BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN VŨ PHƯƠNG ANH
PHỐI HỢP GIỮA CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG PHÒNG
CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ TIỀN AN, THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
Năm 2017
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vai trò quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường và xã hội
trong giáo dục học sinh
Quá trình giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện các phẩm chất và năng lực nhằm
giúp học sinh phát triển nhân cách một cách toàn diện là một quá trình lâu dài liên
tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ
xã hội phức tạp. Vì thế, việc giáo dục nói chung và giáo dục học sinh nói riêng luôn
luôn đòi hỏi sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ của của nhà trường với các lực lượng xã
hội.
Ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp các lực lượng giáo dục đã được Bác Hồ
thanh niên chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Chúng ta chỉ cần vào google đánh cụm từ
“tệ nạn trong học đường” thì chỉ cần 0.48 giây đã cho ra kết quả là 1,750,000 để
cho thấy tình hình tệ nạn xã hội trong giới trẻ đáng báo động ở mức độ nào. Còn
theo số liệu được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD- ĐT) đưa ra, trong một năm học,
toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường
học (khoảng 5 vụ/ngày). Và cứ khoảng trên 5.200 học sinh (HS) thì có một vụ
đánh nhau; cứ hơn 11.000 HS thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau; cứ 9
trường thì có một trường có học sinh đánh nhau [42]... Điều này cũng được
nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận đánh giá: “…Tình
trạng bạo lực học đường có những diễn biến phức tạp, vấn đề đạo đức học sinh
cũng có những diễn biến mới”. [48]
Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ tới an ninh trật tự và cuộc sống bình
yên của mọi người trong xã hội. Tệ nạn xã hội là một vấn đề nhức nhối làm suy
thoái đạo đức, nhân cách, gây khó khăn, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội; trái
pháp luật và thuần phong mỹ tục và chúng ta cần phải ngăn chặn, loại bỏ ra khỏi
đời sống xã hội. Có thể khẳng định rằng phòng, chống tệ nạn xã hội đặc biệt là
với giới trẻ là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc gia, phát triển
đất nước ta hiện nay. Đảm bảo an toàn trật tự nói chung phòng chống tệ nạn xã
hội nói riêng là góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.4.Thực trạng TNXH ở phường Tiền An và ở học sinh trường THCS
Tiền An
Hiện nay, trên địa bàn phường Tiền An, tình hình đời sống nhân dân
tương đối ổn định, song vẫn còn tồn tại một số tệ nạn xã hội đang diễn biết hết
4
sức phức tạp như cờ bạc, lô đề diễn ra tương đối phổ biến và đặc biệt là vẫn còn
những hiện tượng nghiện hút,… Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo
dục học sinh. Đối với trường THCS Tiền An cũng có những tình trạng xảy ra
Nếu đề xuất được các biện pháp phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng
xã hội theo hướng phát huy thế mạnh của từng lực lượng xã hội, phù hợp với thực
tiễn giáo dục địa phương trên cơ sở các mối quan hệ cộng tác chặt chẽ, chủ động,
có kế hoạch thì sẽ ngăn chặn được các tệ nạn xã hội tác động đến học sinh của
trường THCS Tiền An và nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trên địa bàn
phường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phối hợp giữa nhà trường và các lực
lượng xã hội trong phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh.
5.2. Khảo sát thực trạng phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội
trong phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh trường THCS Tiền An, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
5.3. Đề xuất các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã
hội trong phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh trường THCS Tiền An, thành
phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; từ đó khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của
các biện pháp.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp dành cho hiệu trưởng trong việc
phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội trong phòng chống tệ nạn xã
hội cho học sinh
- Giới hạn về địa bàn:
Đề tài triển khai nghiên cứu trên địa bàn phường Tiền An thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu lý luận, hệ thống hoá các khái niệm, các lý thuyết
có liên quan đến biện pháp, lực lượng xã hội, phối hợp các lực lượng xã hội, tệ
nạn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội,… để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
trong phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh trường THCS Tiền An, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
7
Chương 3. Biện pháp phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội
trong phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh trường THCS Tiền An, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ CÁC
LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO
HỌC SINH
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến sự phối hợp giữa nhà trường và
các lực lượng xã hội trong giáo dục học sinh
Với quan niệm “Giáo dục phải được thực hiện trên từng mét vuông” tức là
phải thực hiện ở cả trong nhà trường và ngoài xã hội. Chính vì vậy, rất cần sự
phối hợp của các lực lượng giáo dục là nhà trường – gia đình và xã hội trong
giáo dục học sinh. Ý thức được tầm quan trọng đó, nên có rất nhiều nghiên cứu
liên quan đến vấn đề này được tiến hành ở trong và ngoài nước.
