MỞ ĐẦU
Ngày nay, ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề hàng đầu được
quan tâm trên thế giới, nhất là tại các nước đang phát triển mà Việt Nam không
phải là một trường hợp ngoại lệ.
Tùy theo tác nhân gây ô nhiễm môi trường mà người ta chọn giải pháp
công nghệ xử lý thích hợp. Trong đó có thể là:
1. Dùng các chất gây tác động trực tiếp (thông qua các phản ứng hóa học
cần thiết) lên các tác nhân gây ô nhiễm để chuyển hóa các chất độc hại
về vô hại.
2. Dùng những vật liệu hấp phụ để giam cầm, bắt giữ các tác nhân gây ô
nhiễm trong không gian và thời gian cần thiết, kèm theo sự giải hấp phụ
tại một không gian, thời gian khác.
3. Dùng vật liệu xúc tác tạo môi trường thích hợp để thúc đẩy nhanh các
phản ứng ôxy hóa và/hoặc khử để chuyển hóa các chất độc hại thành vô
hại đối với sức khỏe con người.
Các vật liệu quang xúc tác, nhất là các chất hưởng ứng với ánh sáng nhìn
thấy là một chủ đề nghiên cứu đặc biệt hiện nay do tận dụng được nguồn năng
lượng Mặt Trời [1, 2]. Người ta đã ứng dụng các chất quang xúc tác để tách các
phân tử nước, tẩy rửa bề mặt vật liệu, phân hủy các chất hữu cơ độc hại [3-6].
Những vật liệu quang xúc tác phổ biến đang được dùng có thể kể đến là
ZnO, Fe2O3 và TiO2. Đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm nâng cao tính chất quang
xúc tác của những ôxit kim loại này cũng như ứng dụng chúng do đây là những
vật liệu rẻ tiền, có độ bền cơ học lớn và cho hiệu suất sử dụng cao. Tuy nhiên
những ôxit kim loại này lại thể hiện những hạn chế khi chúng gần như chỉ hấp
thụ những bức xạ tử ngoại, một phần năng lượng cỡ 5% trong tổng số năng
lượng bức xạ từ Mặt Trời [7]. Để cải thiện tính chất quang xúc tác của ôxit kim
loại này và sử dụng ánh sáng Mặt Trời, người ta đã tìm cách làm dịch bờ hấp
-1-
thụ về vùng ánh sáng nhìn thấy bằng cách pha tạp các ion kim loại hoặc phi
1.1.1 Giới thiệu về hạt nano bạc [15]
Hạt nano bạc là các hạt bạc có kích thước từ 1 nm đến 100 nm. Do có
diện tích bề mặt lớn nên hạt nano bạc có khả năng kháng khuẩn tốt hơn so với
các vật liệu khối do khả năng giải phóng nhiều ion Ag+ hơn.
Các hạt nano bạc có hiện tượng cộng hưởng Plasmon bề mặt. Hiện tượng
này tạo nên màu sắc từ vàng nhạt đến đen cho các dung dịch có chứa hạt nano
bạc với các màu sắc phụ thuộc vào nồng độ và kích thước hạt nano.
Tính chất điện
Như đã biết, tính dẫn điện của kim loại rất tốt, hay điện trở của kim loại
nhỏ là nhờ vào mật độ điện tử tự do cao trong đó. Đối với vật liệu khối, các lý
luận về độ dẫn dựa trên cấu trúc vùng năng lượng của chất rắn. Điện trở của
kim loại đến từ sự tán xạ của điện tử lên các sai hỏng trong mạng tinh thể và
tán xạ với dao động nhiệt của nút mạng (phonon). Tập thể các điện tử chuyển
động trong kim loại (dòng điện I) dưới tác dụng của điện trường (U) có liên hệ
với nhau thông qua định luật Ohm: U = IR, trong đó R là điện trở của kim loại.
Định luật Ohm cho thấy đường I – U là một đường tuyến tính. Khi kích thước
của vật liệu giảm dần, hiệu ứng giam cầm lượng tử làm rời rạc hóa cấu trúc
vùng năng lượng. Hệ quả của quá trình lượng tử hóa này đối với hạt nano bạc
là I – U không còn tuyến tính nữa mà xuất hiện một hiệu ứng gọi là hiệu ứng
chắn Coulomb (Coulomb blockade) làm cho đường I – U bị nhảy bậc với giá
trị mỗi bậc sai khác nhau một lượng e/2C cho U và e/RC cho I, với e là điện
tích của điện tử, C và R là điện dung và điện trở khoảng nối hạt nano bạc với
điện cực.
