Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến tình hình sản xuất và đời sống các hộ gia đình tại xã gia tân, huyện gia lộc, tỉnh hải dương - Pdf 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________

***

__________________

ẢNH HƯỞNG CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH SẢN
XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CÁC HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ GIA TÂN,
HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

HÀ NỘI


MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................
DANH MỤC BẢNG.......................................................................................
DANH MỤC BIỂU ĐỒ..................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.............................................................
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu........................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................................2
1.2.1 Mục tiêu chung.................................................................................................................2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.................................................................................................................3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài...........................................................................3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................................3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................................3


4.1.3 Thực trạng ngành nghề và chất lượng của lao động xuất khẩu ở xã Gia Tân..................56
4.1.4 Các quốc gia nhập khẩu lao động...................................................................................57
4.2 Ảnh hưởng của việc xuất khẩu lao động đến tình hình sản xuất và đời sống các hộ gia đình
toàn xã.........................................................................................................................................60
4.2.1 Các thông tin chung của các nhóm hộ điều tra và lao động xuất khẩu...........................60
4.2.1.1 Các thông tin chung của các nhóm hộ điều tra............................................................60
4.2.2 Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến tình hình sản xuất của các hộ gia đình.............66
4.2.3 Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời sống các hộ gia đình xã Gia Tân.................81
4.3 Đánh giá chung ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến tình hình sản xuất và đời sống hộ gia
đình xã Gia Tân............................................................................................................................92
4.3.1 Tích cực...........................................................................................................................92
4.3.2 Tiêu cực..........................................................................................................................93
4.3.3 Nguyên nhân của ảnh hưởng tiêu cực............................................................................94
4.4 Định hướng và giải pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của xuất khẩu lao động
đến đời sống hộ gia đình của xã..................................................................................................96
4.4.1 Một số định hướng cho vấn đề xuất khẩu lao động tại xã..............................................96
4.4.3 Giải pháp cho hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, phát huy ảnh hưởng tích cực của
XKLĐ........................................................................................................................................97

PHẦN V. KẾT QUẢ VÀ KIẾN NGHỊ......................................................
5.1 Kết luận................................................................................................................................101
5.2 Kiến nghị..............................................................................................................................103
5.2.1 Đối với chính quyền địa phương...................................................................................103
5.2.2. Đối với các hộ gia đình có lao động tham gia XKLĐ......................................................103

TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................

ii



Đồ thị 4.1. Số lượng lao động xuất khẩu xã Gia Tân giai đoạn 2010 – 2014.....................54
Đồ thị 4.2. Cơ cấu lao động xuất khẩu theo độ tuổi xã Gia Tân........................................55

iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
XKLĐ
XK

KT
ASXH
BQĐN
Tr.đ
ng
ng.đ
CC
SX

Xuất khẩu lao động
Xuất khẩu
Lao động
Kinh tế
An sinh xã hội
Bình quân đầu người
Triệu đồng
Người
Nghìn đồng
Cơ cấu
Sản xuất

dẫn tới sa ngã, nợ nần, tha hóa về đạo đức, lối sống…
1


Người dân tại xã Gia Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương sống chủ
yếu bằng nghề nông (trồng lúa và chăn nuôi), ngoài ra còn có các nghề phụ
như: xay sát, nghề mộc, nấu rượu, làm bánh đa, làm nghề phụ… nhưng nhìn
chung hoạt động ngoài nông nghiệp chiếm tỷ lệ không lớn. Trong những năm
gần đây, nghề nông còn không mang lại nhiều hiệu quả kinh tế, diện tích đất
lúa suy giảm, nông dân không còn muốn làm nông nghiệp dẫn tới nền kinh tế
tổng thể toàn xã kém phát triển một phần cũng do điều kiện sản xuất kém,
chất lượng cuộc sống thấp một phần do những nguyên nhân như: thiếu đất,
lao động chất lượng chưa cao… Một trong những biện pháp cải thiện tình
trạng khó khăn như hiện nay mà xã đang áp dụng là xuất khẩu lao động. Kể từ
năm 2000 đến nay, xu hướng người dân đi xuất khẩu lao động tăng mạnh về
số lượng và các nước người dân đi làm việc.
Nhờ xuất khẩu lao động trong vòng 5 năm trở lại đây, nền kinh tế tại xã
đã đi lên thấy rõ, bộ mặt nông thôn thay đổi, chất lượng cuộc sống người dân
được nâng cao. Trước đây, chỉ có những khảo sát mang tính điều tra số lượng
lao động đi XKLĐ qua từng năm, chứ chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác
động của việc này tới sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương. Nhằm
chỉ ra sự ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời sống của các hộ gia đình
qua việc tìm hiểu sự biến đổi thu nhập, việc làm của các hộ gia đình ở khu
vực nông thôn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của xuất khẩu
lao động đến tình hình sản xuất và đời sống các hộ gia đình tại xã Gia Tân,
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời sống và tình hình
sản xuất kinh doanh của người dân để từ đó đưa ra giải pháp nhằm hạn chế