Một số tài liệu, công trình tiêu biểu đã đề cập đến vai trò quan trọng của
các lực lượng xã hội trong việc tham gia vào sự nghiệp phát triển nhà trường,
cũng như các hoạt động giáo dục của nhà trường một cách có hiệu quả nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường và kết quả học tập của học sinh.
Tác giả Tangri, S. và Moles trong cuốn sách “Cha mẹ và cộng đồng” đã
Luận án của Marie DeLuci, với đề tài “Nghiên cứu điển hình về sự tham
gia của xã hội vào các trường tiểu học ở ba trường của Ethiopia” đã nêu tầm
quan trọng của cộng đồng tham gia phát triển nhà trường. Đồng thời tác giả đã
chứng minh rằng để huy động được sự tham gia của CMHS và cộng đồng cần có
một tổ chức hay một uỷ ban nào đó đại diện cho cộng đồng hay CMHS để cải
tiến nhà trường, đặc biệt rất cần sự nỗ lực phối hợp giữa Nhà nước – CMHS và
các tổ chức phi chính phủ trong việc cùng quan tâm đến nhà trường cũng như
con em họ [52].
Qua nghiên cứu các nghiên cứu về sự tham gia của các lực lượng xã hội
vào giáo dục nhà trường trên thế giới, có thể thấy, các công trình đều khẳng định
cần huy động sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động giáo dục của nhà
trường. Đồng thời có thể rút ra một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt động có sự
tham gia của các lực lượng xã hội, cộng đồng vào hoạt động giáo dục của nhà
trường. Trong đó nhà trường vẫn phải giữ vai trò chủ trì, phát huy mạnh mẽ vai
trò là đầu mối huy động CMHS và các lực lượng xã hội tham gia quá trình GD,
10
lập kế hoạch hoạt động, ra quyết định và kiểm tra đánh giá…
Tại Việt Nam, sự tham gia của các lực lượng xã hội với giáo dục nhà
trường đã được Đảng và Nhà nước quy định trong các văn kiện, nghị quyết….
Trong các tư liệu nghiên cứu đề cập rất nhiều sự cần thiết phối hợp giữa các
lực lượng trong cộng đồng với sự nghiệp giáo dục. Nhiều hội thảo tập trung bàn
về các vấn đề lý luận và các quan điểm mới và sự phối hợp của các tổ chức xã
hội, cộng đồng trong giáo dục nhà trường. Một số hội thảo đi sâu vào phân tích
các yếu tố quan trọng để thực hiện thành công sự phối hợp các lực lượng trong
giáo dục.
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tham gia của cha mẹ học
sinh, cộng đồng của các tác giả khác đã tổng hợp những quan điểm lý luận và
thực tiễn về vai trò và nhiệm vụ của cộng đồng, sự phối hợp của Nhà trường Gia đình – cộng đồng trong giáo dục học sinh:
hoạt động tham gia của các lực lượng xã hội.
1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến sự phối hợp giữa nhà trường và
các lực lượng xã hội trong phòng chống tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là một căn bệnh làm cản bước tiến của xã hội loài người.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia, tệ nạn xã hội không ít thì nhiều đã gây
ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Đặc biêt, vào những năm cuối thế kỷ XX và
đầu thế kỷ XXI, khi nền kinh tế thị trường phát triển, CNTT bùng nổ cùng xu thế
hội nhập và toàn cầu hóa thì TNXH càng có cơ hội phát sinh, phát triển và gây tác
hại không nhỏ về kinh tế, chính trị, an ninh, sức khỏe, đạo đức, lối sống đối với xã
hội.