-3-
Tính chất từ
Bạc có tính nghịch từ ở trạng thái khối do sự bù trừ cặp điện tử. Khi vật
liệu thu nhỏ kích thước thì sự bù trừ trên sẽ không toàn diện nữa và vật liệu có
bào ngay sau đó, khả năng hoặt động của vi khuẩn lại có thể được phục hồi. Do
động vật không có thành tế bào,vì vậy chúng ta không bị tổn thương khi tiếp
xúc với các ion này.
Có một cơ chế tác động của các ion bạc lên vi khuẩn đáng chú ý được
mô tả như sau: Sau khi Ag+ tác động lên lớp màng bảo vệ của tế bào vi khuẩn
gây bệnh nó sẽ đi vào bên trong tế bào và phản ứng với nhóm sunfuahydrin –
SH của phân tử enzym chuyển hóa oxy và vô hiệu hóa men này dẫn đến ức chế
quá trình hô hấp của tế bào vi khuẩn [16].
Hình 1.2. Ion bạc vô hiệu hóa enzym chuyển hóa oxy của vi khuẩn
Ngoài ra các ion bạc còn có khả năng liên kết với các base của DNA và
trung hòa điện tích của gốc phosphate do đó ngăn chặn quá trình sao chép DNA
[6].
-5-
Hình 1.3. Ion bạc liên kết với các base của DNA
1.1.2.2. Ứng dụng đặc tính kháng khuẩn của bạc trong đời sống
Do thể hiện tính kháng khuẩn tốt nên nano bạc thường được sử dụng để
làm chất khử trùng, kháng khuẩn, khử mùi…. Có thể kể một vài sản phẩm chứa
hạt nano bạc như sau đây.
Các dụng cụ chứa thực phẩm: Những đồ dùng bằng nhựa có pha thêm
hạt nano bạc có tác dụng khử trùng. Qua kiểm tra cho thấy chúng có khả năng
diệt 99.9% vi khuẩn.
Các thiết bị điện tử: Điều hòa, tủ lạnh, máy giặt
Y tế: Khẩu trang nano bạc: Được thiết kế với 3 - 4 lớp gồm 2 lớp vải,
một lớp vật liệu tẩm nano bạc và than hoạt tính ở giữa, loại khẩu trang này có
bạc hấp thụ ánh sáng chiếu vào. Kim loại có nhiều điện tử tự do, các điện tử tự
do này sẽ dao động dưới tác dụng của điện từ trường bên ngoài như ánh sáng.
Thông thường các dao động bị dập tắt nhanh chóng bởi các sai hỏng mạng hay
bởi chính các nút mạng tinh thể trong kim loại khi quãng đường tự do trung
bình của điện tử nhỏ hơn kích thước. Nhưng khi kích thước của kim loại nhỏ
hơn quãng đường tự do trung bình thì hiện tượng dập tắt không còn nữa mà
điện tử sẽ dao động cộng hưởng với ánh sáng kích thích. Do vậy, tính chất
quang của hạt nano bạc có được do sự dao động tập thể của các điện tử dẫn đến
quá trình tương tác với bức xạ sóng điện từ. Khi dao động như vậy, các điện tử
sẽ phân bố lại trong hạt nano bạc làm cho hạt nano bạc bị phân cực điện tạo
thành một lưỡng cực điện [17].
Mie đã chỉ ra được rằng bước sóng cộng hưởng và vị trí đỉnh cực đại phụ
thuộc vào kích thước của hạt nano. Khi kích thước hạt tăng thì đỉnh của phổ
hấp thụ dịch chuyển về phía bước sóng cộng hưởng [15]. Do vậy xuất hiện một
tần số cộng hưởng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng các yếu tố về hình dáng,
độ lớn của hạt nano bạc và môi trường xung quanh là các yếu tố ảnh hưởng
nhiều nhất. Ngoài ra, mật độ hạt nano bạc cũng ảnh hưởng đến tính chất quang.
-7-
Nếu mật độ loãng thì có thể coi như gần đúng hạt tự do, nếu nồng độ cao thì
phải tính đến ảnh hưởng của quá trình tương tác giữa các hạt [15,17].
