BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
~~~~~
NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
SỬ DỤNG VẬT LIỆU THIÊN NHIÊN PHÁT TRIỂN TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG
XẾP DÁN TRANH
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn: PGS. TS.Lê Thanh Thủy
Đắl lắk, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa giáo dục Mầm non đã truyền
thụ cho tôi kiến thức trong suốt thời gian qua.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Lê Thanh Thủy là người trực
tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các cô giáo cùng toàn thể các cháu mẫu giáo Trường
thực hành sư phạm mầm non hoa hồng đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến
hành nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song còn hạn chế nhiều về năng lực, điều kiện
nghiên cứu nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được các ý kiến
đống góp của quý thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 15 tháng 5 năm 1017
Tác giả
1. Lý do lựa chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Giả thuyết khoa học
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
6. Phạm vi nghiên cứu
3
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Cấu trúc luận văn
Những yếu tố hình thành trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ em
19
1.4.
Một số vấn đề về hoạt động xếp dán tranh của trẻ mầm non
24
1.4.1. Đặc điểm khả năng xếp dán tranh của trẻ mầm non
24
1.4.2. Hình thức tổ chức hoạt động xếp dán tranh
27
1.5.
Hoạt động xếp dán tranh và sự phát triển tưởng tượng sáng tạo của trẻ
em
29
1.5.1. Sự hình thành và phát triển trí tưởng tượng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi trong hoạt động xếp dán tranh
29
38
2.2. Đối tượng khảo sát
38
2.3. Địa bàn điều tra, thời gian điều tra
38
2.4. Nội dung nghiên cứu
39
2.5. Phương pháp nghiên cứu thực trạng
39
2.5.1. Phương pháp điều tra
39
2.5.2. Phương pháp quan sát tự nhiên
40
2.5.3. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
41
53
2.7.3. Kết quả phân tích sản phẩm hoạt động
58
Nhận xét chương 2
59
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP SỬ
DỤNG VẬT LIỆU THIÊN NHIÊN PHÁT TRIỂN TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XẾP DÁN
TRANH
60
3.1. Một số yêu cầu lựa chọn vật liệu thiên nhiên cho hoạt động xếp dán tranh
60
3.1.1. Yêu cầu của việc sử dụng vật liệu thiên nhiên trong hoạt động xếp dán
tranh
60
3.1.2. Các loại vật liệu thiên nhiên được lựa chọn cho hoạt động xếp dán tranh
nhằm phát triển trí tưởng tượng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi.
62
3.3.2. Chọn mẫu và xây dựng chương trình thực nghiệm
79
3.3.3. Cách tiến hành thực nghiệm
80
3.3.4. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm
81
3.3.5. Cách tiến hành thực nghiệm
81
3.4. Kết quả thực nghiệm
93
3.4.1. Kết quả thực nghiệm khảo sát
93
3.4.2. Kết quả thực nghiệm tác động
101
3.4.3. Kết quả thực nghiệm kiểm chứng
Bảng 2.4: Tầm quan trọng phát triển trí tưởng tượng của trẻ MG 5-6 tuổi trong HĐTH.
Bảng 2.5: Hình thức giáo viên tổ chức cho trẻ tham gia hoạt động XDT
Bảng 2.6. Các biện pháp giáo viên sử dụng để phát triển trí tưởng tượng sáng tạo cho
trẻ.
Bảng 2.7. Biện pháp sử dụng vật liệu thiên nhiên kích thích trí tưởng tượng sáng tạo
của trẻ
Bảng 2.8. Ý kiến của giáo viên về những khó khăn thường gặp khi tổ chức cho trẻ hoạt
động xếp dán tranh.
Bảng 2.9. Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng củaviệc sử dụng vật liệu thiên
nhiên nhằm phát triển trí tưởng tượng sáng tạo cho trẻ .
