phần định hướng
II. phần nội dung
Chương 1
quá trình ra đời, hoạt động và những đặc điểm
nổi bật của quốc tế cộng sản
Như chúng ta biết, cụm từ "Quốc tế Cộng sản" chính là để chỉ, biểu thị tổ chức
"Quốc tế III" - một tổ chức quốc tế của những người cộng sản trên toàn thế giới, đã tồn
tại từ năm 1919 đến năm 1943, với tư cách là "Hiệp sĩ của các dân tộc bị áp bức", giúp đỡ
phong trào công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thế giới và trực tiếp hỗ trợ các
chính đảng vô sản ở các nước thuộc địa.
Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản là một tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu lịch sử giai cấp vô sản và các dân tộc bộ áp bức trên toàn thế giới phải đoàn kết lại, tập
hợp trong một tổ chức thống nhất, để chống kẻ thù chung là giai cấp tư sản, các thế lực đế
quốc và thực dân.
Trước khi đề cập về sự xuất hiện của Quốc tế Cộng sản (tức Quốc tế III), cũng vẫn
nhắc lại đôi nét về quá khứ của cách mạng vô sản thế giới, nhất là nói về các tổ chức
cộng sản quốc tế trước Quốc tế Cộng sản. Chủ nghĩa Mác thật sự định hình vững chắc,
trở thành "bóng ma ám ảnh châu Âu và toàn nhân loại" (!) bắt đầu từ 1848, khi mà Tuy
ngôn Cộng sản của K.Mác và ăng-ghen ra đời. Sau đó không lâu để biến lý tưởng cao
đẹp của mình thành hiện thực, Mác và ăng-ghen đã nhanh chóng thành lập tổ chức Liên
minh Công nhân quốc tế, về sau được gọi là Quốc tế I, nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp
vô sản trên toàn thế giới, trước hết là ở châu Âu. Tổ chức này tồn tại được 8 năm, từ 1864
đến 1872. Sau Công xã Pari 1871 khoảng một năm, do bị kẻ thù đàn áp, tổ chức này đã
phải tự giải tán. Dù tồn tại không lâu, nhưng Quốc tế I đã đóng vai trò lịch sử tích cực,
tuyên truyền Học thuyết của K.Mác và ăng-ghen vào Phong trào công nhân, làm cho giai
cấp công nhân ý thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình trước vận mệnh tất yếu phải
đi lên của nhân loại. Tiếp đó sau khi K.Mác qua đời, ăng-ghen nhận thấy cần đưa Học
thuyết Mác vào đời sống nhanh hơn, nhất là đặt trong bối cảnh lúc đó đã xuất hiện một số
chính đảng của giai cấp công nhân ở một loạt nước tư bản phát triển, nên ông đã lập ra
Footer Page 4 of 133.
1/3/1919, tại Mát-xcơ-va (Nga), Lênin đã chủ trì họp, để chuẩn bị về mọi mặt cho
Chương trình làm việc của Hội nghị quốc tế những người cộng sản và công nhân trên
toàn thế giới, nhằm thành lập Quốc tế Cộng sản.
Footer Page 5 of 133.
Header Page 6 of 133.
Khác với các Hội nghị thành lập Quốc tế I và Quốc tế II, Hội nghị thành lập Quốc
tế Cộng sản bắt đầu diễn ra vào chiều ngày 2/3/1919, lần đầu đã có đại biểu một số nước
phương Đông, đại diện cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa. Tham gia Đại biểu
của các đảng cộng sản và các tổ chức cách mạng của 30 nước có mặt trong Hội nghị
thành lập này, đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng, như Cương lĩnh của Quốc tế
Cộng sản, Luận cương và Báo cáo về dân chủ tư sản và chuyên chính vô sản, Tuyên ngôn
của Quốc tế Cộng sản gửi những người vô sản toàn thế giới. Quyết định thành lập Quốc
tế Cộng sản (ngày 4/3/1919) ghi rõ: "Hội nghị cộng sản quốc tế quyết định thành lập
Quốc tế III và thông qua tên gọi là Quốc tế Cộng sản (...). Tất cả các Đảng, các tổ chức
và các nhóm trong thời gian 8 tháng có quyền tuyên bố dứt khoát về việc tham gia vào
Quốc tế III"...