Mỗi loại TNXH đều có quy mô và mức độ ảnh hưởng khác nhau đến xã
hội. Một số TNXH có xu hướng giảm dần và bị loại trừ khỏi đời sống xã hội.
Song bên cạnh đó, một số TNXH khác trước đây ít xuất hiện, đã được khống
chế, kiểm soát nay lại phát triển mạnh mẽ và ngày càng phổ biến như Ma túy, cờ
bạc, trộm cắp, bạo lực học đường, hút thuốc lá, quan hệ tình dụng tuổi vị thành
niên,…
Do đó, vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội đã trở thành mối quan tâm của
các quốc gia trên thế giới. Liên hiệp quốc, Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế
INTERPOL, Tổ chức Y tế thế giới WHO, Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
UNICEF, nhà xã hội người Pháp Edukheim, A. I. Đôngôva và các tổ chức quốc
12
tế đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế và xuất bản nhiều ấn phẩm về phòng chống
tội phạm trong đó có nêu vấn đề về phối hợp các lực lượng xã hội trong phòng
chống tội phạm.
Ở Việt Nam, các cơ quan Nhà nước, các nhà nghiên cứu của Bộ Công an,
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân
văn quốc gia,… đã nghiên cứu về TNXH, tội phạm dưới nhiều góc độ, khía
cạnh khác nhau. Trong số này nổi bật là các công trình nghiên cứu như Đề tài
* Khái niệm:
Khái niệm tệ nạn xã hội (TNXH) cho đến nay có nhiều định nghĩa khác
nhau, nhưng tựu chung các tác giá đều cho rằng: Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã
hội tiêu cực, có tính phổ biến, biểu hiện bằng những hành vi sai lệch chuẩn mực
xã hội, vi phạm đạo đức, pháp luật hiện hành, phá vỡ thuần phong mỹ tục, lối
sống lành mạnh, tiến bộ trong xã hội và gây hậu quả nghiêm trọng cho các cá
nhân, gia đình và xã hội.
Dưới góc độ Khoa học Quản lí, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Yêm, Phan
Đình Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên cho rằng: “TNXH là một hiện tượng xã hội
tiêu cực, có tính chất lịch sử cụ thể biểu hiện bằng những hành vi vi phạm pháp
luật và sai lệch các chuẩn mực xã hội, có tính lây lan, phổ biến gây nguy hiểm
cho xã hội và được quy định trong pháp luật hình sự, pháp luật hành chính và
các chuẩn mực đạo đức xã hội [47]. Cũng dưới góc độ này, tác giả Đảm Hữu
Đắc trong báo cáo chuyên đề: “Vấn đề tệ nạn xã hội trong thời kỳ đổi mới” cho
rằng “TNXH là một hiện tượng xã hội, thể hiện ra những hành vi sai lệch chuẩn
mực xã hội có tính phổ biến bao gồm các hành vi có tính nguyên tắc về lối sống,
truyền thống văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục và những quy tắc được thể
chế hóa bằng pháp luật, gây ra hậu quả nghiệm trọng cho đời sống kinh tế, văn
hóa, đạo đức và xã hội của nhân dân”.
Dưới góc độ đạo đức và giáo dục học, trong tài liệu hướng dẫn chương
trình phòng chống TNXH của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhóm tác giả Mai Huy
Bổng, Nguyễn Văn Sơn, Lê Trung Hiếu cho rằng: “TNXH là một hiện tượng xã
hội tiêu cực, nó liên quan tới các đặc điểm của xã hội, tâm lý, sinh lý, đạo đức,
kinh tế, văn hóa của mỗi cá nhân và gia đình”.
Nhóm tác giả Lê Ngọc Hùng, Ngô Thị Ngọc Anh cho rằng TNXH bao
gồm tất cả những hành vi vi phạm pháp luật, kể cả pháp luật hình sự, những hiện
14
tượng xã hội tiêu cực, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây ảnh hưởng
+ Tệ nạn xã hội thường có quan hệ chặt chẽ với tội phạm hình sự, các hiện
tượng tiêu cực xã hội khác và có sự chuyển hoá lẫn nhau.