1.1.4. Giới thiệu về (AgCl/Ag)
1.1.4.1. Vài nét về bạc clorua
Bạc clorua hay Clorua bạc là hợp chất hóa học màu trắng, dẻo, nóng chảy
(có thể màu nâu - vàng) và sôi không phân hủy. AgCl rất ít tan trong nước,
không tạo nên tinh thể ngậm nước (hidrat hóa). Nó không bị axít mạnh phân
hủy. Phản ứng với kiềm đặc, hidrat amoni. Tan được nhờ sự tạo phức chất.
AgCl có mặt tự nhiên trong khoáng vật
clorargyrit
AgCl nhằm tạo Ago trên bề mặt
của AgCl. Kết quả nghiên
cứuđã chỉ ra rằng mẫu được
Hình 1.6. Quy trình chế tạo hạt nano AgCl/Ag
tổng hợp với 0,2 gam PVA và
chiếu sáng trong 20 phút cho khả năng hấp thụ trong vùng nhìn thấy tốt và hiệu
suất quang xúc tác cao trong thử nghiệm phân hủy xanh metylen. Đây là tiền
đề quan trọng, giúp ta tìm ra quy trình công nghệ chế tạo AgCl/Ag/TiO2.
1.2. Tìm hiểu chung về Ag/TiO2 và AgCl/Ag/TiO2
1.2.1. Vài nét về TiO2
1.2.1.1. Cấu trúc tinh thể TiO2
Titan (Ti) là kim loại chuyển tiếp thuộc nhóm IV chu kỳ IV trong bảng
hệ thống tuần hoàn Mendeleep, có nguyên tử khối là 47,88 (đvC), bán kính
nguyên tử là 1,45 A và cấu hình electron là [Ar] 3d24s2. Trong các hợp chất
trạng thái ôxi hóa đặc trưng của Ti là +4 vì Ti+4 có cấu hình electron bền vững
của khí trơ [Ar]. Đây cũng chính là lý do trong tự nhiên Titan tồn tại chủ yếu ở
trạng thái Ti+4. Titan bền vững ở nhiệt độ thường, còn ở nhiệt độ cao nó phản
ứng mạnh với ôxi theo phương trình: TiO2 + O2 TiO2
-9-
Vật liệu TiO2 có thể tồn tại dưới nhiều dạng thù hình khác nhau. Đến
nay, các nhà khoa học đã công bố những nghiên cứu về 7 dạng thù hình của
TiO2 gồm: 4 dạng cấu trúc tự nhiên và 3 dạng là dạng tổng hợp. Ba dạng thù
hình phổ biến và được quan tâm hơn cả là rutile, anatase và brookite [18]. Trong
đó hai dạng tinh thể rutile và anatase thường được nghiên cứu và sử dụng trong
xúc tác quang hóa, còn dạng brookite ít được quan tâm nghiên cứu do đây là
Tính chất
Hệ tinh thể
Pha anatase
Tứ diện
Pha rutile
Tứ diện
Pha brookite
Hình thoi
Nhóm không gian
D4h14 P42 / mnm
D4 h19 I 41 / amd
D2h15 Pbca
Hằng số mạng(Å)
a = b = 3,782
c = 9,515
a = b = 4,584
c = 2,953
Khối lượng phân tử
Góc liên kết
lâu và tác dụng với kiềm nóng cháy. TiO2 bị HCl, H2SO4 đặc nóng, kiềm đặc
nóng phân hủy. Ở điều kiện thường, TiO2 là chất rắn màu trắng, cứng, khó nóng
chảy và bền nhiệt. TiO2 xuất hiện trong tự nhiên không bao giờ ở dạng nguyên
chất, nó tồn tại chủ yếu trong hợp kim (với Fe), trong khoáng chất và trong các
quặng đồng [26].
1.2.1.2. Đặc trưng phổ hấp thụ và tính chất quang của TiO2
TiO2 là chất bán dẫn tồn tại ở ba dạng cơ bản: Rutile, Anatase, Brookite,
trong đó Anatase là pha có hoạt tính quang hóa mạnh nhất.
