BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VĂM LÂM
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MỸ HÀO,
TỈNH HƢNG YÊN
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lí công
Mã số: 60 34 04 03
HÀ NỘI - 2016
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG SỸ KIM
Phản biện 1: ...…………..........................................…………………….
………………………………………………………………..
Phản biện 2: .............................................……………………………….
………………………………………………………………..
Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính
Quốc gia
cán bộ (nhất là cán bộ cấp xã) chƣa cao; trong quá trình triển khai còn chú trọng xây dựng hạ tầng, chƣa
quan tâm nhiều đến các mô hình sản xuất mớ; Sự trông chờ ỷ nại của một bộ phận cán bộ cơ sở, dân cƣ là
khá lớn, vẫn tồn tại quan niệm “xin – cho”. Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Việt Nam hiện nay cơ bản vẫn là một nƣớc nông nghiệp; do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế thì vẫn đề đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới cũng trở thành một đề tài đƣợc rất nhiều
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhƣ các tác phẩm: "Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và
thực tiễn" do tác giả Vũ Văn Phúc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012; “Nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - quá khứ và hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000; Công trình nghiên cứu: “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị
quyết X của Bộ Chính trị” do PGS,TSKH Lê Đình Thắng chủ biên do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm
1998... Tuy nhiên xây dựng nông thôn mới và quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới là vấn đề cần
đƣợc nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Thông qua đánh giá những thuận lợi và khó khăn việc quản lý xây dựng nông thôn
mới ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hƣng Yên để đánh giá tính khả thi của Chƣơng trình Mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới 2010-2020 nói chung và khả năng triển khai việc xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ
Hào, tỉnh Hƣng Yên nói riêng.
- Nhiệm vụ:
Trình bày những vấn đề lý luận chung về xây dựng nông thôn mới.
Trình bày, đánh giá việc xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hƣng Yên.
1
Trình bày thành tựu và hạn chế trong quá trình triển khai việc xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ
Hào, tỉnh Hƣng Yên.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chƣơng trình Mục tiêu
quốc gia về xây dựng nông thôn mới 2016 -2020 ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hƣng Yên trong giai đoạn hiện nay.
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1. Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nƣớc
1.1.1.1. Khái niệm về quản lý
“Là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể
của quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt
ra trong điều kiện biến động của môi trường”.
1.1.1.2. Khái niệm về quản lý nhà nước
“Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà
nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã
hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước”.
1.1.2. Khái niệm về nông thôn và nông thôn mới
1.1.2.1. Khái niệm nông thôn
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4//2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ
phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành
phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Đặc điểm của các vùng nông thôn
nƣớc ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp với tuyệt đại đa số dân cƣ sinh
sống bằng một loại hình lao động, bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi nhất là về
phƣơng diện kinh tế - xã hội.
1.1.2.2. Khái niệm về nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của ngƣời dân không
ngừng đƣợc nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân đƣợc đào tạo, tiếp thu các
tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Bên cạnh đó,
nông thôn mới phải có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại,
phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc
nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.2.1. Xây dựng nông thôn mới và vai trò của mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế
- xã hội
1.2.1.1. Về xây dựng nông thôn mới
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
- Quy hoạch, thực hiện quy hoạch và ban hành các văn bản hướng dẫn, triển khai
- Công tác triển khai và tổ chức thực hiện
- Quản lý và sử dụng các nguồn lực
- Công tác quản lý về phát triển kinh tế
- Quản lý việc phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu
- Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
1.3. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI
1.3.1. Các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn
1.3.2. Trình độ quản lý, tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ công chức
1.3.3. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội
4
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA MỘT
SỐ ĐỊA PHƢƠNG TRONG NƢỚC
1.4.1. Kinh nghiệm của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
1.4.2. Kinh nghiệm của huyện Đan Phƣợng, Thành phố Hà Nội
1.4.3. Kinh nghiệm của huyện Phƣớc Long, Tỉnh Bạc Liêu
5
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MỸ HÀO,
TỈNH HƢNG YÊN
+ Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã ở các lĩnh vực còn hạn chế chủ yếu là các hệ
đào tạo từ xa, tại chức nên việc tiếp thu các qui định mới của nhà nƣớc gặp khá nhiều khó khăn.
