BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
----------
HUỲNH THỊ HỒNG QUI
PHÁT TRIỂN TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA
TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
----------
HUỲNH THỊ HỒNG QUI
PHÁT TRIỂN TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA
TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số: 60.14. 01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN THỊ NHƢ MAI
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3
4. Phạm vi nghiên cứu
3
5. Giả thuyết khoa học
4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Đóng góp của luận văn
1.5. Mục tiêu, nội dung tổ chức hoạt động làm quen với phương tiện giao thông
cho trẻ 5 – 6 tuổi
16
1.6. Biện pháp phát huy TTCNT của trẻ mẫu giáo trong hoạt động làm quen với
phương tiện giao thông
17
Chương II. Thực trạng phát triển TTCNT trong hoạt động làm quen với phương
tiện giao thông của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
21
2.1. Tổ chức khảo sát thực trạng
21
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng phát triển TTCNT của trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi
trong hoạt động làm quen với phương tiện giao thông tại một số trường mẫu giáo
ở thành phố Long Xuyên
26
Chương 3. Biện pháp phát triển TTCNT của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm
quen với phương tiện giao thông ở trường mầm non
42
MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ĐC: Đối chứng
MG: Mẫu giáo
SL: Số lượng
TB: Trung bình
TC: Tiêu chí
TN: Thực nghiệm
TTC: Tính tích cực
TTCNT: Tính tích cực nhận thức
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng
Bảng 1: Thang đo TTCNT của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen
với phương tiện giao thông
24
Bảng 2: Vài nét về đối tượng khảo sát
26
Bảng 3: Thực trạng sử dụng các biện pháp phát triển TTCNT cho trẻ
28
Bảng 4: Mức độ TTCNT của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen với phương
tiện giao thông qua đánh giá của giáo viên
Bảng 11: So sánh mức độ TTCNT giữa lớp ĐC và lớp TN
54
Bảng 12: So sánh mức độ TTCNT của trẻ lớp ĐC và TN sau TN trên từng tiêu
chí
56
Bảng 13: So sánh TTCNT của trẻ 5 – 6 tuổi giữa lớp ĐC và TN trước và sau khi
TN
58
Bảng 14: So sánh mức độ TTCNT giữa lớp TN và ĐC trên từng tiêu chí trước và
sau khi TN
59
Bảng 15: Kiểm định T trước và sau TN
62
Biểu đồ
Biểu đồ 1: Thực trạng mức độ TTCNT của trẻ 5 -6 tuổi trong hoạt động làm
quen với phương tiện giao thông
36
qua việc tạo điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động để trẻ tích cực tìm tòi
phát hiện về các hiện tượng sự vật xung quanh. Hoạt động cho trẻ tiếp xúc tìm
tòi, khám phá môi trường xung quanh giúp trẻ không chỉ giúp phát triển kỹ năng
nhận thức, kỹ năng xã hội mà còn giáo dục thái độ ứng xử và thái độ khoa học,
trẻ biết cách học, cách nghĩ, cách hành động khám phá môi trường xung quanh.
Tuy vậy, thực tiễn hiện nay cho thấy các tiết học “ Khám phá khoa học môi
trường xung quanh ” cho trẻ 5-6 tuổi còn nhiều hạn chế; các tiết dạy phần lớn
còn thụ động, dập khuôn theo gợi ý hướng dẫn của chương trình nên trẻ bị hạn
chế trong quan sát, thiếu hứng thú, tích cực nhận thức và sáng tạo cần thiết. Do
đó, việc tìm ra các biện pháp để phát triển TTCNT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh là điều vô cùng cần thiết.
1.3. Đã có nhiều nghiên cứu về phát triển TTCNT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua
thử nghiệm ở một số hoạt động khám phá cụ thể, tuy nhiên, vẫn chưa thật đầy
đủ. Do đó, để có đủ cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp
phát triển TTCNT cho trẻ ở bậc học mầm non thì việc khảo sát, thử nghiệm ở
nhiều bài dạy khác nhau, nhiều hoạt động khám phá khác nhau trong chương
trình là điều nên làm. Nghiên cứu chọn khảo sát và thực nghiệm biện pháp phát
triển TTCNT cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen với phương tiện giao
thông – một hoạt động chưa được nghiên cứu trong các công trình trước đây
nhằm đưa ra đánh giá khảo nghiệm ở một khía cạnh mới trên cơ sở tổng hợp, đúc
kết những thành quả nghiên cứu trước đó để đề xuất giải pháp nâng cao TTCNT
cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non thành phố Long Xuyên.
2
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp phát
quen với phương tiện giao thông nếu xây dựng và sử dụng một cách đồng bộ các
biện pháp nhằm khuyến khích trẻ khám phá, trải nghiệm dựa trên vốn sống, kinh
nghiệm thực tế của trẻ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp phát triển TTCNT cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động làm quen với phương tiện giao thông và mức độ biểu hiện
TTCNT của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen với phương tiện giao thông
ở trường mầm non.
- Thử nghiệm một số biện pháp phát triển TTCNT cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt
động làm quen với phương tiện giao thông ở trường mầm non.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến
TTCNT của trẻ trong hoạt động học tập ở bậc mầm non, TTCNT trong hoạt
động làm quen với phương tiện giao thông.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát:
Dự giờ, quan sát nhằm đánh giá mức độ và biểu hiện TTCNT của trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động làm quen với phương tiện giao thông tại một số trường
4
mầm non ở tỉnh An Giang và các biện pháp được thực hiện nhằm phát triển
TTCNT cho trẻ 5 – 6 tuổi.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu:
Sử dụng phiếu điều tra nhằm tìm hiểu ý kiến đánh giá của 30 giáo viên các
trường mầm non đối với việc phát triển TTCNT của trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi trong
hoạt động khám phá nói chung, trong đó có hoạt động làm quen với phương tiện
NỘI DUNG
CHƢƠNG I . LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍNH TÍCH CỰC NHẬN
THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI
PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
TTCNT là một vấn đề được quan tâm từ rất lâu trên cả phương diện lý
luận lẫn thực tiễn và được tiếp cận trên nhiều ngành khoa học khác nhau. Do đó,
có thể thấy, nghiên cứu TTCNT luôn mở ra nhiều điều thú vị, có giá trị đóng góp
trên nhiều lĩnh vực và luôn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
* Nghiên cứu về TTCNT:
Trên thế giới, TTCNT được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau.
- Ở góc độ triết học, L.Aristova cho rằng TTCNT của con người xuất hiện
trong hoạt động cải tạo, thể hiện thái độ cải tạo của chủ thể nhận thức với đối
tượng nhận thức, Nếu hành động thiếu thái độ cải tạo thì không được coi là TTC
mà ngược lại vẫn bị coi là trì trệ. TTCNT đòi hỏi ở hai yếu tố: Thái độ lựa chọn
đối tượng nhận thức và đặt ra mục đích, nhiệm vụ phải làm, cải tạo đối tượng
trong những hoạt động tiếp theo nhằm giải quyết vấn đề.
- Ở góc độ tâm lý học: TTCNT từ lâu được xem là yếu tố quan trọng trong
việc hình thành nhân cách con người. C. Mac (1818 – 1883) quan niệm “Nhân
cách của trẻ thành và phát triển khi trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động với
môi trường xung quanh, đặc biệt là hoạt động nhận thức” [19]. Nhà tâm lý học
người Nga A.G. Côvaliôp thì cho rằng “TTC của cá nhân nhằm biến đổi hoàn
7
cảnh trong chừng mực nào đó, vì lợi ích của tập thể và của bản thân” là “điều
kiện cơ bản để hình thành năng lực và tính cách” [1].
trẻ mẫu giáo trong hoạt động (A.A. Liublinxkaia, N. P. Xaculina, Z. M.
Bagulapchaina, N. Ia. Mikhailencô, A. L. Xôrôkina), nghiên cứu về vai trò của
TTCNT trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo, về mối
quan hệ giữa TTCNT với tính độc lập trong hoạt động nhận thức của trẻ (A. N.
Dapôrôgiets, G. A. Uruntaeva, K. Đ. Usinxki).
- Nghiên cứu về các biện pháp nhằm phát huy TTCNT của trẻ mẫu giáo
trong các lĩnh vực hoạt động như: nội dung kiến thức đưa ra cho trẻ phải hấp
dẫn, phù hợp với nhu cầu sở thích và vốn kinh nghiệm của trẻ (như Marjory A.
E, Marilyn Fleer (Australia), X. N. Nicolaeva (Nga),…); nhấn mạnh đến việc
tăng cường các câu hỏi mở, tình huống mở, hoạt động mở như một biện pháp
phát huy TTCNT của trẻ (như nhà giáo dục Anh Fontana, Stenhouse, các nhà
giáo dục Úc Marilyn Fleer, Marjory A. E.; nhà giáo dục Mỹ Tim Hardy, nhà
giáo dục Nga L. G. Nhixcanhen,…); sử dụng các biện pháp như tạo tình huống
chơi hấp dẫn, tổ chức hành động thực hành và đặc biệt là biện pháp so sánh (như
V.A. Verechenhicôva, P. G. Xamôrucôva);… [7]
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng và biện pháp phát huy tính
TTCNT cho trẻ em ở bậc học mầm non khá nhiều; tuy nhiên, đa số chỉ mới dừng
lại ở sáng kiến kinh nghiệm giáo dục nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy tại
chỗ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng phát huy tính chủ động của
người học. Một số ít các công trình nghiên cứu đã quan tâm đến việc ứng dụng
các lý thuyết về phát huy TTCNT đã được nghiên cứu trên thế giới để đánh giá
9
thực trạng và đề xuất các biện pháp phát huy TTCNT cho trẻ mẫu giáo, có đóng
góp cả về lý luận lẫn thực tiễn như:
- Tiếp cận qua hoạt động vui chơi của trẻ, có thể kể đến các tác giả:
Nguyễn Thị Hòa [11] đã tìm ra những biện pháp hữu ích để phát huy TTCNT
TTCNT và sự sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo;…
Hầu hết các nghiên cứu nói trên đều cho thấy TTCNT của trẻ mẫu giáo
hiện nay chưa cao do nhiều nguyên nhân. Do đó, việc nghiên cứu tìm ra các biện
pháp để phát triển TTCNT cho trẻ mẫu giáo thông qua các hoạt động khám phá
trên lớp là vô cùng cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và thời sự. Việc nghiên cứu
phát triển TTCNT của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động tìm hiểu
phương tiện giao thông không chỉ tiếp cận vấn đề ở khía cạnh mới mà còn đánh
giá vấn đề trên một địa bàn trước đây chưa được nghiên cứu vấn đề này. Vì vậy,
kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn có giá trị thực
tiễn sâu sắc.
1.2. Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm
quen với phƣơng tiện giao thông ở trƣờng mầm non
1.2.1. Khái niệm về TTCNT của trẻ mẫu giáo trong hoạt động làm quen với
phương tiện giao thông
Theo từ điển tiếng Việt, TTC gồm 3 nghĩa: (1) Một là, có ý nghĩa, có tác
dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực; (2) Hai là, tính chủ
động, có những hoạt động nhằm tạo ra những biến đổi theo phương hướng phát
triển; (3) Ba là, hăng hái nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc.
11
Khi nghiên cứu về TTCNT, các tác giả đã đứng ở các góc độ khác nhau để
xem xét và nêu lên quan điểm của mình. Tựu chung, có các quan điểm chính như
sau:
- Dưới góc độ triết học, theo lý thuyết phản ánh của Lê – Nin, TTCNT thể
hiện thái độ sáng tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức.
- Dưới góc độ tâm lý học Mácxít, TTCNT được đề cập đến ở hai khía
cạnh: - TTCNT như là một hoạt động tích cực. Trong hoạt động này gồm các
thành phần: Động cơ, nhu cầu hứng thú thu hút chủ thể nhận thức vào quá trình
và đã nêu bật những đặc trưng của TTCNT: (1) Lựa chọn thái độ đối với đối
tượng nhận thức, (2) Đề ra mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi lựa chọn
đối tượng, (3) Cải tạo đối tượng trong hoạt động để giải quyết vấn đề [2]. Ở đây,
yếu tố nổi rõ nhất trong TTCNT là phải nảy sinh trong ý thức của chủ thể hành
động chứ không chỉ đơn giản là hành động cải tạo đối tượng.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, để giúp giáo viên có thể phát hiện được học
sinh có TTCNT hay không, cần dựa vào những dấu hiệu sau: (1) Chú ý trong quá
trình học tập; (2) Hăng hái tham gia vào mọi hình thức học tập; (3) Hoàn thành
được những nhiệm vụ được giao; (4) Ghi nhớ tốt những điều đã học; (5) Hiểu
kiến thức đã học; (6) Trình bày lại được nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng;
(7) Đọc thêm, làm thêm các bài tập khác; (8) Tốc độ học tập có nhanh; (9) Có
hứng thú trong học tập; (10) Có quyết tâm, ý chí vượt qua khó khăn trong học
tập; (11) Có sáng tạo trong học tập [18].
Tác giả cũng cho thấy mức độ TTCNT của học sinh có thể không giống
nhau dựa vào một số dấu hiệu nhận biết: (1) Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi
những tác động bên ngoài (gia đình, bạn bè, xã hội); (2) Thực hiện yêu cầu của
13
thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?; (3) Tích cực nhất thời hay thường
xuyên liên tục?; (4) Tích cực tăng lên hay giảm dần?; (5) Có kiên trì vượt khó
hay không?
Tác giả Đặng Hữu Giang [8] thì lại xem xét các tiêu chí để đánh giá
TTCNT dựa trên: (1) Sự tập trung ý chí; (2) Tự giác hay bị bắt buộc; (3) Hăng
hái tham gia vào hoạt động nhận thức; (4) Sự nỗ lực vượt khó; (5) Mức độ trong
quan hệ hợp tác nhằm giúp cho nhận thức sâu hơn; (6) Kết quả của hoạt động
nhận thức.
Vụ giáo dục mầm non [20] cũng đưa ra những biểu hiện của TTCNT của
trẻ trong hoạt động chung có mục đích học tập: (1) Về thái độ: trẻ hứng thú tham
chủ đông, tích cực tham gia các hoạt động nhận thức.
- Trẻ sáng tạo, biết giải quyết nhiệm vụ theo cách riêng của mình.
Đây là những biểu hiện cơ bản làm cơ sở để chúng tôi xác định những tiêu
chí đánh giá TTCNT của trẻ trong hoạt động tìm hiểu các phương tiện giao
thông.
1.3. Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Trẻ MG 5 – 6 tuổi thường có đặc điểm nhận thức như sau: 1) Có nhiều
thông tin về một số sự vật, hiện tượng nào đó nhưng chưa có hiểu biết đầy đủ về
sự vật, hiện tượng đó, 2) Có thể tự tạo ra các thí nghiệm để xen việc gì sẽ xảy ra
và nghĩ ra lời giải thích cho những gì trẻ quan sát được, 3) Có thể làm một số thí
nghiệm do cô hướng dẫn và có thể giải thích theo nhiều cách khác nhau, 4)
Thường dành nhiều thời gian và chú ý hơn vào các hoạt động mà trẻ thích, thích
chơi theo nhóm và trao đổi trong nhóm nhỏ, 5) Có thể nắm bắt các khái niệm
trừu tượng nhưng vẫn cần sự việc thực để giải thích các khái niệm, 6) Thích vẽ
15
và viết để ghi lại các sự việc. Do đó, việc sử dụng các biện pháp phát huy
TTCNT cho trẻ thông qua hoạt động làm quen với các phương tiện giao thông sẽ
giúp trẻ được tích cực sử dụng các giác quan, được tiến hành các thao tác phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa,… và biểu đạt những suy nghĩ của mình
bằng ngôn ngữ. Nhờ đó mà các giác quan của trẻ ngày càng tinh tưởng hơn, các
quá trình tâm lý nhận thức (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng,..) cùng với
ngôn ngữ của trẻ ngày càng phát triển. Trẻ cũng cơ bản giải thích được hoạt
động của các phương tiện giao thông, hình thành các nhóm khái niệm trừu
tượng,… qua đó nâng cao năng lực nhận thức tốt hơn cho trẻ.
1.4. Mục tiêu phát triển nhận thức cho trẻ ở bậc học mầm non
Mục tiêu phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục mầm non là giúp trẻ:
- Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh.
* Về kỹ năng:
- Phân biệt một số hành vi đúng hoặc sai và thực hiện một số quy định
đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông.
- Thực hiện được một số quy định khi tham gia giao thông đường bộ,
đường thủy, đường hàng không.
* Về thái độ:
- Bước đầu có ý thức thực hiện một số quy định đảm bảo an toàn khi tham
gia giao thông.
- Hào hứng tham gia các hoạt động về giáo dục an toàn giao thông ở
trường, ở nhà.
- Đồng tình với những hành vi đúng và không đồng tình với những hành vi
sai về an toàn giao thông.
17