Bán dẫn TiO2 có vùng hóa trị đã được điền đầy electron, vùng dẫn hoàn
toàn trống. Nằm giữa vùng dẫn và vùng hóa trị là vùng cấm không có mức năng
lượng nào. Bề rộng vùng cấm của TiO2 pha rutile là 3,0 eV và pha anatase là
3,2 eV, do đó đều chỉ hấp thụ các bức xạ trong vùng tử ngoại. Đối với các tinh
thể anatase hoàn hảo, bước sóng kích thích cần thiết để chuyển một electron từ
vùng hóa trị lên vùng dẫn có thể được tính bằng phương trình sau.
hc 6,625 1034 3 108
388 109 m 388nm
19
Eg
3, 2 1,6 10
Hình 1.9. Đồ thị phổ hấp thụ của TiO2 tinh khiết pha anatase: (a) theo bước sóng và
(b) theo năng lượng [27]
-12-
Từ đồ thị phổ hấp thụ của tinh thể anatase theo bước sóng và theo năng
sáng. Các nghiên cứu cho thấy tinh thể nano TiO2 pha anatase (kích thước hạt
tinh thể cỡ 5 ÷ 50 nm) có tính oxy hóa khử mạnh dưới tác dụng của tia tử ngoại
trong ánh sáng mặt trời hoặc đèn huỳnh quang. Quá trình quang xúc tác tiến
hành ở pha khí hoặc pha lỏng được chia thành 6 giai đoạn như sau
Các chất tham gia phản ứng được khuếch tán ở pha lỏng hoặc khí đến bề
mặt xúc tác
Các chất tham gia phản ứng bị hấp phụ trên bề mặt chất xúc tác
Các phân tử chất xúc tác hấp thụ photon và chuyển từ trạng thái cơ bản sang
trạng thái kích thích. Điện tử tách khỏi liên kết, chuyển từ dải hóa trị sang
dải dẫn và tạo ra lỗ trống ở dải hóa trị.
Ở dải dẫn, điện tử có tính khử mạnh, phản ứng với các chất “ưa điện tử” như
O2 để tạo tác nhân oxy hóa mạnh như H2O2, O2-, OHTiO2 (e-) + O2 → TiO2 + O2O2- + H+ → HO*2
2HO*2 → H2O2 + O2
TiO2 (e-) + H2O2 → TiO2 + HO + HOĐồng thời, lỗ trống ở dải hóa trị có tính oxy hóa mạnh, phản ứng với các chất
giàu điện tử như H2O, OH- và các hợp chất hữu cơ RX (hấp thụ trên bề mặt
chất xúc tác) để tạo các gốc tự do RX+, OH* trên bề mặt tiếp xúc
TiO2 (h+) + H2O → OH* + H+ + TiO2
TiO2 (h+) + OH- → OH* + TiO2
TiO2 (h+) + RX → RX+ + TiO2
-14-
Các gốc OH* và O2- có tính oxy hóa mạnh gấp hàng trăm lần các chất oxy hóa
quen thuộc hiện nay như clo, ozon. Chúng giúp phân hủy các hợp chất hữu cơ,
khí thải độc hại, vi khuẩn, rêu mốc bám trên bề mặt vật liệu thành những chất
như CO2, H2O. Đây là giai đoạn khởi đầu cho chuỗi các quá trình sau. Do vậy,
để một chất có khả năng quang xúc tác thì nó phải có hoạt tính quang hóa, phải
có độ rộng vùng cấm thích hợp.
Phản ứng quang hóa gồm hai giai đoạn nhỏ
- Phản ứng quang hóa sơ cấp các phân tử chất bán dẫn bị kích thích tham
của TiO2 anatase.
Ứng dụng tính chất quang xúc tác của TiO2
Khi được chiếu sáng, nano TiO2 trở thành một chất oxy hóa khử mạnh.
Nano TiO2 có thể phân hủy được các chất độc hại bền vững như điôxin, thuốc
trừ sâu, benzene, cũng như một số loại virus, vi khuẩn gây bệnh với hiệu suất
cao hơn so với các phương pháp khác. Dưới tác dụng của ánh sáng, nano TiO2
trở nên kỵ nước hay ái nước tùy thuộc vào công nghệ chế tạo và khả năng này
được ứng dụng để tạo ra các bề mặt tẩy rửa không cần hóa chất và tác động cơ
học hoặc các thiết bị làm sạch không cần điện. Tính chất quang xúc tác của
TiO2 có một số ứng dụng chủ yếu sau đây.