3


PHẦN II: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến tình hình sản
xuất và đời sống hộ gia đình.
2.1.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
2.1.1.1 Khái quát chung về hoạt động xuất khẩu lao động
a) Khái niệm
* Lao động
Theo Từ điển Tiếng Việt, lao động là hoạt động có mục đích của con
người, nhằm tạo ra những của cải vật chất, tinh thần cho xã hội (Hoàng
Phê,2000).
Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin, lao động là hoạt động có
mục đích, có ý thức của con người nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên
cho phù hợp với nhu cầu con người (NXB Chính trị Quốc gia, 2005).
Như vậy, lao động chính là hoạt động của con người tác động vào giới
tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên theo những mục đích nhất định của mình. Con
người có thể dùng sức mạnh cơ bắp hoặc trí tuệ để tác động vào tự nhiên biến
chúng thành có ích cho cuộc sống của mình (Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn
Ngọc Quân, 2004).
Lao động có vai trò quyết định trong sự biến hóa của loài người.
Trong thời đại kinh tế thị trường ngày nay, cùng với tài nguyên thiên nhiên,
tư bản và năng lực kinh doanh, lao động là yếu tố chủ yếu của hoạt động
sản xuất kinh doanh.
* Sức lao động
Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng
trong quá trình lao động.
Trên thị trường lao động, sức lao động được coi là hàng hóa – đó là
loại hàng hóa đặc biệt vì con người có tư duy, tự làm chủ bản thân mình

sức lao động của người đó được gọi là sức lao động xuất khẩu.
5


Từ những hoạt động di chuyển quốc tế sức lao động tự phát, đơn lẻ đã
trở thành những trào lưu di dân quốc tế. Ngày nay khi di chuyển lao động
quốc tế đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến thì thuật ngữ
xuất khẩu lao động ra đời và được sử dụng một cách rộng rãi. Có rất nhiều
khái niệm khác nhau về xuất khẩu lao động, dưới đây là một số khái niệm cơ
bản về XKLĐ:
Ở Việt Nam, từ năm 1991 đến nay, khái niệm “Đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” được sử dụng trong các Nghị định của
Chính phủ, Bộ Luật lao động và nhiều văn bản khác. Tại Luật sửa đổi Bộ
Luật lao động (hiệu lực từ 01/01/2003), khái niệm “Đưa người đi làm việc ở
nước ngoài” và “Xuất khẩu lao động” được sử dụng đồng thời. Tháng 11
năm 2006, Bộ Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng được Quốc hội khóa 10 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2007,
khái niệm “Đưa người đi làm việc ở nước ngoài” đã được luật hóa. Vì vậy,
cùng với “Xuất khẩu lao động”, “Đưa người đi làm việc ở nước ngoài” là
cách gọi hợp pháp. Do đó, việc sử dụng đồng thời hai thuật ngữ “Xuất khẩu
lao đông” và thuật ngữ “Đưa người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”
đều có thể chấp nhận được.
Trong chỉ thị số 41-CT/TW ngày 29/9/1998 của Bộ Chính trị: “Xuất
khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát
triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ
tay nghề cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường
quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta và các nước”.
Xuất khẩu lao động được hiểu là việc đưa lao động và chuyên gia Việt
Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Đây là một hoạt động kinh tế - xã
hội của Nhà nước nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc

Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc
gia, đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển (Nguyễn Thanh Tâm,

7


2012). Hoạt động này đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia: bên xuất
khẩu lao động, bên nhập khẩu lao động và bản thân người lao động
* Xét trên góc độ vĩ mô:
- Với nước xuất khẩu lao động: có lợi về nhiều mặt trong đó đặc biệt là
các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, quan hệ đối ngoại.
+ Về kinh tế: XKLĐ có vai trò đặc biệt trong hoạt động kinh tế. Trước
hết nó góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Kinh nghiệm từ một số nước cho thấy, XKLĐ là một giải pháp khắc phục tình
trạng thất nghiệp có hiệu quả cao. Bên cạnh đó, XKLĐ còn đem lại nguồn thu
ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
do vậy rút ngắn khoảng cách giàu – nghèo giữa nước phát triển và nước đang
phát triển.
+ Về xã hội: XKLĐ là một kênh giải quyết việc làm cho người lao
động rất có ý nghĩa. Thực hiện tốt công tác XKLĐ sẽ giảm được tệ nạn xã
hội do thất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao
động, học tập được phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước
ngoài trang bị.
+ Về quan hệ đối ngoại: mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh
vực XKLĐ là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước cung ứng lao
động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó, hiểu nhau hơn, tạo ra mối
quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Cung cấp cho nhau những thông tin quan
trọng về những vấn đề hai nước cùng quan tâm và thống nhất quan điểm
hai bên cùng có lợi. Sự đa dạng hóa các quan hệ hợp tác quốc tế được mở
rộng thông qua hợp tác về lao động sẽ tạo điều kiện mở rộng hơn nữa các

* Cung ứng lao động theo các hợp đồng cung ứng lao động đã ký kết
với bên nước ngoài.
Nội dung: các doanh nghiệp XKLĐ sẽ tuyển LĐ đi làm việc ở nước
ngoài theo các hợp đồng cung ứng LĐ. Hình thức này tương đối phổ biến,
được thực hiện rộng rãi trong các năm vừa qua và những năm tới.
9


Đặc điểm: các tổ chức kinh tế tổ chức tuyển chọn lao động và chuyên
gia đi làm việc cho người sử dụng lao động ở nước ngoài. Các yêu cầu về tổ
chức lao động do phía nước tiếp nhận đặt ra. Quan hệ lao động được điều
chỉnh bởi pháp luật của nước tiếp nhận. Quá trình làm việc là ở nước ngoài,
người lao động chịu sự quản lý trực tiếp của người sử dụng lao động nước
ngoài. Quyền và nghĩa vụ của người lao động do phía nước ngoài bảo đảm.
* Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhận
thầu, khoán công trình ở nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài.
Nội dung: đây là trường hợp doanh nghiệp tuyển lao động và chuyên
gia đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện hợp đồng kinh tế với bên nước
ngoài; các doanh nghiệp trúng thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài
hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết chia sản phẩm hoặc các
hình thức đầu tư khác ở nước ngoài. Những năm vừa qua, hình thức này
tuy chưa phổ biến nhưng theo chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực, mở rộng và tăng cường kinh tế đối ngoại thì hình thức này
sẽ ngày càng phát triển.
Đặc điểm của hình thức này là: các doanh nghiệp XKLĐ sẽ tuyển chọn
LĐ nhằm thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp đồng liên doanh - liên kết. Các
yêu cầu về tổ chức lao động, điều kiện lao động do doanh nghiệp XKLĐ đặt
ra. Các doanh nghiệp XKLĐ có thể trực tiếp tuyển dụng LĐ hoặc thông qua
các tổ chức cung ứng LĐ trong nước. Doanh nghiệp XKLĐ trực tiếp đưa lao
động đi nước ngoài, quản lý lao động ở nước ngoài cũng như đảm bảo các

Trong hoạt động xuất khẩu lao động, người lao động sẽ đem “bán” sức
lao động của mình cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài và nhận về
khoản tiền công là tiền lương được trả. Chính vì sức lao động là một loại
hàng hóa đặc biệt nên tính chất của xuất khẩu lao động không chỉ đơn
thuần như hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thông thường, tranh chấp về
hàng hóa giữa các nước đã là một việc khó giải quyết bao nhiêu thì tranh
chấp và những vi phạm trong việc xuất khẩu lao động giữa các nước lại
11


càng khó giải quyết và xử lý hơn nhiều. Bởi nó đòi hỏi phải có sự quản lý
và quan tâm đặc biệt của Nhà nước.
- XKLĐ mang tính lợi ích cao
Đối với quốc gia hoạt động xuất khẩu lao động mang lại một khoản thu
cho ngân sách Nhà nước nhờ khoản thuế thu từ hoạt động của các công ty,
doanh nghiệp xuất nhập khẩu và khoản ngoại tệ người lao động gửi về nước.
Hơn nữa, đối với quốc gia xuất khẩu lao động còn giúp giải quyết việc làm,
giảm thiểu thất nghiệp, thông qua xuất nhập khẩu đẩy nhanh được tiến trình
phát triển đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp, công ty xuất khẩu lao động: hoạt động xuất
khẩu lao động mang lại lợi nhuận trước hết cho các nhân viên của doanh
nghiệp nhờ vào các khoản thu từ chi phí đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài như phí môi giới, phí đào tạo,… sau đó là mang lại lợi ích cho chủ
doanh nghiệp nhờ khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động của doanh nghiệp.
Đối với các đối tượng đi xuất khẩu lao động và người thân: khoản lợi
ích mà họ nhận được chính là khoản tiền lương họ được nhận và gửi về nước
cho người thân. Khoản tiền đó còn có thể trở thành khoản vốn đầu tư cho
những người lao động sau khi họ trở về nước, giúp họ làm giàu và cải thiện
cuộc sống của gia đình và bản thân. Một lợi ích vô hình nữa mà họ nhận được
từ việc đi xuất khẩu lao động đó là được nâng cao trình độ tay nghề, ý thức

Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động xuất khẩu lao
động cũng được đặt trong một môi trường cạnh tranh gay gắt. Sự cạnh tranh
đến trước hết là từ phía những người lao động với nhau. Bởi số lượng lao
động được chọn đi xuất khẩu lao động sang các nước là có hạn mà dân số
đông, nguồn lao động dư thừa lớn nên họ cạnh tranh nhau trên con đường đi
đến việc có được một xuất đi lao động ở nước ngoài.
Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa những người lao động mà còn
giữa các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Họ phải cạnh tranh nhau khi cùng
xuất khẩu vào một thị trường, khi cùng hoạt động trên một địa bàn…
13


Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra trên lãnh thổ của một quốc gia mà còn
vượt ra trên toàn thế giới khi mà có rất nhiều quốc gia cùng cố gắng thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu lao động đó là những quốc gia còn đang gặp khó khăn và
cùng sử dụng biện pháp xuất khẩu lao động làm bàn đạp cho sự phát triển của
nền kinh tế. Ta có thể đơn cử ngay trong khu vực Đông Nam Á, không chỉ có
Việt Nam mà còn nhiều nước cũng hoạt động xuât khẩu lao động như
Inđônêxia, Philippin,…
- XKLĐ là hoạt động có tính rộng rãi trên toàn thế giới
Nghe nói đến xuất khẩu lao động có thể người ta chỉ nghĩ rằng việc làm
đó chỉ dành cho các quốc gia đang và kém phát triển, nơi mà nguồn lao động
dồi dào dẫn đến dư thừa, còn các quốc gia phát triển sẽ chỉ là nước tiếp nhận
lao động. Song thực tế không phải như vậy, hoạt động xuất khẩu lao động lại
diễn ra trên hầu hết các nước kể cả các nước phát triển. Đối với các nước có
nền kinh tế phát triển họ xuất khẩu lao động của mình sang các nước phát
triển khác để làm việc hoặc tới các quốc gia đang và kém phát triển thông qua
các chương trình, dự án đầu tư. Đặc điểm nổi bật của hoạt động xuất khẩu lao
động ở các nước phát triển là lao động xuất khẩu của họ là lao động chất xám
có chất lượng cao, trình độ và tay nghề cao còn các nước đang và kém phát

động cũng không muốn đưa người lao động của mình tới đó.
Vấn đề lương và các chính sách hỗ trợ về ASXH liên quan đến người
lao động: tiền lương, tiền công trả cho người lao động, vấn đề nhà ở, phí bảo
hiểm, vé máy bay; ngày công nghỉ phép… cũng là những quan tâm rất lớn
người lao động sẽ chọn lựa sẽ đi nước nào để làm việc.
Điều kiện giao thông, vận tải có cách xa nhiều so với “quê hương”, hay
điểu kiện khí hậu, thời tiết, môi trường sống có tương đồng hay chênh lệch
nhiều so với quốc gia người lao động sinh sống. Khi có những điều kiện trên
được áp ứng sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu giữa các quốc gia diễn
ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn.

15


Ngoài ra, trong nhân tố khách quan còn có yếu tố cạnh tranh của các
nước khác trên thế giới. Điều này đã tạo nên cả hiệu quả tích cực và tiêu cực.
Tích cực ở chỗ sự cạnh tranh giữa các nước tạo điều kiện để các nước không
ngừng tự nâng cao chất lượng hàng hóa là sức lao động để tăng tính cạnh
tranh trên thị trường, tạo ra sự phát triển mới cho hoạt động xuất khẩu lao
động, chất lượng lao động của các quốc gia theo đó sẽ không ngừng được
nâng cao. Tiêu cực là nó có thể dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành
mạnh giữa các quốc gia. Quốc gia nào có nền tảng cao hơn sẽ ngày càng xuất
khẩu được nhiều lao động, trong khi các quốc gia có trình độ thấp hơn sẽ gặp
khó khăn trong việc tiếp cận thị trường. Mức độ cạnh tranh cao sẽ dẫn đến sự
đào thải nhau giữa các quốc gia xuất khẩu lao động.
* Quan hệ cung - cầu về lao động trên thị trường thế giới và khu vực
Các nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhưng tốc
độ tăng dân số thấp, dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực, có nhu cầu về nhập
khẩu lao động, trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển cần
đầu tư mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bổ

khỏi tình trạng kinh tế khó khăn nên có chí tiến thủ cao,luôn nhiệt tình cần cù
trong lao động.
Ngoài hai nhóm nhân tố chính như trên, yếu tố pháp luật cũng là nhân
tố ảnh hưởng quan trọng. Xuất khẩu lao động chịu tác động mạnh mẽ của môi
trường chính trị và pháp luật của nước xuất, nhập khẩu lao động và luật pháp
quốc té. Đối tượng tham gia XKLĐ là người lao động và các tổ chức kinh
doanh hoạt động này. Xuất khẩu lao động không còn là việc làm của một cá
nhân, mà liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức cung ứng lao động, đến
các nước xuất lao động, nước nhập lao động, IOM và ILO… Vì vậy, quản lý
XKLĐ ngoài việc phải tuân thủ những quy định, những chính sách, những
hình thức, quy luật của quản lý kinh tế, còn phải tuân thủ những quy định về
quản lý nhân sự của cả nước xuất cư và nhập cư. Hệ thống pháp luật và chính
sách hỗ trợ cho XKLĐ liên tục đòi hỏi bổ sung và hoàn thiện.
17


2.1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động
Có rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả của hoạt động
XKLĐ. Trong đó có 2 chỉ tiêu chính là hiệu quả về kinh tế và hiệu quả xã hội
* Hiệu quả kinh tế: là những lợi ích vật chất mà các chủ thể của nước
XKLĐ (Nhà nước, Doanh nghiệp XKLĐ, người lao động) nhận được thông
qua hoạt động XKLĐ. Cụ thể như sau: với người lao động đó là thu nhập
sau thuế và các hàng hóa có giá trị có thể gửi về nước; với doanh nghiệp
xuất khẩu lao động đó là lợi nhuận thu được từ hoạt động XKLĐ; với Nhà
nước là nguồn thu ngoại tệ.
* Hiệu quả xã hội: Là tất cả những lợi ích phi vật chất có thể có được
trực tiếp qua hoạt động XKLĐ hoặc phát sinh từ hiệu quả kinh tế của hoạt
động XKLĐ nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định, phồn vinh, hạnh phúc thông
qua các biều hiện: khả năng đảm bảo cuộc sống cho người lao động; khả năng
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; mối quan hệ giao lưu hợp tác

thể thấy một số nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các quốc gia, giữa
các vùng tạo ra luồng lao động di cư. Lịch sử phát triển kinh tế các quốc gia
trên thế giới cho thấy việc di cư có thể do chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai
nhưng luồng di cư do nguyên nhân kinh tế chiếm nhiều nhất. Do quy luật
phát triển không đều giữa các quốc gia, khu vực nên dân cư ở nước này,
khu vực này có mức sống cao hơn quốc gia, khu vực kia. Từ đó dẫn đến
việc dân cư ở khu vực có mức sống thấp có xu hướng thích di cư sang
những nơi có mức sống cao hơn. Về phía các nước nhập cư, sự tăng trưởng
kinh tế ở các quốc gia, các khu vực trên thế giới thường kéo theo sự phát
triển và mở rộng sản xuất dịch vụ. Khi đó, nguồn lao động trong nước
không đáp ứng được nhu cầu về số lượng chủng loại, gây tình trạng thiếu
hụt lao động. Để đảm bảo sự phát triển các nước này phải tính đến việc
nhập khẩu các lao động nước ngoài.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status