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá khả năng tưởng tượng trong tranh xếp dán của trẻ
Bảng 3.1. Chương trình thực nghiệm ở nhóm trẻ thực nghiệm
Bảng 3.2. Thống kê mức độ tưởng tượng của cả hai nhóm ĐC và TN trong bài “Xếp
dán Hoa hồng” tính theo tiêu chí
Bảng 3.3: Thống kê mức độ tưởng tượng của cả hai nhóm ĐC và TN trong bài “Xếp
dán Hoa hồng” tính theo mức độ
Bảng 3.4 : Thống kê mức độ tưởng tượng của cả hai nhóm ĐC và TN trong bài “Xếp
dán vườn cây ăn quả” tính theo tiêu chí
Bảng 3.5: Thống kê mức độ tưởng tượng của cả hai nhóm ĐC và TN trong bài “Xếp
dán vườn cây ăn quả” tính theo mức độ
Bảng 3.6 : Thống kê mức độ tưởng tượng của cả hai nhóm ĐC và TN trong bài “Xếp
dán Hoa mùa xuân” (Theo đề tài tự chọn) tính theo tiêu chí
Bảng 3.7: Thống kê mức độ tưởng tượng của cả hai nhóm ĐC và TN trong bài “Xếp
dán Hoa mùa xuân” (Theo đề tài tự chọn) tính theo mức độ
Bảng 3.8. So sánh mức độ tưởng tượng của hai nhóm ĐC và TN trước thực nghiệm
(theo tiêu chí)
Bảng 3.9. Thống kê mức độ tưởng tượng của cả hai nhóm ĐC và TN trong bài “Xếp
dán đàn cá” tính theo tiêu chí
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1.1: So sánh mức độ phát triển tưởng tượng của 2 nhóm trẻ qua bài “Xếp dán
Hoa hồng”
Biểu đồ 3.1.2: So sánh mức độ phát triển tưởng tượng của 2 nhóm trẻ qua bài “Xếp dán
vườn cây ăn quả”
Biểu đồ 3.1.3: So sánh mức độ phát triển tưởng tượng của 2 nhóm trẻ qua bài “Xếp dán
Hoa mùa xuân” (Theo đề tài tự chọn)
Biểu đồ 3.1.4 . So sánh sự tưởng tượng của trẻ qua ba bài tập (Tính theo tiêu chí)
Biểu đồ 3.1.5. Phát triển trí tưởng tượng của trẻ ở nhóm TN qua ba bài tập quá trình
hình thành
Biểu đồ 3.1.6. So sáng sự tưởng tượng của trẻ ở hai nhóm qua bài “Tạo hình các con
vật bằng vật liệu thiên nhiên” theo mức độ
Biểu đồ 3.1.7. sự phát triển tưởng tượng của hai nhóm qua bài tập “Xếp dán côn trùng
bằng vật liệu thiên nhiên” theo mức độ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một thời đại của khoa học kỹ thuật phát triển mức độ cao,
đòi hỏi phải có những con người phát triển toàn diện, được trang bị đầy đủ kiến thức kỹ
năng, năng động sáng tạo, có khả năng làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân. Nghành
giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt
Giáo dục nghệ thuật là một trong những nhiệm vụ đi đầu để phát triển những con
người mới là phương tiện để giáo dục thẫm mỹ. Giáo dục thẫm mỹ có nhiệm vụ hình
thành và phát triển khả năng cảm thụ thẫm mỹ, thị hiếu thẫm mỹ và lý tưởng thẫm mỹ,
khả năng sáng tạo ra cái đẹp góp phần hình thành con người mới.
Bậc học mầm non chính là bậc học xác định và hình thành nhân cách vì vậy trong
luật giáo dục ở điều 19 có nêu: “ Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển
có thể tượng tượng sáng tạo tự do làm theo cách nghĩ của trẻ mà vận làm cho trẻ thoải
mái không gây áp lực chúng tôi đã tìm hiểu và muốn cho trẻ trẻ trực tiếp trải nghiệm
trực tiếp cho trẻ tham gia hoạt động bằng những vật liệu thiên nhiên, vật liệu dễ kiếm
tìm thì rất hiếm và để kích thích trí tưởng tượng sáng tạo cho trẻ khi thực hiện cùng
cô làm những đồ dùng đồ chơi mà trẻ thích xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết
định chọn đề tài: “Sử dụng vật liệu thiên nhiên nhằm phát triển trí tưởng tượng
sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động xếp dán tranh” với đề tài này chúng tôi hy
vọng được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc tìm ra một số hình thức phù
hợp để sử dụng những vật liệu thiên nhiên nhằm phát triển khả tưởng tượng sáng tạo
cho trẻ trong trường mầm non trong xu hướng đổi mới hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp sử dụng vật liệu thiên nhiên để phát triển trí tưởng
tượng sáng tạo cho trẻ qua hoạt động xếp dán tranh, từ đó góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo trong hoạt động
tạo hình
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp sử dụng vật liệu thiên nhiên nhằm phát triển trí tưởng tượng
sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động xếp dán tranh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên áp dụng các biện pháp sử dụng vật liệu thiên như: Tăng cường cho
trẻ quan sát thiên nhiên, dùng trò chơi tạo hình giàu vốn biểu tượng về thế giới xung
quanh để tạo cảm xúc trẻ, hình thành ở trẻ lòng say mê – sự ham thích đối với việc
khám phá; vận dụng những kinh nghiệm, vốn biểu tượng tạo hình đã có để tạo nên cái
mới thì sẽ nâng cao hiệu quả phát triển trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ.