Quốc tế Cộng sản đã tồn tại 24 năm 2 tháng 11 ngày (tính từ ngày thành lập
4/3/1919 đến khi tuyên bố tự giải thể vào ngày 15/5/1943) và trải qua 7 kỳ Đại hội. Đại
hội I, từ ngày 2 đến ngày 6/3/1919. Đại hội II, từ ngày 19/7 đến ngày 7/8/1920. Đại hội
III, từ ngày 22/6 đến ngày 12/7/1921. Đại hội IV, từ ngày 5/11 đến ngày 5/12/1922. Từ
Đại hội V khoảng cách giữa các kỳ Đại hội doãng xa dần. Đại hội V, từ ngày 17/6 đến
ngày 8/7/1924. Đại hội VI, từ ngày 17/7 đến 1/9/1928. Đại hội VIII, từ ngày 25/7 đến
20/8/1935. Đây là Đại hội cuối cùng.
Quốc tế III (tức Quốc tế Cộng sản) đã để lại những dấu ấn - đặc điểm nổi bật. Một
là, Quốc tế Cộng sản đã trở thành một tổ chức quốc tế rộng lớn hơn so với các tổ chức
tương tự trước nó và có sự tham gia của các tổ chức, các đảng cộng sản và công nhân ở
Đảng Cộng sản trên các châu lục. Đến Đại hội VII (19350 đã có 75 Đảng Cộng sản và
các tổ chức cách mạng trên thế giới tham gia vào Quốc tế Cộng sản. Sáu là, trong mối
quan hệ với cách mạng Việt Nam, trong 7 kỳ Đại hội; những người cách mạng Việt Nam
- với tư cách là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương
- đã tham gia 3 kỳ Đại hội của Quốc tế Cộng sản (ở các Đại hội V (1924); Đại hội VI
(1928) và Đại hội VII vào năm 1935). Trong đó, Nguyễn ái Quốc và Lê Hồng Phong,
bằng tài năng của chính mình, đã nổi bật dần lên giữa chính trường chính trị vô sản thế
giới, chứng minh thêm năng lực xuất chúng trên cương vị chính trị - xã hội là các lãnh tụ
của Đảng ta. Đáng chú ý thêm là ở Đại hội VII, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tham dự
với tư cách là một độc lập trực thuộc Quốc tế Cộng sản. Và, trong số 46 uỷ viên chính
thức được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Quốc tế Cộng sản đại diện cho 23 nước
trên thế giới; thì Lê Hồng Phong là một trong hai uỷ viên chính thức của các nước thuộc
địa (cùng với một đại biểu khác của Palextin).
Footer Page 7 of 133.
Header Page 8 of 133.
Chương 2
vấn đề dân tộc và thuộc địa đặt ra trong
Quốc tế Cộng sản
Trong Quốc tế I và Quốc tế II, do tầm nhìn hạn chế, có tính lịch sử - cụ thể, chỉ
nhận ra vai trò của các Đảng Cộng sản, các tổ chức cách mạng khác ở các nước tư bản
phát triển - chính quốc, nên chưa hề có vai trò của các Đảng Cộng sản, các tổ chức cách
mạng ở các nước thuộc địa - phụ thuộc. Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) đã khắc phục
được nhận thức phiến diện ấy trong quá khứ và xác định đúng đắn vấn đề dân tộc, thuộc
địa; nhấn mạnh cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận không thể tách rời của cách
mạng vô sản thế giới (bắt đầu từ Đại hội lần thứ II). Luận điểm này, vấn đề này có ý
"vượt trước thời đại" của Nguyễn ái Quốc và do vậy đã chỉ đạo không phù hợp đối với
cách mạng Đông Dương, cách mạng Việt Nam. Phải đến Đại hội VII (1935), tư tưởng
"Tả khuynh" trên của Quốc tế Cộng sản mới được khắc phục, điều chỉnh một bước. Bằng
chứng là vào lúc đó, Quốc tế Cộng sản đã tạm gác lại việc đánh đổ phong kiến đòi lại
ruộng đất, giải phóng dân tộc; mà tập trung mọi thực lực để chống chủ nghĩa phát-xít và
nguy cơ chiến tranh thế giới II, mở rộng các hình thức Mặt trận, đòi quyền lợi dân sinh,
dân chủ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
ở Việt Nam, Đảng ta, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các Tổng Bí thư Hà Huy Tập,
Nguyễn Văn Cừ, đã sáng tạo ra hình thức Mặt trận Dân chủ Đông Dương, tập hợp được
đông đảo quần chúng, tiến hành cách mạng sâu rộng trong cả nước, giành được nhiều
thắng lợi có ý nghĩa và phát triển thêm uy thế, uy lực của Đảng ta. Đó còn là sự đóng góp
có ý nghĩa về mặt lý luận đối với Cách mạng vô sản thế giới.