6
2.1.3. Tình hình nông dân và nông thôn của huyện Mỹ Hào hiện nay
Về nông dân: Đến cuối năm 2015, trên địa bàn huyện có trên 11 vạn ngƣời. Trong đó, số dân cƣ
sinh sống ở khu vực nông thôn khoảng 1,4 vạn ngƣời, chiếm tỷ lệ 12,7%, tuy nhiên số lao động đơn thuần
trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp do tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa của huyện Mỹ Hào phát triển
nhanh chóng trong 15 trở lại đây.
Về nông thôn: Hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn của huyện Mỹ Hào trong những năm qua luôn
đƣợc quan tâm đầu tƣ, cải tạo và nâng cấp. Mạng lƣới giao thông trên địa bàn tiếp tục đƣợc đầu tƣ phát triến,
thƣờng xuyên thực hiện duy tu, bảo dƣỡng các tuyến đƣờng huyện quản lý, tỉnh uỷ thác; đã nâng cấp cải tạo
đƣợc 63,352 km đƣờng, trong đó đƣờng huyện quản lý là 21,415 km, đƣờng xã 14,905 km, đƣờng thôn
14,602 km, đƣờng ra đồng 12,45 km. Hệ thống trƣờng học, đƣờng điện, trạm y tế, trụ sở làm việc, hệ thống
kênh mƣơng phục vụ sản xuất.
2.2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƢNG YÊN
2.2.1. Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hƣng Yên hiện nay
Đến nay, Qua rà soát, đánh giá của các huyện, thành phố; đến nay, bình quân toàn tỉnh đạt 14,7 tiêu chí/xã,
tăng 8,1 tiêu chí/xã so với năm 2011. Số xã cơ bản đạt 19 tiêu chí: 38 xã (trong đó có 32 xã đã được công nhận đạt
chuẩn NTM); Số xã cơ bản đạt 15 - 18 tiêu chí: 29 xã; Số xã cơ bản đạt 10 - 14 tiêu chí: 78 xã; không còn xã đạt dƣới
10 tiêu chí.
Các huyện đạt tiêu chí bình quân cao là huyện Mỹ Hào đạt bình quân 16,4 tiêu chí/xã; huyện Văn
Giang đạt bình quân 16,0 tiêu chí/xã; huyện Văn Lâm đạt bình quân 15,8 tiêu chí/xã. Một số huyện tiêu chí
đạt thấp nhƣ: huyện Phù Cừ đạt 13,5 tiêu chí/xã, huyện Kim Động đạt 12,7 tiêu chí/xã. Một số tiêu chí đã đạt
tƣơng đối cao, nhƣ: Tiêu chí số 01 về Quy hoạch: 145/145 xã; tiêu chí 4 về Điện: 145/145 xã; tiêu chí 8 về
Bƣu điện: 144/145 xã; tiêu chí 19 về An ninh trật tự: 143/145 xã. Một số tiêu chí đạt kết quả thấp, nhƣ: tiêu
chí số 5 về trƣờng học: 52/145 xã; tiêu chí số 11 hộ nghèo: 63/145 xã; tiêu chí Thủy lợi có 77/145 xã; tiêu
chí 15 về Y tế: 83/145 xã; tiêu chí số 17 về Môi trƣờng đạt: 86/145 xã.
chức thực hiện tốt các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chính sách hậu phƣơng quân đội...Trong giai đoạn 2011 2015, Công an huyện đã thành lập và kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ
quốc; phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội thực hiện Chƣơng trình MTQG xây dựng NTM.
Trong quá trình xây dựng NTM, việc chuẩn hóa cán bộ và từng bƣớc nâng cao trình độ, năng lực
của đội ngũ cán bộ công chức trong BCĐ xây dựng NTM nói riêng và cán bộ, công chức nói chung cũng
đƣợc huyện quan tâm thực hiện. Chính vì vậy, sau 5 năm, số cán bộ, công chức trên địa bàn huyện nói chung
và cán bộ công chức cấp xã có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị không
ngừng tăng lên. Huyện Mỹ Hào là một trong những huyện đầu của tỉnh Hƣng Yên có số cán bộ, công chức
đạt chuẩn theo quy định. Trong đó, đội ngũ CBCC cấp xã hiện nay của huyện có 271 ngƣời với 34 cán bộ
nữ; 105 ngƣời có trình độ chuyên môn là cao học, đại học; trình độ cao đẳng là 9 ngƣời; trình độ trung cấp là
132 ngƣời; trình độ sơ cấp là 21 ngƣời; và có 4 ngƣời chƣa qua đào tạo. Thực hiện Đề án thu hút sinh viên
tốt nghiệp đại học hệ chính quy vào làm công chức dự bị tại các xã, phƣờng, thị trấn, tính đến ngày
31/12/2015, theo đề nghị của Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn; trên cơ sở kết quả thẩm định của Sở Nội vụ;
Ủy ban nhân dân huyện đã quyết định tiếp nhận 25 sinh viên về làm công chức dự bị tại 13 xã, thị trấn trọng
huyện.