liên quan đến đề tài.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát những giờ hoạt động tạo hình xếp dán tranh hay các buổi trẻ tự do
khám phá ở trường thực hành sư phạm mầm non thực hành.
7.2.3. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
Sản phẩm hoạt động sư phạm: Giáo án, kế hoạch, sản phẩm mẫu của giáo viên;
Tìm hiểu sản phẩm tạo hình của trẻ ( tranh xếp dán bằng vật liệu thiên nhiên...)
4
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp này để kiệm nghiệm hiệu quả giáo dục những biện pháp
đã đề ra trong đề tài. Thực nghiệm gồm 3 bước:
Bước 1: Thực nghiệm khảo sát
Bước 2: Thực nghiệm hình thành
Bước 3: Thực nghiệm kiểm chứng
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê
Sử dụng toán thống kê nhằm mục đích xử lý số liệu cho khách quan.
8. Cấu trúc của luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng vật liệu thiên nhiên phát triển tưởng
tượng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động xếp dán tranh
Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm các biện pháp sử dụng vật liệu thiên
nhiên phát triển tưởng tượng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động xếp dán
tranh
KẾT LUẬN CHUNG
Kết luận chung, kiến nghị sư phạm
Tài liệu tham khảo
cực, sáng tạo ở trên mức bình thường mang tính đại trà. Mọi sự phát triển, trong đó
phát triển khả năng sáng tạo của trẻ em phải được thực hiện thông qua chính các hoạt
động. Sự sáng tạo đó không thể tự mình tách ra mà cần có sự tương tác, phối hợp và
cùng nhau chia sẻ. ông cũng đưa ra quan niệm: “Chúng ta gọi hoạt động sáng tạo là bất
6
cứ hoạt động nào của con người ta tạo ra được một cái gì mới, kể rằng cái được tạo ra
ấy là một vật của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm
chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người”. [22; tr25-27]
Nhà Tâm lý học E.P.Torrance đã soạn thảo ra một số Test về tưởng tượng và
tưởng tượng sáng tạo rất có giá trị và được sử dụng đến ngày nay. Test tưởng tượng và
tưởng tượng sáng tạo của Torrance được dùng cho nhiều độ tuổi khác nhau từ trẻ mầm
non đến người trưởng thành. Đánh giá dựa trên 4 tiêu chí: tính linh hoạt, tính nhanh
nhạy, tính độc đáo, tính tỉ mỉ. Các nhà tâm lý học hành vi đánh giá cao vai trò của ảnh
hưởng bên ngoài đối với sự phát triển của trẻ, song vẫn còn những hạn chế khi xem kết
quả của hoạt động tưởng tượng sáng tạo là phản ứng thụ động của trẻ với những kích
thích từ bên ngoài môi trường. Các nhà tâm lý học cấu trúc có những đánh giá đúng
đắn về vai trò của tri giác, tuy nhiên còn hạn chế khi lý giải hoạt động tưởng tượng
sáng tạo bằng quy luật “bừng sáng” của cấu trúc tiền định trong não. Tính tích cực hoạt
động của con người bị đưa vào hàng thứ yếu trong khi tính sinh vật lại được đưa lên
giữ vai trò quyết định. Những nghiên cứu của N.P.Xaculina đã chỉ ra vai trò của quan
sát trong tạo hình và tìm ra phương pháp hướng dẫn quan sát trong mối liên hệ với hoạt
động tạo hình. Theo tác giả này, việc làm giàu kinh nghiệm cho trẻ là nguồn gốc quan
trọng đối với sự phát triển tưởng tượng của trẻ.