Tóm lại, vấn đề dân tộc và thuộc địa đặt ra trong Quốc tế Cộng sản không chỉ có ý
nghĩa là vấn đề lý luận trong nội bộ tổ chức này; mà còn có tác dụng tích cực và thiết
thực đối với Cách mạng Việt Nam...
Chương 3
những tác động tích cực của Quốc tế Cộng sản đến cách mạng Việt Nam
Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) đã có những đóng góp to lớn đối với tiến trình phát
triển buổi đầu của Cách mạng Việt Nam. Chí ít, sự tác động tích cực này được thể hiện
trên 5 điểm chủ yếu, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày tiếp dưới đây.
Thứ nhất, việc Quốc tế Cộng sản xác định đúng vấn đề dân tộc - thuộc địa đã định
hướng sáng tỏ cho con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Như
Footer Page 9 of 133.
Header Page 10 of 133.
ở các chương trên đã phần nào đề cập, việc Quốc tế Cộng sản xác định đúng vấn đề dân
Header Page 11 of 133.
tộc Việt Nam, thoát khỏi những lệch lạc trước đó. Người có vai trò lịch sử nghiên cứu kỹ
những văn kiện cơ bản và tư tưởng chỉ đạo nói trên của Quốc tế Cộng sản là Nguyễn ái
Quốc - Hồ Chí Minh. Và, chính Người, bằng Thiên tài chính trị của mình, đã sớm nhận
ra tư tưởng vĩ đại của V.I.Lênin trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa,
xem đó là "chiếc cẩm nang thần kỳ", là "con đường" để giải phóng "hoàn toàn" dân tộc
Việt Nam ta, phá vỡ sự bế tắc lịch sử đường thời mở đường đi tới thắng lợi ngày càng to
lớn hơn cho Cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, Quốc tế Cộng sản đã giúp đỡ, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để
truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam, từ đó thành lập được Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Việt Nam. Ai cũng biết, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con
đường cách mạng vô sản là cực kỳ quan trọng, là nền tảng bước đầu cho mọi thắng lợi.
Song, chưa đủ! Để biến đường lối đó thành hiện thực, phải trải qua công tác tổ chức thực
hiện lâu dài, phải có những điều kiện, bước đi, biện pháp cụ thể. Quốc tế Cộng sản đã tạo
ra môi trường hoạt động quốc tế thuận lợi giúp đỡ Nguyễn ái Quốc và những người yêu
nước Việt Nam trong việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nước, nghiên cứu khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm của các đảng, các
phong trào, tạo diễn đàn đấu tranh để các đảng cộng sản ở chính quốc quan tâm đúng
mức đến việc giúp đỡ cách mạng thuộc địa. Quốc tế Cộng sản đã giao nhiệm vụ cho các
Đảng Cộng sản Pháp, Trung Quốc ấn Độ, Nhật Bản, Tiệp Khắc giúp đỡ in ấn tài liệu,
chuyển tài liệu về Việt Nam. Tổ chức nhiều lớp học ở Trường Đại học phương Đông và
các lớp ở Quảng Châu để bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho phong trào. Chính nhờ sự giúp
đỡ của Quốc tế Cộng sản thông qua các phân bộ của mình, phong trào công nhân và
phong trào yêu nước v thông qua các phân bộ của mình, phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam có một bước chuyển biến căn bản từ tự phát sang tự giác, từ lẻ tẻ
rời rạc đi đến có tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1930,
xu thế vận động của lịch sử tiến hoá mà thực tiễn lịch sử hiện đại thế giới và Việt Nam đã
minh chứng tính đúng đắn của nó. Chắc chắn nếu không tiếp thu tận gốc Học thuyết Mác
- Lênin, nếu không có những cuộc khảo sát phong trào công nhân và nông dân khắp 4
châu lục, Nguyễn ái Quốc không thể có những chủ trương chiến lược và sách lược rất
sớm, hết sức đúng đắn khác với Quốc tế Cộng sản đề ra ở Đại hội VI năm 1928.
Thứ tư, Quốc tế Cộng sản đã đào tạo cho Việt Nam nhiều cán bộ xuất sắc nắm giữ
các trọng trách cao trong Đảng và Quốc tế
Footer Page 12 of 133.
Header Page 13 of 133.