2.2.2.2. Quy hoạch, thực hiện quy hoạch và ban hành các văn bản hướng dẫn
Nhằm thực hiện mục tiêu phấn đấu xây dựng huyện Mỹ Hào trở thành đô thị loại IV và thị xã công
nghiệp, dịch vụ trong tƣơng lai; đồng thời, quán triệt Nghị quyết 26 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng
(khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngay từ nhiệm kỳ 2005 – 2010, Ban Chấp hành Đảng bộ
huyện đã xây dựng Chƣơng trình hành động số 23 – CTr/HU về nông nghiệp, nông dân, nông thôn giai đoạn
2008 – 2020 và lập quy hoạch, đề án xây dựng NTM trên các nội dung cụ thể:
- Về việc lập quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng NTM
Các bƣớc thực hiện: Sau khi đơn vị tƣ vấn dự thảo, UBND xã tổ chức nhiều hội nghị xin ý kiến
BCĐ, các ngành có liên quan của huyện; các hội nghị xin ý kiến tại xã, thôn và nhân dân (riêng 2 xã điểm
mở hội nghị xin ý kiến một số Sở, Ban Thƣờng vụ Huyện ủy). Sau đó UBND xã tổng hợp yêu cầu đơn vị tƣ
8
vấn chỉnh sửa báo cáo thông qua Đảng ủy, HĐND xã, báo cáo lên các ngành huyện thẩm định trình UBND
huyện phê duyệt. Đến tháng 6/2012, 12/12 xã của huyện đã hoàn chỉnh quy hoạch và đƣợc UBND huyện phê
văn bản hiện hành cũng nhƣ đĩa hình về xây dựng mô hình NTM cho các xã để tuyên truyền và tham khảo
thực hiện. Cuộc vận động hiến đất xây dựng NTM đƣợc nhân dân nhiệt liệt ủng hộ. Toàn huyện đã vận động
nhân dân hiến hàng nghìn mét vuông đất làm đƣờng (ở các xã Dƣơng Quang, Xuân Dục, Nhân Hòa, Hƣng
Long và Hòa Phong). Đến tháng 9/2015, đã vận động các hộ dân hiến và tham gia góp đất đƣợc trên 257
nghìn m2 đất để làm đƣờng GTNT và nội đồng, trong đó đất ở khoảng 2.000m2.
9
2.2.2.4. Quản lý và sử dụng các nguồn lực
- Về quản lý và sử dựng nguồn nhân lực: Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Chính phủ,
trong 05 năm qua, toàn huyện đã đào tạo đƣợc gần 3.000 lao động nông thôn, đạt 65% và tỷ lệ lao động có
việc làm sau đào tạo đạt 90%. Việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện không chỉ là việc nâng
cao chất lƣợng lao động mà còn giúp cho ngƣời lao động có thể dễ dàng tiếp cận và chuyển đổi nghề nghiệp
mới, tiếp cận khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất.
- Về quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính: Ngoài các nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách, huyện Mỹ
Hào tiếp tục chỉ đạo các xã đẩy nhanh việc xử lý đất dôi dƣ, xen kẹp theo Quyết định số 14 của UBND tỉnh
và đấu giá đất ở mới. Tổng nguồn vốn huy động từ năm 2011-2015 trên địa bàn huyện là: 391.642 triệu
đồng, trong đó: NSNN là 172.230 triệu đồng, vốn lồng ghép: 21.988 triệu đồng, vốn tín dụng: 450 triệu
đồng, vốn doanh nghiệp: 8.075 triệu đồng, vốn huy động cộng đồng: 36.650 triệu đồng, vốn khác: 152.231
triệu đồng; nguồn kinh phí hỗ trợ xi măng (từ năm 2013-2015) của tỉnh khoảng 12,9 tỷ đồng, kinh phí hỗ trợ
đá của huyện khoảng 4,67 tỷ đồng đã góp phần phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân cũng
nhƣ làm “thay da, đổi thịt” cho các xã của huyện.