-16-
Phân hủy điôxin
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy dưới tác dụng của tia tử ngoại, chất
dẻo được phủ hoặc cấy nano TiO2 có thể khử được điôxin trong nước. Ở Việt
Nam, chủ yếu là đất bị ô nhiễm điôxin dẫn đến ô nhiễm nguồn nước nên không
áp dụng được các phương pháp thông dụng để khử điôxin. Các nhà nghiên cứu
ở Viện nhiệt đới đã đưa ra giải pháp phủ hạt nano TiO2 hoạt tính cao lên cát rồi
trộn với đất bị nhiễm điôxin. Kết quả cho thấy sau khi tiếp xúc với cát phủ hạt
nano TiO2 ngay trong điều kiện thiếu sáng, nồng độ chất 2.4-D (có trong điôxin)
đã giảm từ 100mg/l xuống còn 30 mg/l. Phát hiện này đã mở ra một triển vọng
lớn để nghiên cứu tìm điều kiện, chế độ phù hợp giúp phân hủy điôxin trong
đất đến giới hạn an toàn cho phép.
Tiêu diệt các tế bào ung thư
Ngày nay ung thư vẫn là một căn bệnh nan y. Các phương pháp điều trị
bằng nhiễu xạ, truyền hóa chất, phẫu thuật rất tốn kém mà hiệu quả không cao.
Hiện nay TiO2 đang được xem là một hướng đi khả thi để điều trị ung thư.
Người ta đã thử nghiệm trên chuột bằng cách cấy các tế bào để tạo các khối u
Xử lý không khí ô nhiễm
Ở các thành phố lớn, không khí bị ô nhiễm nặng với các loại khói bụi
công nghiệp và sinh hoạt. Bụi có thể ngăn chặn nhưng ta rất khó xua đi khói xe
và khói thuốc lá. Một giải pháp được đưa ra là cấy các hạt TiO2 trên giấy và tạo
nên một loại giấy đặc biệt - giấy thông minh tự khử mùi. Khi sử dụng giấy này
tại nơi lưu thông khí như cửa sổ, hệ thống lọc khí ôtô các phân tử mùi và bụi
bẩn sẽ bị giữ lại và phân hủy nhờ ánh sáng thường hoặc ánh sáng tử ngoại. Loại
giấy này cũng có tác dụng diệt các vi khuẩn gây bệnh trong không khí.
1.2.2. Tổng quan về vật liệu Ag/TiO2 và AgCl/Ag/TiO2
1.2.2.1. Vật liệu nano Ag/TiO2 và tính chất quang xúc tác
-18-
Đã có các nghiên cứu tập trung nâng cao tính chất quang xúc tác của Titan dạng anatase hoặc rutile. TiO2 có hoạt tính quang hóa cao, với khả năng
chuyển hóa hoàn toàn các hợp chất hữu cơ thành các hợp chất vô cơ vô hại.
Nhưng nhìn chung, vật liệu Titan đã thể hiện mặt hạn chế trong tính chất của
quang xúc tác là phản ứng quang xúc tác xảy ra dưới ánh sáng tử ngoại - một
phần nhỏ trong ánh sáng Mặt Trời (5%). Trong khi đó ánh sáng nhìn thấy chiếm
43% ánh sáng Mặt Trời [11]. Như vậy chúng ta cần phải nâng cao khả năng
hoạt động quang xúc tác của TiO2, bằng cách làm giảm năng lượng vùng cấm
về vùng ánh sáng nhìn thấy và ngăn ngừa tốc độ tái hợp eclecrton và lỗ trống.
Một trong những phương pháp cải thiện tính quang xúc tác của TiO2 là pha tạp
phi kim hoặc kim loại chuyển tiếp vào mạng tinh thể TiO2 nhằm giảm năng
lượng vùng cấm [31]. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi cho các kim loại
quý pha tạp hoặc lắng đọng trên TiO2 đều giúp nâng cao hoạt tính quang xúc
tác của TiO2 [32]. Ion kim loại quý giúp tăng cường sự tách electron và lỗ trống
bằng cách bẫy điện tử, tăng khả năng hấp thụ ánh sáng nhìn thấy và tăng sự
kích thích điện tử bề mặt qua hiện tượng cộng hưởng plasmon bởi ánh sáng
nhìn thấy.
chuyển tới ion Ag+ trong AgX [9]. Hơn thế nữa, các hạt nano Ag trên vật liệu
AgX còn có thể mở rộng phản ứng quang xúc tác đến vùng ánh sáng nhìn thấy
bởi hiệu ứng bề mặt plasmon.