Quốc tế Cộng sản đã đào tạo và bồi dưỡng cho Cách mạng Việt Nam nhiều cán bộ
ưu tú trở thành những lãnh tụ chân chính của Cách mạng Việt Nam. Thông qua việc phân
công và đào tạo trong công tác thực tiễn và qua các trường lớp của Quốc tế Cộng sản
(Trường Quốc tế Lênin, Trường Lao động Cộng sản Phương Đông) nhiều chiến sỹ cộng
sản Việt Nam đã trưởng thành trở thành các lãnh tụ chính trị xuất sắc của Đảng ta: Hồ
Chí Minh, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, v.v.. Nhờ
được đào tạo cơ bản và có hệ thống mà Đảng ta có bước trưởng thành vững chắc về lý
luận. Một số chiến sỹ cộng sản Việt Nam đã trở thành những "giáo sư đỏ" tham gia vào
việc đào tạo cán bộ cho Quốc tế Cộng sản.
- Trong 10 năm đầu thành lập Đảng, các chức vụ chủ chốt trong Đảng như Tổng
Bí thư, Bí thư các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ hầu hết là do cán bộ được đào luyện từ Quốc tế Cộng
sản đảm đương. Chính vì vậy các chủ trương của Quốc tế Cộng sản được thực hiện có
hiệu quả ở Đông Dương. Nhờ đó cho dù lịch sử có những biến động, những đổi thay ở
mỗi giai đoạn cụ thể có thể khác nhau tác động đến sự cần thiết phải có sự điều chỉnh về
đường lối nhưng nhìn chung đường lối chiến lược và sách lược mà Đảng ta đề ra ngay từ
thời kỳ xây dựng Đảng là đúng đắn và chính xác. Điều đó có được chỉ có thể cắt nghĩa do
sự trưởng thành của cán bộ đảng viên Việt Nam được đào tạo trách nhiệm cao trong
bị cho các văn kiện chính trị và phục hồi Đảng ở Đại hội I. Nhờ có Quốc tế Cộng sản,
Đảng ta kịp thời chuyển hướng sang thời kỳ Mặt trận dân chủ và sáng tạo ra một hình
thức Mặt trận thích hợp ở Đông Dương - Mặt trận dân chủ Đông Dương mà không sa vào
hình thức Mặt trận nhân dân chống đế quốc nói chung. Sự tiếp thu đường lối Mặt trận của
đảng ta trong và sau Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản năm 1935 đã đánh dấu sự vượt
qua tư tưởng giai cấp chống giai cấp để chuyển sang sự kết hợp giai cấp - dân tộc trong
Cách mạng Việt Nam.
Quốc tế Cộng sản đánh giá cao và biểu dương kịp thời cách mạng Đông Dương
trên toàn thế giới, giúp cho các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới có thể học tập từ
kinh nghiệm của phong trào Cách mạng Việt Nam. Cao trào 1930-1931 được Quốc tế
Cộng sản xem như là "những hình thức chủ yếu" của phong trào cách mạng dân tộc, đã
"giáng một đòn trực diện" vào hệ thống đế quốc chủ nghĩa, coi Xô-viết Nghệ -Tĩnh là
"thành tích đặc biệt to lớn". Quốc tế Cộng sản lưu ý các đảng cộng sản đặc biệt là Đảng
Cộng sản Pháp trong lĩnh vực công tác thuộc địa cần phải học tập nhiều ở các đồng chí
Đông Dương. Chính vì vậy từ một phân bộ dự bị trực thuộc Đảng Cộng sản Pháp, tháng
4/1931 Quốc tế Cộng sản đã quyết định công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một
bộ phận dự bị trực thuộc Quốc tế Cộng sản. Hàng chục bài báo được đăng trên Tạp chí
Footer Page 14 of 133.
Header Page 15 of 133.