Cùng với các nước trên thế giới Việt nam cũng là nước luôn quan tâm và nghiên
cứu về phát triển trí tưởng tượng sáng tạo như:
Phan Việt Hoa chuyên viên nghiên cứu hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
cũng nhận định: “Trong trường mẫu giáo hoạt động tạo hình là hoạt động nghệ thuật….
nhằm giúp trẻ cảm nhận vẻ đẹp xung quanh, có một số kỹ năng tạo sản phẩm từ đó
Một quan điểm khác về tưởng tượng “Tưởng tượng là sự hoạt động của nhận
thức mà trong quá trình nhận thức ấy con người tạo ra những biểu tượng, tình huống
trong ý nghĩ, tư tưởng, đồng thời dựa vào những biểu tượng còn giữ lại trong ký ức từ
kinh nghiệm cảm giác trước kia và có đổi mới, biến đổi các thứ ấy”. Với quan điểm
8
này, tưởng tượng là kết quả của quá trình cảm giác, quá trình tri giác trước đây nhưng
có sự cải biến.
Nhìn từ bản chất xã hội, M.Gorki cũng khái quát: “Trong cuộc đấu tranh đểsống,
bản năng sinh tồn phát triển trong con người hai sức sáng tạo mãnh liệt: nhận thức và
tưởng tượng. Nhận thức là khả năng quan sát, so sánh, nghiên cứu những hiện tượng
thiên nhiên và những sự kiện trong sinh hoạt xã hội, nói gọn hơn: nhận thhức là tư
duy. Xét về bản chất, tưởng tượng cũng là tư duy về vũ trụ, nhưng phần lớn tư duy
bằng hình tượng, đó là một “tư duy nghệ thuật”. M.Gorki đã nhìn nhận tưởng tượng là
nơi ký thác tâm sự, ước mơ cuộc đời phong phú và đẹp đẽ hơn. [10; tr13]
Theo Từ điển Giáo dục học của tác giả Đậu Mạnh Trường, nhà xuất bản Từ điển
Bách khoa: “Tưởng tượng là quá trình tâm lý phức tạp thể hiện ở sự tạo ra
những ý nghĩ và hình ảnh không có trước mặt hoặc chưa hề có trên cơ sở các kinh
nghiệm từng trải”. Tưởng tượng vẫn phản ánh hiện thực khách quan mặc dù cái đó có
vẻ như đã thoát khỏi những gì cho ta trực tiếp cảm nhận để phóng tầm suy nghĩ vào
tương lai thành những ý đồ tạo ra những tình huống sinh hoạt mới, những phát minh
khoa học, những sáng chế kĩ thuật hoặc những hình tượng nghệ thuật mới. Quá
trình tưởng tượng thể hiện bằng việc phân tách các hình ảnh, các quan hệ của sự vật
có trước, rồi lại tiến hành chắp nối, lắp ghép chúng lại thành một kiểu khác để thành
một liên tưởng mới.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: “Tưởng tượng là một quá trình tâm lý
phản ánh những cái mới những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng
cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có”. Đây là định
nghĩa được nhiều nhà Tâm lý học ở Việt Nam thừa nhận, chúng tôi đồng ý với quan
tượng không chủ định và loại tưởng tượng có chủ định.[31; tr76]
- Tưởng tượng không chủ định: Là loại tưởng tượng mà những hình ảnh xuất
hiện trong óc ta không tuân theo một mục đích đặt ra từ trước, kế hoạch định trước, cá
nhân không có bất kỳ một sự chuẩn bị cụ thể nào. Sự tưởng tượng xẩy ra ngay khi tri
10
giác sự vật, hiện tượng đóng vai trò kích thích trí tưởng tượng cá nhân.
Loại này có hai mức độ:
+ Tưởng tượng không có sự tham gia của ý thức (khi mơ)
+ Tưởng tượng có sự tham gia ít nhiều của ý thức ở giai đoạn đầu, sau đó mờ đi
(Ngắm mây, ngắm cảnh sau đó tưởng tượng ra các loại hình thù).
Tưởng tượng có chủ định cũng có hai mức:
+ Tưởng tượng tái tạo: Là quá trình tạo phản ánh trong óc những hình
ảnh, hiện tượng mới đối với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên cơ sở sự mô tả
của người khác, của tài liệu, sách vở, với bản kinh nghiệm đã có của xã hội loài
người, của người khác về các mặt như văn, sử, nghệ thuật, chiến đấu...
+ Tưởng tượng sáng tạo: Đây là mức tưởng tượng cao hơn, phức tạp hơn, xây
dựng những biểu tượng mới chưa có trong hiện thực. Nó là quá trình xây dựng hình
ảnh mới một cách độc lập. Những hình ảnh này là mới đối với cả cá nhân và xã hội
được hiện thực hóa trong các sản phẩm vật chất độc đáo và có giá trị. Đồng thời,
chúng được (hoặc có khả năng) hiện thực hóa trong các sản phẩm vật chất độc đáo và
có giá trị, mang dấu ấn riêng của từng cá nhân. [22; tr46]
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức được bắt đầu và thực hiện chủ yếu bằng
hình ảnh, nhưng vẫn mang tính gián tiếp và khái quát cao so với trí nhớ. Biểu tượng
của tưởng tượng là một hình ảnh mới được xây dựng từ những biểu tượng của trí
nhớ, nó là biểu tượng của biểu tượng.
Tưởng tượng liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính, nó sử dụng những biểu
tượng của trí nhớ do nhận thức cảm tính thu lượm, cung cấp. Tưởng tượng là một quá
trình tâm lý có nguồn gốc từ xã hội, được hình thành, phát triển trong lao động, do đó
1.2.2. Khái niệm sáng tạo
Sáng tạo là một phần không thể thiếu trong cấu trúc tâm lý, nó được coi là một
dạng hoạt động đặc biệt, là biểu hiện cao nhất trong đời sống tâm hồn con người. Sức
12
sáng tạo và trình độ sáng tạo của con người quy định trình độ phát triển của sức sản
xuất xã hội.
Hiện tượng sáng tạo được thể hiện trong mọi lĩnh vực như: trong khoa học, trong
lao động sản xuất, học tập. Ở lứa tuổi nhỏ nhất vai trò của sáng tạo được gọi là nền
tảng cho sự phát triển biểu hiện của tính sáng tạo đã xuất hiện trong nhiều hoạt động
của trẻ như: vui chơi, tạo hình, âm nhạc…
Vậy sáng tạo là gì? Làm thế nào để phát triển sự sáng tạo từ những bậc học nhỏ
nhất để coi đó là nền tảng của sự phát triển từng cá nhân sau này?
Theo quan điểm thông thường thì sáng tạo là lĩnh vực của một số ít người,
những thiên tài, những tài năng đã sáng tác ra những tác phẩm vĩ đại, phát minh ra
những cái mới hoặc cách làm mới. Theo Freud “Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện
hình, là sự tiếp tục và thay thế trò chơi trẻ con cũ”. Với Freud trò chơi và tưởng tượng
là hai hình thức biểu hiện của vô thức, nền tảng của sáng tạo là nguyện vọng không
được thỏa mãn. Quan điểm trên hoàn toàn sai lầm bởi bởi các nhà duy tâm lí giải bản
chất của sáng tạo phụ thuộc vào thế giới tâm linh, vào bản năng của con người mà
không thấy được tính tích cực của con người trong quá trình sống để tạo ra sản phẩm
sáng tạo.[12; tr9]
Theo quan điểm của Đan Mạch thì “sáng tạo là tạo ra hay sản xuất ra”. Họ cho
rằng: “Bạn sáng tạo khi bạn tạo ra cái gì mới, sản sinh ý tưởng mới, chức năng mới cho
ý tưởng cũ”. Đối với L.X.Vưgôtxki hoạt động sáng tạo được coi là hoạt động cao nhất
của con người, và cơ sở vật chất của sáng tạo chính là bộ não “Bộ não không những là
một cơ quan giữ lại và tái hiện kinh nghiệm cũ của chúng ta, nó còn phối hợp một cách
sáng tạo và xây dựng nên những tình thế mới và những hành vi mới bằng những yếu tố
M.Willson – nhà tâm lí học người Mỹ thì định nghĩa: “Sáng tạo là quá trình mà
kết quả là tạo ra những kết hợp mới, cần thiết từ các ý tưởng, dạng năng lượng, các đơn
vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của các yếu tố khác nhau”. Theo tác giả Nguyễn
Huy Tú, trong Đề cương bài giảng Tâm lý học sáng tạo thì: “Sáng tạo thể hiện khi con
14