Gần đây, một số nghiên cứu đã chứng minh rằng AgCl/Ag kết hợp với
TiO2 giúp cải thiện khả năng quang xúc tác ở vùng bức xạ nhìn thấy và thể hiện
sự ổn định trong phản ứng phân hủy các chất hữu cơ độc hại [40,41]. Yang và
các cộng sự đã tổng hợp thành công vật liệu composit Ag/AgCl/TiO2 bằng
phương pháp lắng đọng, kết tủa và chiếu sáng [41]. Nghiên cứu cho thấy, vật
liệu composit này thể hiện hoạt tính quang xúc tác cao. Điều đó được giải thích
-20-
bởi các hiệu ứng cộng hưởng plasmon bề mặt của hạt nano Ag được phân tán
trên bề mặt của các hạt AgCl/TiO2 [36].
Trong điều kiện cho phép, chúng tôi tiến hành chế tạo hai hệ vật liệu tổ
hợp Ag/TiO2 và AgCl/Ag/TiO2 và khảo sát cấu trúc, tính chất quang của chúng
và thử nghiệm phân hủy xanh metylen dưới ánh sáng đèn sợi đốt.
-21-
CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM
2.1. Tổng hợp các vật liệu nano Ag/TiO2 và AgCl/Ag/TiO2
2.1.1. Hóa chất và dụng cụ
Để chế tạo mẫu nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các dụng cụ tạo mẫu
tại Trung tâm Khoa học và Công nghệ nano, Trường ĐHSP Hà Nội, bao gồm:
bếp khuấy từ, cốc thủy tinh chịu nhiệt, tủ sấy thường, lò nung tròn. Hóa chất
được sử dụng là: AgNO3, TTIP, isopropanol, PVA, HCl, TiO2 – P25, nước cất.
2.1.2. Chế tạo vật liệu nano Ag/TiO2
Bảng 2.1. Hệ mẫu nano composit Ag/TiO2
Tỉ lệ nAgNO3 / nTiO2
(%)
1%
2%
3%
4%
Tên mẫu
AT1
AT2
AT3
AT4
Khối lượng
AgNO3 (g)
0,0106
0,02126
0,03189
0,04252
Khối lượng
TiO2-nano (g)
0,5
0,5
0,5
0,5
Quy trình tổng hợp nano composit Ag/TiO2 được trình bày ở hình 2.2.
0,5 g TiO2-P25
100 ml H2O
0,2 g PVA
Khuấy từ 30 phút
Hỗn hợp 1
0,5 ml HCl
Khuấy từ 30 phút
Hỗn hợp 2
50 ml AgNO3
Khuấy từ 6 giờ, tránh ánh sáng
AgCl/TiO2
Chiếu sáng 20 phút
Dung dịch AgCl/Ag/TiO2
Sấy ở 1000C và nung ở
3000C trong 3 giờ
Nano composit AgCl/Ag/TiO2
Lọc rửa ly tâm
Hình 2.3. Sơ đồ tổng hợp composit AgCl/ Ag/TiO2
Đầu tiên cho 0,5 g TiO2 - P25 và 0,2 g PVA vào 100 ml nước cất rồi
khuấy đều trong 30 phút. Tiếp tục, cho 0,5 ml axit HCl vào hỗn hợp trên và
Khối lượng TiO2 - P25 (g)
0,0531
0,06375
0,07437
0,085
0,0956
0,10625
0,5
0,5
0,5
0,5
0,5
0,5
2.2. Thử nghiệm phân hủy xanh metylen (MB)
2.2.1. Xây dựng đường chuẩn xác định nồng độ MB theo cường độ hấp thụ
Pha dung dịch xanh metylen theo các nồng độ khác nhau và tiến hành đo
cường độ hấp thụ ở bước sóng 665 nm, ta thu được kết quả ở bảng 2.3.
Bảng 2.3. Cường độ hấp thụ của MB
Nồng độ MB (ppm)
10
5
2,5
4
2
0
0.0
0.5
1.0
1.5
2.0
Cuong
do thụ
hap (đ.v.t.y)
thu (d.v.t.y)
Độ hấp
-25Hình 2.4. Đường chuẩn để xác
định nồng độ xanh metylen