2.2.2.5. Công tác quản lý về phát triển kinh tế
Trong 05 năm qua, huyện đã đẩy mạnh đầu tƣ triển khai thực hiện các chƣơng trình, đề án, dự án
hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và lồng ghép với thực hiện các mô hình khuyến nông, chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật mới, hỗ trợ giống, vật tƣ, phân bón; góp phần quan trọng phát triển sản xuất nông nghiệp,
nâng cao năng suất, giá trị thu trên một ha canh tác, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của cƣ
dân nông thôn. Bên cạnh đó, sự liên kết giữa 'bốn nhà' có vai trò quan trọng, đóng góp lớn vào sự thành công
trong quá trình chuyển đổi, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa
trên 25 km, tổng khối lƣợng 4.200 tấn xi măng, tổng giá trị thành tiền gần 7 tỷ đồng. Tính đến hết năm 2015, toàn
huyện Mỹ Hào đã có 8/12 xã (chiếm 66,7% số xã) đạt yêu cầu về hệ thống đƣờng trục giao thông xã, liên xã đạt
chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ giao thông vận tải. Chỉ tính riêng từ năm 2013 đến nay toàn huyện đã cứng
hoá đƣờng trục thôn, xóm, đƣờng trục chính nội đồng theo cơ chế hỗ trợ xi măng của tỉnh và đá của huyện
đƣợc khoảng 56km.
- Về thủy lợi: Việc xây dựng, nâng cấp, tu bổ, nạo vét kênh mƣơng nhằm đảm bảo phục vụ phát
triển sản xuất và đời sống dân sinh đƣợc UBND huyện, và UBND các xã quan tâm chỉ đạo thƣờng xuyên.
Đến nay, toàn huyện có 12/12 xã (đạt 100% số xã) đạt tiêu chí về thủy lợi.
- Về hệ thống lưới điện: Trong giai đoạn 2011 - 2015, điện lực Mỹ Hào đã có nhiều dự án đầu tƣ
xây dựng, cải tạo, sửa chữa và nâng cấp lƣới điện nông nông thôn đƣợc triển khai. Tính đến hết năm 2015,
toàn huyện có 12/12 xã (đạt 100%) đạt tiêu chí về điện.
- Về trường học: Trong 5 năm từ 2010 đến 2015 huyện đã đầu tƣ xây mới trên 50 phòng học và mua
sắm bàn, ghế, trang thiết bị đồ dùng học tập. Toàn huyện có 28/36 trƣờng của 12 xã đạt chuẩn quốc gia. Đến nay,
toàn huyện có 6/12 xã (chiếm 50%) số xã đạt tiêu chí trƣờng học. Toàn huyện có 28/36 trƣờng đƣợc công
nhận đạt chuẩn quốc gia cùng với 01 trƣờng đại học và 02 trƣờng cao đẳng đã góp phần thúc đẩy giáo dục
trên địa bàn huyện phát triển mạnh mẽ.
- Về cơ sở vật chất văn hóa: : Ngoài vốn hỗ trợ của nhà nƣớc, các xã đã tích cực thực hiện chủ
trƣơng huy động từ nguồn xã hội hóa để xây dựng cơ sở vật chất (nhà văn hóa, sân vận động, nhà tập thể
thao...). 100% các thôn đã có nhà văn hóa hoặc sử dụng đình làng làm điểm sinh hoạt văn hóa. Toàn huyện
có 66/72 thôn có Nhà văn hóa thôn đạt chuẩn về hạ tầng. Đến nay, trên địa bàn huyện có 6/12 xã (chiếm
50%) đạt tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa. Việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở luôn đƣợc huyện quan tâm,
hiện nay, tỷ lệ gia đình văn hóa trong toàn huyện đạt 89%; 12/12 xã của huyện có 72/72 làng đạt danh hiệu Làng
văn hóa, trên 25% số ngƣời dân tham gia vào các hoạt động tập luyện thể thao thƣờng xuyên. 100% các xã trên địa
bàn huyện đạt tiêu chí về văn hóa.