Quốc tế Cộng sản đưa tin về tình hình và diễn tiến của phong trào cách mạng Đông
Dương nhằm biểu dương phong trào, đúc rút kinh nghiệm hoạt động và kêu gọi sự đồng
tình giúp đỡ của cộng đồng cộng sản quốc tế với Việt Nam. Quốc tế Cộng sản chỉ rõ
"Phải triệt để tìm mọi phương kế thực hiện việc giúp đỡ những người Cộng sản Đông
Dương chăm lo việc gây dựng lại cơ sở cho Đảng Cộng sản Đông Dương", chỉ cho
những người Cộng sản Đông Dương hiểu rõ đường lối của Quốc tế Cộng sản cùng những
phương pháp hoạt động khôn khéo để tập hợp lại thợ thuyền làm đội tiền phong cho cách
Từ chỗ nhận định về sự phản bội của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới,
đặc biệt là giai cấp tư sản dân tộc ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa đã phản bội lại lợi
ích của giai cấp công - nông, Quốc tế Cộng sản đã cho rằng giai cấp tư sản nói chung là
đối tượng phải đánh đổ. Đặt giữa bối cảnh của chủ nghĩa phát-xít đã xuất hiện, nguy cơ
chiến tranh thế giới do chúng gây ra đã đến gần, luận điểm "tả khuynh" này càng được
củng cố và đã chi phối hành động của các đảng vô sản. ở Việt Nam và Đông Dương, đặc
điểm ra đời và phân hoá trong giai cấp tư sản khác rất nhiều nước. Do vậy, khi phải thực
hiện chủ trương này của Quốc tế Cộng sản đã dẫn đến những biểu hiện "tả khuynh" trong
phong trào cách mạng vô sản ở nước ta, nhất là gây nên khó khăn trong tập hợp lực lượng
cách mạng. Khẩu hiệu "Trí, phú, địa, hào - đào tận gốc, trốc tận rễ" trong giai đoạn cuối
1930 đến 1936 và bị lặp lại trong giai đoạn 1953 - 1955; rơi rớt cả đến thời kỳ chống xâm
lược Mỹ là biểu hiện của tinh thần này. ở đây có bài học về hậu quả vận động các chủ
trương của Quốc tế Cộng sản không phù hợp với thực tế Việt Nam; bài học về sự giáo
điều, không chịu nghiên cứu - tổng kết thực tiễn - cụ thể. Thực ra, ở Việt Nam, tư sản dân
tộc có hai khuynh hướng; Hoặc cách mạng; hoặc cải lương. Cả hai khuynh hướng này
đều có tinh thần chống Pháp và những mức độ khác nhau, mà người lãnh đạo cách mạng
vô sản cần và nên tập hợp, để gia tăng sức mạnh lực lượng cách mạng nói chung và thể
hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Hơn nữa, quan điểm "Tả khuynh" dẫn đến nhận định
Footer Page 16 of 133.
Header Page 17 of 133.
về nhiệm vụ chính của cách mạng giải phóng dân tộc là chống phong kiến thì càng không
đúng. Cốt lõi của cách mạng giải phóng dân tộc chống đế quốc như Nguyễn ái Quốc - Hồ
Chí Minh đã nêu ra trong Chính cương và Sách lược vắn tắt khi thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam 1930. Kinh nghiệm lịch sử cách mạng Việt Nam chỉ ra: Đánh giá đúng các giai
cấp, các tầng lớp, để có chủ trương lập Mặt trận rộng rãi là một thành công có tính nền
tảng và phương pháp luận - thực tiễn... Cung chính từ điểm này, mà những người cộng
sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, việc quyết định cử một số cán bộ vào
các chức vụ lãnh đạo trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và việc phê bình Nguyễn ái Quốc
thời gian từ 1931-1938 có thể xem như là những hạn chế ảnh hưởng nhất định đến phong
trào cách mạng Đông Dương. Những hạn chế của Quốc tế Cộng sản với Cách mạng Việt
Nam là điều dễ hiểu và có những hoàn cảnh lịch sử cụ thể cần phải gắn vào bối cảnh lịch
sử để có sự đánh giá cho đúng đắn.
Footer Page 18 of 133.
Header Page 19 of 133.
III. phần kết luận
ý nghĩa, bài học chính trị - thời sự khi nghiên cứu
về những tác động của quốc tế cộng sản
cách mạng nước ta
Thời gian càng lùi xa, càng cho phép chúng ta - những người cộng sản ở Việt
Nam, đang phấn đấu thực hiện lý tưởng cộng sản giữa thời kỳ Đổi mới - có cái nhìn toàn
diện hơn, chính xác hơn, để kiểm chứng, nhận thức đúng về vai trò của Quốc tế Cộng sản
trong những năm tồn tại của mình, nhất là hiểu rõ, hiểu đúng về ảnh hưởng của tổ chức
cộng sản quốc tế này đối với sự phát triển buổi đầu của Cách mạng Việt Nam.
Hoàn toàn có thể khẳng định: Mặc dù còn một số hạn chế, Quốc tế Cộng sản đã có
những đóng góp to lớn đối với phong trào cộng sản, công nhân và sự nghiệp giải phóng
dân tộc của các quốc gia, lãnh thổ bị áp bức trên toàn thế giới. Cách mạng Việt Nam cũng
đã tiếp nhận cả hai mặt tích cực và chưa hoàn thiện ấy; song dưới sự lãnh đạo của Đảng
ta, nhất là của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh vĩ đại, cách mạng nước ta đã nhanh
chóng thoát dần ra, giảm thiểu bớt những hạn chế và tranh thủ được mặt tích cực của
Quốc tế Cộng sản trong quá trình này. Bởi vậy, xét về ý nghĩa của vấn đề, chúng ta
không thể và càng không nên đặt vấn đề phủ nhận vai trò của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế