3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ đội Biên phòng (BĐBP) là lực lượng vũ trang cách mạng của
Đảng, Nhà nước; là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm
nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ biên giới (BVBG) quốc gia. Để
thực hiện nhiệm vụ quản lý, BVBG quốc gia, BĐBP phải thường xuyên xây
dựng khu vực biên giới (KVBG) vững mạnh về mọi mặt: Chính trị, kinh tế xã hội (KT-XH), Quốc phòng - An ninh (QP-AN), góp phần quản lý, bảo vệ
vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới (ANBG) quốc gia.
Vận động quần chúng (VĐQC) là biện pháp công tác biên phòng cơ
bản của BĐBP; có vị trí rất quan trọng làm cơ sở, nền tảng cho các biện
pháp công tác khác trong quản lý, BVBG quốc gia. Thực tiễn công tác quản
lý, BVBG của BĐBP đã chứng minh rằng, ở đâu KT-XH phát triển thì ở đó
quần chúng nhân dân sẽ tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả các phong
trào quản lý, BVBG quốc gia.
Trong những năm qua, BĐBP tỉnh Hà Giang đã tiến hành nhiều hoạt
động nhằm phát triển KT-XH ở KVBG, trong đó đã làm tốt công tác VĐQC
phát triển KT-XH, mang lại những kết quả nhất định, góp phần nâng cao đời
sống nhân dân ở KVBG. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng còn
những hạn chế nhất định dẫn đến hiệu quả chưa cao. Những hạn chế đó do
nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó một nguyên nhân cơ bản là chưa
phát huy hết vai trò của quần chúng nhân dân trong phát triển KT-XH.
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác VĐQC phát triển
KT-XH của BĐBP đã có một số tác giả nghiên cứu dưới các góc độ khác
nhau. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống
về công tác VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG của BĐBP tỉnh Hà Giang
dưới góc độ khoa học biên phòng, chuyên ngành Quản lý biên giới. Vì vậy,
4
5
Luận văn cấu trúc gồm: Mở đầu, 3 chương, kết luận, kiến nghị, tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN
CHÚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI
CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG
1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN
CHÚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI CỦA BỘ
ĐỘI BIÊN PHÒNG
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Vận động quần chúng
Vận động quần chúng của Bộ đội Biên phòng là biện pháp công
tác biên phòng cơ bản, thường xuyên, có tính chiến lược của Bộ
đội Biên phòng, dựa vào chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình nhiệm vụ của địa
phương để tiến hành tuyên truyền, giáo dục, tổ chức hướng dẫn
quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ biên giới, vùng biển của Tổ
quốc [22, tr.1161].
Công tác VĐQC bao gồm những nội dung chủ yếu là: tuyên truyền,
giáo dục, nâng cao giác ngộ chính trị, cảnh giác cách mạng cho quần chúng
ở KVBG; tham gia xây dựng CSCT xã, phường vững mạnh toàn diện; củng
cố phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, tổ chức hướng dẫn quần
chúng nhân dân BVBG; tăng cường quan hệ hữu nghị với nhân dân nước
láng giềng; quan hệ đoàn kết quân dân, vận động nhân dân chấp hành pháp
luật, chống âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, tố giác tội phạm và
phát triển KT-XH.
7
sách của Đảng; chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ; chủ trương công tác của
địa phương và hướng dẫn của các ngành chuyên môn.
Vận động quần chúng phát triển KT-XH ở KVBG là hình thức vận
động theo chuyên đề, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ BĐBP các cấp phải nắm vững
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và của địa
phương; có trình độ năng lực về phát triển KT-XH. Qua đó, tiến hành
VĐQC nhằm mục đích nâng cao trình độ hiểu biết về kiến thức khoa học kỹ thuật cho quần chúng nhân dân, từng bước cải thiện dân sinh, góp phần
làm chuyển biến tình hình KT-XH trong phạm vi KVBG, tạo cơ sở vật chất
tăng cường khả năng, tiềm lực bảo vệ chủ quyền, ANBG quốc gia. Vì vậy,
công tác VĐQC phát triển KT-XH là công việc do cán bộ, chiến sĩ BĐBP
tiến hành, trong đó lực lượng nòng cốt, chuyên trách là cán bộ, chiến sĩ làm
công tác VĐQC.
Công tác VĐQC phát triển KT-XH của BĐBP phải xác định quần chúng
nhân dân ở trong phạm vi KVBG là đối tượng để tuyên truyền, vận động.
Xây dựng và phát triển KT-XH ở KVBG là bộ phận hợp thành quan
trọng. Đây là công việc to lớn và lâu dài; là chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước. Đây cũng là trách nhiệm của BĐBP mà trực tiếp là lực lượng làm
công tác VĐQC.
1.1.2. Vị trí, vai trò của công tác vận động quần chúng phát triển
kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng
Công tác VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG là một trong những
nhiệm vụ chính trị quan trọng của BĐBP nhằm xây dựng thế trận lòng dân,
xây dựng KVBG vững mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền, ANBG quốc gia.
Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, BVBG quốc gia, BĐBP còn phải
thường xuyên giúp đỡ đồng bào các dân tộc phát triển KT-XH, từng bước
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ở KVBG. Thực hiện tốt
9
1.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác
quần chúng
* Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân
Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhận thức rõ vai
trò to lớn của quần chúng nhân dân; Đảng luôn tin tưởng vào sức mạnh, tài
năng, ý chí sáng tạo, tự lực, tự cường của nhân dân. Đảng biết dựa vào dân
trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách; thực hiện
nghiêm việc kiểm tra, giám sát, lấy ý kiến của dân trong việc sửa đổi chủ
trương, chính sách.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định: "Đổi
mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ
động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới"
[15, tr 211].
Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan
trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân,
xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố
mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển, đó là chìa khoá của thành công.
Xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vì nhân dân phục
vụ. Đây là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
* Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết
thực của nhân dân, kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất về quyền lợi với
nghĩa vụ công dân
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải
phóng đất nước cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay,
dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhân dân ta cũng một lòng, một dạ đi theo
quần chúng được thành lập phải trên nguyên tắc tự nguyện, tự giác, tránh gò
ép thái quá, quy mô tổ chức vừa hay nhỏ tuỳ theo đặc điểm từng nơi, từng
11
lĩnh vực hoạt động mà tổ chức cho phù hợp.
* Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các
đoàn thể
Công tác quần chúng được tiến hành bằng sức mạnh tổng hợp của
Đảng, chính quyền và các đoàn thể theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần
chúng thể hiện bằng việc thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng và đời
sống của quần chúng nhân dân, kịp thời giải quyết những vấn đề của quần
chúng đặt ra bằng việc định ra các chủ trương, chính sách cụ thể. Phân công
cán bộ phụ trách công tác quần chúng, thực hiện chế độ kiểm tra, chỉ đạo
các cơ quan, đoàn thể và thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng về công tác quần chúng.
Nhà nước quản lý là thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng
bằng pháp luật, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của đông đảo quần chúng
nhân dân. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội phải thường
xuyên trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của
nhân dân để phản ánh với Nhà nước và chính quyền địa phương. Đồng thời,
trực tiếp VĐQC thực hiện nghiêm mọi chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước.
Trong hệ thống CSTC ở nước ta, các tổ chức quần chúng giữ một vai
trò hết sức to lớn. Đó là nơi tập hợp đông đảo quần chúng tham gia các hoạt
động, người lao động được tập hợp vào các hoạt động quản lý ở nhiều mức
độ khác nhau. Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn
thể mà còn là trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khác nhau dưới sự lãnh
hiện đại hóa cần phải thực hiện tốt các nội dung sau:
- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
13
Trong xây dựng cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ cấu sản xuất hợp lý là
bước ngoặt quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế tự cung, tự
cấp sang nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ khả năng thực tế của KVBG, trong những năm trước mắt cũng
như lâu dài, các ngành nông, lâm, ngư nghiệp cần phát triển mạnh. Trong
đó, phải tận dụng triệt để những điều kiện sẵn có về đất đai, về giống mới
để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt, việc bố trí sản xuất và tìm
thị trường cho một số ngành kinh tế mũi nhọn, thế mạnh trên cơ sở
chuyên canh tạo thành vùng hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong
nước và xuất khẩu.
- Đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào phát triển KT-XH ở KVBG
Nhanh chóng đưa khoa học, công nghệ mới vào phát triển KT-XH
ở KVBG. Vì, sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp có trở thành hàng hoá hay
không phụ thuộc chủ yếu vào khoa học, công nghệ. Bên cạnh đó, đây là
cơ sở quyết định việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật ngày càng phát
triển ở KVBG.
Thực hiện đưa tiến bộ khoa học đến KVBG đang được Đảng, Nhà
nước đặc biệt quan tâm. Trên thực tế, việc chuyển kinh tế KVBG sang kinh
tế hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội
chủ nghĩa là đã đặt vùng này trong tổng thể phát triển của cả nước. Đây là
vấn đề quan trọng để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng hiệu quả của từng
địa phương.
Thứ ba, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là đối với các nước
láng giềng có chung đường biên giới
thường xuyên nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp cho
phù hợp với sự phát triển của đất nước và diễn biến tình hình trên các tuyến
biên giới. Trong đó, trọng tâm hàng đầu là đổi mới về hình thức, phương
17
pháp VĐQC, tổ chức hướng dẫn quần chúng, tác phong và nghệ thuật lãnh
đạo, chỉ huy, tổ chức thực hiện của chỉ huy các cấp BĐBP
Xuất phát từ âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực thù địch; xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực và
trong nước đang diễn ra hết sức phức tạp đòi hỏi công tác VĐQC phải luôn
có sự đổi mới cho phù hợp. Phải quán triệt và thực hiện đầy đủ các chỉ thị và
nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác VĐQC, bám sát sự chỉ đạo
của cơ quan nghiệp vụ cấp trên; thường xuyên nắm chắc các yếu tố, tình
hình có liên quan để có nội dung, hình thức, phương pháp VĐQC cho phù
hợp. Mặt khác, phải nâng cao trình độ năng lực, tác phong công tác của cán
bộ, chiến sĩ làm công tác VĐQC, đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp
uỷ, chỉ huy biên phòng các cấp và tăng cường quan hệ với cấp uỷ, chính
quyền địa phương, các cơ quan, ban, ngành, các lực lượng ở KVBG để tổ
chức VĐQC mang lại kết quả cao.
1.3. BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI
1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng và yêu cầu của
công tác vận động quần chúng phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới
1.3.1.1. Chức năng, nhiệm vụ
Nghị quyết số 11/NQ-TW, ngày 08/8/1995 của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng BĐBP trong tình hình mới và
pháp lệnh BĐBP đã xác định BĐBP có chức năng, nhiệm vụ sau:
trình VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG của BĐBP phải quán triệt sâu sắc
quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các
Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ; các chỉ thị của Đảng uỷ BĐBP
về việc “ Bộ đội Biên phòng tiến hành Vận động quần chúng phát triển kinh
tế - xã hội ở khu vực biên giới”.
19
Vì vậy, để thực hiện tốt các yêu cầu này, các đơn vị cơ sở của BĐBP
phải làm tốt công tác giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, nhất là đội
ngũ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm công tác VĐQC. Làm tốt công tác tham
mưu cho địa phương phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành
thường xuyên tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho quần chúng nhân dân các
dân tộc ở KVBG chấp hành tốt quan điểm, đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, nhận thức rõ trách nhiệm và nghĩa vụ tạo nên
sức mạnh tổng hợp để VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG, góp phần thực
hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng trong thời kỳ mới.
Hai là, phải kết hợp giữa tham gia xây dựng, củng cố CSCT vững
mạnh với phát triển KT-XH, củng cố QP-AN ở KVBG
Đây là yêu cầu hết sức quan trọng nhằm xây dựng KVBG vững mạnh
toàn diện. Bởi vì, một địa bàn dân cư nói chung, KVBG nói riêng được xem
là vững mạnh phải trên cơ sở “kinh tế - xã hội phát triển, chính trị ổn định,
quốc phòng, an ninh vững chắc”. Vì vậy, BĐBP phải quán triệt sâu sắc yêu
cầu này, đồng thời thấy rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ
quản lý, BVBG và tham gia xây dựng, củng cố CSCT, phát triển KT-XH ở
KVBG. Nếu BĐBP tiến hành VĐQC phát triển KT-XH có hiệu quả các
chương trình, dự án của Nhà nước và của địa phương sẽ là cơ sở để củng cố
CSCT, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc
phòng, phát triển quan hệ đối ngoại…đó cũng là nội dung thiết thực để xây
phương và các lực lượng, các ban ngành đoàn thể nhằm tạo ra sức mạnh
tổng hợp trong VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG.
Để thực hiện yêu cầu này, đòi hỏi các đơn vị BĐBP phải tham mưu cho
cấp uỷ, chính quyền địa phương đề ra chủ trương, xây dựng kế hoạch và chỉ
đạo, lãnh đạo các ban ngành, các lực lượng ở KVBG nhận thức rõ yêu cầu,
nhiệm vụ công tác VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG trong tình hình mới.
21
Quá trình thực hiện kế hoạch cần phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ dưới sự
lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương, nhằm phát huy cao
nhất sức mạnh của các lực lượng, các ban ngành. Làm tốt công việc tổ chức
phối hợp, hiệp đồng sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, ban
ngành trong VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG.
1.3.2. Nội dung, hình thức và phương pháp vận động quần chúng
phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng
1.3.3.1. Nội dung
Công tác VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG có vị trí rất quan trọng,
là một nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược và là động lực thúc đẩy sự
phát triển nền kinh tế quốc dân ở KVBG, tạo nền tảng, sức mạnh xây dựng
nền biên phòng toàn dân để bảo vệ chủ quyền, ANBG quốc gia. Vận động
quần chúng phát triển KT-XH ở KVBG phải triển khai trên nhiều lĩnh vực
như: phát triển kinh tế, văn hoá - thông tin, giáo dục - đào tạo, y tế. Vì vậy,
phải căn cứ vào tình hình và điều kiện cụ thể của từng đơn vị và đặc điểm
từng vùng để lựa chọn nội dung cho phù hợp. Vận động quần chúng phát
triển KT-XH tập trung vào những nội dung cụ thể sau:
- Tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong việc nghiên cứu
đề xuất, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phát triển KTXH
Để thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH có hiệu quả đòi hỏi cấp uỷ,
phương ký kết, thực hiện các chương trình phối hợp và cùng nhau xây dựng
các chương trình phối hợp phát triển KT-XH. Mặt khác, BĐBP phải phối
hợp với địa phương để tổ chức thực hiện tốt các chương trình, dự án phát
triển KT-XH ở KVBG.
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho quần chúng
nhân dân về thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH ở KVBG
23
Ở KVBG do nhiều nguyên nhân nên trình độ dân trí nói chung, nhận
thức về phát triển KT-XH của quần chúng nói riêng còn nhiều hạn chế.
Trong khi đó, quần chúng nhân dân lại là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ
phát triển KT-XH. Vì vậy, phải tuyên truyền nâng cao trình độ mọi mặt nói
chung, nhận thức về phát triển KT-XH nói riêng để họ hiểu và thực hiện có
hiệu quả.
Để quần chúng nhân dân hiểu và thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển
KT-XH ở KVBG, đòi hỏi BĐBP các cấp phải tổ chức tuyên truyền, giáo
dục cho quần chúng nhân dân về những chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước và địa phương về phát triển KT-XH ở KVBG. Tuyên truyền,
vận động quần chúng nhân dân biết và thực hiện tốt các chương trình, dự
án phát triển KT-XH ở KVBG.
1.3.3.2. Hình thức
Trên cơ sở các hình thức VĐQC tham gia quản lý, BVBG quốc gia,
BĐBP khi VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG thường áp dụng các hình thức
sau:
Vận động quần chúng thường xuyên
Là hình thức vận động được tiến hành liên tục về thời gian và không
có sự phân biệt, phân chia đối tượng vận động để thu hút được nhiều người,
thuộc mọi thành phần lứa tuổi tham gia phát triển KT-XH.
bản, một đoàn thể...để tuyên truyền, giải thích nhằm vận động đông đảo
quần chúng nhân dân phát triển KT-XH.
Vận động quần chúng riêng lẻ (cá biệt)
Là phương pháp vận động dựa trên quan điểm lịch sử, cụ thể đối với
mỗi cá nhân quần chúng nhằm mục đích giáo dục, giác ngộ, đưa họ vào
25
những hoạt động phục vụ cho việc VĐQC rộng rãi hoặc để giải quyết
những yêu cầu mà công tác phát triển KT-XH đặt ra.
Khi tiến hành công tác VĐQC phát triển KT-XH ở KVBG dù là tiến
hành theo phương pháp VĐQC rộng rãi hay riêng lẻ cũng phải tiến hành
theo các bước sau:
Điều tra, nghiên cứu, nắm vững tình hình về đối tượng cần tuyên
truyền, vận động. Đối tượng tuyên truyền, vận động phát triển KT-XH ở
KVBG là nhân dân các xã biên giới. Mục đích là tìm hiểu đầy đủ về tình
hình đối tượng cần tuyên truyền, vận động để đề ra chủ trương, kế hoạch,
biện pháp vận động phù hợp. Đây là bước đầu tiên làm cơ sở cho việc thực
hiện các bước tiếp theo.
Nội dung của bước này bao gồm: điều tra về trình độ nhận thức,
phong tục tập quán, điều kiện sinh hoạt, tâm tư tình cảm, ý thức trách nhiệm
của công dân đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, ANBG quốc gia nói
chung và công tác phát triển KT-XH nói riêng.
Tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ quần chúng. Đây là bước giữ vai trò
đặc biệt quan trọng của công tác VĐQC. Thông qua tuyên truyền, giáo dục,
quần chúng sẽ đổi mới và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sự
nghiệp bảo vệ chủ quyền, ANBG quốc gia nói chung và phát triển KT-XH
nói riêng. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "Muốn có phong trào
quần chúng phải đưa trình độ quần chúng từ thấp đến cao, từ giác ngộ cách