- Về chợ nông thôn: Từ năm 2011 đến nay, huyện đã tập trung vốn đầu tƣ để xây dựng mới, cải tạo
và nâng cấp mạng lƣới chợ trên địa bàn nông thôn huyện; toàn huyện có 3 chợ đƣợc Dự án cạnh tranh bảo
đảm an toàn vệ sinh thực phẩm (LIFSAP). Đến nay, trên địa bàn huyện có 11/12 xã (chiếm 91,7%) đạt tiêu chí
chợ (xã không có chợ coi như đã đạt tiêu chí).
11
năm 2011), bình quân mỗi xã đạt 17 tiêu chí, là huyện dẫn đầu của tỉnh Hƣng Yên về xây dựng NTM. Năm
2015, huyện có thêm 03 xã đƣợc UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn năm 2015, nâng tổng số xã của huyện đạt
chuẩn đến nay là 5 xã, các xã còn lại đạt từ 15-16 tiêu chí. Để đạt đƣợc những kết quả trên là sự kết hợp của
nhiều yếu tố:
Về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất: Đời sống kinh tế - xã hội của ngƣời dân tại các xã
đƣợc cải thiện. Năm 2015, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt gần 700 tỷ đồng, bình quân thu nhập đầu ngƣời
đạt 2.545 USD/năm. Đồng thời, một số lƣợng lớn lao động ở nông thôn đã đƣợc đào tạo nghề, tham gia vào
các hoạt động phi nông nghiệp có thu nhập ổn định và cao hơn. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã chuyển
dịch mạnh theo hƣớng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất khu vực phi nông nghiệp.
Nhờ phát triển kinh tế, tăng thu nhập nên công tác giảm nghèo đã đƣợc thực hiện một cách hiệu quả.
12
Về phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu: Đây là nhóm tiêu chí đƣợc các địa phƣơng quan tâm và chỉ
đạo tích cực trong quá trình triển khai chƣơng trình. Việc xây dựng nâng cấp các công trình đều do ngƣời
dân và cộng đồng lựa chọn từ nhu cầu thực tế và nguồn lực tổng hợp từ nhiều nguồn, nhà nƣớc, địa phƣơng,
doanh nghiệp, ngƣời dân và vốn vay, trong đó nguồn vốn của Nhà nƣớc chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Trong quá trình xây dựng quy hoạch: các xã đã thực hiện lấy ý kiến góp ý của cộng đồng dân cƣ từ
khâu khảo sát, lập danh mục đầu tƣ, xác định nguồn vốn đến khâu hoàn thiện bộ máy quản lý điều hành theo
phƣơng châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Về huy động các nguồn lực: Đã huy động đƣợc nguồn lực tài chính nhiều hơn cho Chƣơng trình
xây dựng nông thôn mới, nhất là Chƣơng trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn theo
hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những kết quả trên đây cho thấy, quá trình quản lý nhà nƣớc trong xây
dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ Hào đã đƣợc triển khai một cách đúng đắn, kịp thời và hiệu quả. Thành
công bƣớc đầu này còn cho thấy tác động tích cực đối với các cấp, các ngành và ngƣời dân, các doanh
nghiệp về vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nƣớc thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới.
- Nguyên nhân thành công:
Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã thể hiện đƣợc tính đúng đắn, kịp
+ Nguyên nhân chủ quan:
Sự vào cuộc của một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phƣơng chƣa quyết liệt, thiếu tâm huyết,
thiếu trách nhiệm.
Năng lực cán bộ lãnh đạo một số xã còn hạn chế, chƣa chấp hành nghiêm túc chỉ đạo của cấp trên;
Thiếu chủ động, chƣa tích cực trong việc triển khai chƣơng trình.
UBND các xã chƣa có kế hoạch và giải pháp cụ thể nhằm phát huy các nguồn lực trong cộng đồng
dân cƣ.
2.2.4. Những vấn đề đặt ra
2.2.4.1. Vấn đề xác định mục tiêu ưu tiên
Đổi mới tổ chức sản xuất nông nghiệp nhằm phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế ở mỗi địa phƣơng,
ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lƣợng, tăng thu nhập cho nông dân.
2.2.4.2. Vấn đề phát huy vai trò của người dân
Phát huy vai trò của ngƣời dân là thực hiện đồng bộ, có hệ thống các biện pháp về kinh tế, chính
trị, văn hoá, giáo dục, y tế, môi trƣờng… nhằm khơi dậy, sử dụng, phát triển trên tất cả các yếu tố cấu thành:
số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu đội ngũ đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
2.2.4.3. Vấn đề quản lý, sử dụng và huy động các nguồn lực
Việc quản lý, sử dụng các nguồn lực đƣợc giao cho các Ban quản lý xây dựng nông thôn mới tại
các địa phƣơng cho nên yêu cầu đặt ra là trách nhiệm thanh tra, giám sát của cơ quan nhà nƣớc và ngƣời dân
trong sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này nhƣ thế nào.
2.2.4.4. Vấn đề cơ chế chính sách
Hiện nay, việc quy hoạch sản xuất vẫn theo kế hoạch hàng năm, chƣa có chuyển biến rõ rệt. Một
vấn đề nữa là ngƣời dân rất khó trong việc tiếp cận đƣợc nguồn vốn của Chính phủ về chính sách tín dụng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
2.2.4.5. Vấn đề về các tiêu chí chưa phù hợp
Bộ tiêu chí quốc gia qua một thời gian triển khai cho thấy có nhiều vấn đề còn những hạn chế, bất
cập, chƣa có tính khả thi cao, gây khó khăn cho công tác triển khai, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.
2.2.4.6. Vấn đề năng lực của cán bộ quản lý, điều hành, giám sát
Trình độ chuyên môn của cán bộ tại các xã của huyện Mỹ Hào còn thấp. Họ không chỉ thiếu những
kiến thức về kỹ năng lãnh đạo, quản lý hành chính, quản lý kinh tế, quản lý tài chính, mà còn thiếu cả những
kỹ năng về công tác dân vận, tuyên truyền.
3.1.3. Xây dựng nông thôn mới phải lấy phát huy nội lực làm trọng tâm
- Nội lực xây dựng NTM nằm trong sức dân, trong sự đoàn kết, nhất trí, trong sự đồng lòng, chung
sức phát huy tiềm lực, thế mạnh của mỗi địa phƣơng. Vì vậy, nội lực cộng đồng thể hiện ở trí tuệ, tâm huyết
cũng nhƣ công sức, tiền của do mỗi ngƣời dân và cả cộng đồng tự bỏ ra để góp sức cùng Nhà nƣớc xây dựng
các công trình phát triển NTM.
- Trong xây dựng NTM, nội lực đƣợc thể hiện cụ thể ở sự đóng góp, xây dựng các công trình công
cộng của làng, xã nhƣ đƣờng giao thông, trƣờng học, nhà văn hóa, khu thể thao, trạm y tế, chợ, kiên cố hóa
kênh mƣơng… và việc mỗi gia đình, cộng đồng chung sức xóa nhà tạm, xây dựng nhà đạt chuẩn; chỉnh trang
nơi ở của chính gia đình mình (xây dựng, nâng cấp nhà ở, nhà bếp; xây dựng công trình vệ sinh; cải tạo, bố
trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh).
15
- Nội lực còn thể hiện bằng hoạt động tích cực sản xuất, đầu tƣ cho sản xuất ngoài đồng ruộng, cơ
sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, cải tạo lại vƣờn, ao…., để tạo ra thu nhập cao, phát triển kinh tế
gia đình; tự giác góp công, đóng góp kinh phí, hiến đất để làm đƣờng giao thông, kênh mƣơng nội đồng, vệ
sinh công cộng…
3.2. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỤC TIÊU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA HUYỆN MỸ
HÀO GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
3.2.1. Về phƣơng hƣớng
- Gắn việc thực hiện chƣơng trình MTQG xây dựng NTM với thực hiện Đề án thành lập thị xã Mỹ
Hào trong thời gian sớm nhất và hƣớng tới xây dựng huyện Mỹ Hào đạt tiêu chí đô thị loại III vào năm 2020.
Thông qua xây dựng NTM mới sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa khu vực nội thị cũng nhƣ chỉnh
trang diện mạo khu vực ngoại thị của Mỹ Hào.
- Thực hiện tốt phƣơng châm “Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm”. Đề cao vai trò phát huy nội lực
của mỗi địa phƣơng cũng nhƣ vai trò của các ngành đoàn thể và toàn thể nhân dân cùng với việc đẩy mạnh
xã hội hóa, lồng ghép, huy động tổng hợp mọi nguồn lực để xây dựng nông thôn mới, phát triển nông thôn
nói riêng và đô thị Mỹ Hào nói chung toàn diện, bền vững.
Thực hiện xây dựng NTM đồng bộ ở tất cả các địa phƣơng còn lại trong huyện, trên tất cả các tiêu
hiện nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các cấp ủy, chính quyền và các tầng lớp nhân dân nhận thức
đúng về chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới.
- UBND và BCĐ, BQL xây dựng NTM các xã, Ban phát triển các thôn tổ chức tuyên truyền các cơ
chế, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới trên hệ thống đài phát thanh của xã, các
buổi sinh hoạt của cộng đồng dân cƣ, sinh hoạt đoàn thể để nhân dân nhận thức đúng những chủ chƣơng,
chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về phong trào xây dựng nông thôn mới để tổ chức thực hiện tại cơ sở mình.
- Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện và Ban Thi đua khen thƣởng huyện tăng cƣờng việc kiểm tra,
hƣớng dẫn các xã xây dựng kế hoạch thực hiện các cuộc vận động thi đua xây dựng NTM.
- BCĐ huyện tiếp tục phối hợp với Ban chỉ đạo tỉnh và Chi cục PTNT tỉnh tổ chức các lớp tập huấn
theo kế hoạch đảm bảo đúng thời gian và chất lƣợng.
3.3.3. Giải pháp về lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch
- Trƣớc hết về lập quy hoạch không gian toàn xã: đây là yêu cầu đầu tiên trong phát triển quy
hoạch chung của cả huyện. Bởi công tác quy hoạch tại huyện Mỹ Hào giai đoạn vừa qua còn nảy sinh nhiều
bất cập do quy hoạch xây dựng NTM mới phải gắn với quy hoạch vũng lõi đô thị và vùng ngoại thị, chính vì
vậy quy hoạch xây dựng NTM phải căn cứ trên quy hoạch chung của đô thị Mỹ Hào.
- Để khắc phục tình trạng quy hoạch thiếu, không có cơ chế bắt buộc thực hiện theo quy hoạch
đang gây ra tình trạng tự phát, lộn xộn gây lãng phí nguồn lực trƣớc mắt cũng nhƣ sau này để khắc phục hậu
quả. Vì vậy yêu cầu tiên quyết đó là phải thực hiện quy hoạch tổng thể, làm căn cứ cho các quy hoạch khác.
Khi đã lập đƣợc quy hoạch tổng thể cần có mô hình trực quan trƣng bày để cán bộ, đảng viên và nhân dân
biết và thực hiện theo.
- Công tác quy hoạch NTM phải đƣợc đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
đất nƣớc, của tỉnh và của huyện. Quy hoạch xây dựng NTM ở huyện Mỹ Hào cần tính đến việc gắn với quy
hoạc huyện phấn đấu trở thành đô thị loại III vào năm 2020.
- Quy hoạch NTM cần chú trọng tính liên kết, bảo đảm thống nhất với quy hoạch xây dựng liên
vùng và các quy hoạch chuyên ngành khác để có thể phát triển và khai thác đồng bộ kết cấu hạ tầng, đáp ứng
sản xuất nông nghiệp ở quy mô lớn.
3.3.4. Giải pháp về tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu
- Tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn: Tỉnh Hƣng Yên đã có chủ trƣơng
hỗ trợ các địa phƣơng trong huyện xi măng và huyên Mỹ Hào đã có chủ trƣơng hỗ trợ các xã trong huyện đá
để làm đƣờng giao thông nông thôn. Kêu gọi các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện, kêu gọi con em quê
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong huyện và cung cấp cho thị trƣờng Hà Nội.
Chính quyền huyện và các xã cần đầu tƣ vốn, hỗ trợ kỹ thuật, hình thành và phát triển các trang trại
chăn nuôi gia súc, gia cầm, loại bỏ dần kiểu sản xuất nhỏ lẻ, nâng cao chất lƣợng sản phẩm. Cần hƣớng các
nguồn lực vào các dự án chăn nuôi nhƣ: dự án chăn nuôi lợn hƣớng nạc, gà lấy thịt, lấy trứng… đáp ứng nhu
cầu trong huyện và cung cấp cho thị trƣờng Hà Nội và các địa phƣơng lân cận.
3.3.6. Giải pháp về nâng cao trình độ cán bộ quản lý và chất lƣợng lao động
- Có kế hoạch xây dựng, phát triển, tuyển dụng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, đáp ứng
yêu cầu đề ra; trƣớc mắt cần bố trí, phân công cán bộ một cách hợp lý, theo đúng khả năng, trình độ, vị trí
công tác.
- Đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao năng lực, nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác
quy hoạch và phụ trách mảng xây dựng NTM từ huyện đến cơ sở.
- Đào tạo nghề cho nông dân, các chủ trang trại, cán bộ quản lý hợp tác xã, cơ sở kinh doanh nông
nghiệp.
- Bồi dƣỡng kiến thức xây dựng NTM để giúp nông dân tham gia vào quá trình xây dựng và phát
triển NTM tại làng, xã.
3.3.7. Giải pháp về quản lý, sử dụng và huy động vốn
18
- Trƣớc hết các xã, các ngành phải nỗ lực hơn nữa trong việc huy động các nguồn lực để tập trung
xây dựng nông thôn mới trong đó có nguồn lực tài chính. Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để
triển khai thực hiện. Trong đó cùng với thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chƣơng trình mục tiêu
quốc gia, các chƣơng trình dự án hỗ trợ trên địa bàn và nguồn vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của Chƣơng
trình, cần huy động tối đa các nguồn lực của địa phƣơng.
- Đối với huyện Mỹ Hào trong giai đoạn hiện nay nguồn vốn ngân sách cần tập trung vào việc xây
dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, trƣớc hết là giao thông nông thôn, xây dựng và cải tạo các công trình thủy lợi,
giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; trong đó cần ƣu tiên cho các trung tâm dạy nghề, khuyến
nông, tiểu thủ công nghiệp và đầu tƣ cho các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp nhƣ: chế tạo máy,
phân bón, thuốc trừ sâu...
- Đổi mới phƣơng pháp tập huấn cho đội ngũ cán bộ các cấp, cần lồng ghép việc học tập lý luận đi
kèm với nghiên cứu thực tế.
3.4.3. Đối với huyện
- Cần nâng cao hơn nữa vai trò của cấp ủy, chính quyền từ huyện tới cơ sở trong việc lãnh đạo, chỉ
đạo thực hiện Chƣơng trình NTM, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị.
- Định kỳ kiểm tra tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới, chủ động đề xuất các giải pháp tháo
gỡ khó khăn trong tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới tại các xã.
3.4.4. Đối với các xã
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm,
thƣờng xuyên ở địa phƣơng.
- Rà soát, đánh giá lại một số chỉ tiêu, tiêu chí đảm bảo tính chính xác, phù hợp với thực tế của địa
phƣơng.
20
KẾT LUẬN
Xây dựng nông thôn mới không chỉ là công việc của chính quyền các cấp mà là nhiệm vụ của toàn
dân, cần huy động nhân lực, vật lực của toàn xã hội để chung tay xây dựng. Nội dung của luận văn trên cơ sở
quan điểm, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và thực trạng xây dựng nông thôn mới
của huyện Mỹ Hào, luận văn đã chỉ ra đƣợc những vấn đề còn tồn tại trong quản lý nhà nƣớc về xây dựng
nông thôn mới ở huyện Mỹ Hào và đƣa ra các giải pháp cụ thể để xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ Hào.
Bên cạnh đó, nội dung của luận văn đã làm rõ đƣợc một số kết quả nhƣ sau:
Thứ nhất: Luận văn đã xác định đƣợc xây dựng nông thôn mới là một chủ trƣơng lớn của Đảng và
nhà nƣớc ta và chủ trƣơng này có đầy đủ cơ sở lý luận cũng nhƣ cơ sở thực tiễn.
Thứ hai: Luận văn cũng xác định xây dựng nông thôn mới là công việc lâu dài, đòi hỏi sự chung
tay vào cuộc của toàn thể xã hội và đóng vai trò quan trọng chính là ngƣời nông dân.
Thứ ba: Luận văn đã cho thấy thực trạng về quản lý nhà nƣớc trong xây dựng nông thôn mới ở
huyện Mỹ Hào, tỉnh Hƣng Yên trong thời gian qua đã đạt đƣợc những kết quả nhất định. Song vẫn còn nhiều