+ Địa bàn tập trung hoạt động thường là những nơi tập trung đông người,
các khu công nghiệp, du lịch những nơi trình độ của quần chúng nhân dân còn
lạc hậu thấp kém, và công tác quản lí xã hội còn nhiều sơ hở thiếu sót.
1.2.1.2. Các loại tệ nạn xã hội
- Tệ nạn ma túy: là khái niệm dùng để chỉ tình trạng nghiện lệ thuộc vào
ma túy, các tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy.
Là một loại tệ nạn xã hội mà nạn nhân có thói quen sử dụng chất ma tuý
dẫn đến tình trạng lệ thuộc vào ma tuý khó có thể bỏ được. Nghiện ma tuý gây
hậu quả lớn cho bản thân người nghiện, gia đình và cho xã hội. Hình thức sử
dụng ma tuý chủ yếu là hút, hít, tiêm chích thuốc phiện, hêrôin. Hiện nay, hình
thức sử dụng ma tuý tổng hợp, thuốc lắc đang có xu hướng phát triển mạnh
trong thanh niên và học sinh, sinh viên.
Nguyên nhân của tình trạng nghiện ma túy rất đa dạng: do hậu quả của lối
sống đua đòi, lười lao động, ăn chơi với nhu cầu khoái cảm cao chọn ma tuý để
mua vui; do gia đình có hoàn cảnh đặc biệt, bị lôi kéo, rủ rê, hoặc bị khống
chế…
- Tệ nạn mại dâm: là một hiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện tình trạng
các cá nhân dùng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân và tiền bạc, lợi ích vật
chất hay các lợi ích khác để trao đổi với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục
(đối với người mua dâm) hoặc nhu cầu về tiền bạc, lợi ích vật chất (đối với
người bán dâm).
Tệ nạn mại dâm bao gồm các hành vi: bán dâm, mua dâm, chứa mại dâm,
tổ chức hoạt động mại dâm, cưỡng bức bán dâm, môi giới mại dâm, bảo kê mại
dâm và các hành vi khác liên quan đến tệ nạn mại dâm. Căn cứ vào tính chất của
các hành vi, đối tượng tham gia tệ nạn mại dâm bao gồm các loại đối tượng chủ
yếu: người bán dâm, người mua dâm, người chứa mại dâm, người môi giới mại
Tệ nạn cờ bạc có quan hệ chặt chẽ với tội phạm hình sự và các hiện tượng
tiêu cực khác như mại dâm, ma tuý; gây ra hậu quả tác hại lớn cho đời sống xã
hội và gây khó khăn cho công tác giữ gìn trật tự xã hội
- Tệ nạn mê tín dị đoan
17
Mê tín dị đoan là tệ nạn xã hội bao gồm các hành vi biểu hiện thái quá
lòng tin mù quáng vào những điều huyền bí không có thật, từ đó có những suy
đoán khác thường, dẫn đến cách ứng xử mang tính chất cuồng tín, hành động
trái với những chuẩn mực của xã hội, gây hậu quả xấu đến sức khoẻ, đời sống
vật chất, tinh thần của người dân, đến an ninh trật tự.
Đặc điểm của tệ nạn mê tín dị đoan:
Là một biểu hiện của các hủ tục lạc hậu, tàn dư của xã hội cũ còn sót lại
trong xã hội hiện nay; nó kích thích và phù hợp với tâm lí của một bộ phận
người trong xã hội có trình độ nhận thức thấp kém.
Tệ nạn mê tín dị đoan được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và có
xu hướng lây lan phát triển nhanh nhất là ở những vùng sâu, nhận thức của quần
chúng còn lạc hậu. Đối tượng tham gia tệ nạn mê tín dị đoan phần lớn là phụ nữ,
những người có trình độ nhận thức thấp kém, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều trắc
trở, cuộc sống éo le...ngoài ra còn có một số cán bộ công nhân viên chức, một số
có học thức cao và một bộ phận nhỏ học sinh, sinh viên cũng mắc phải tệ nạn
này.
Tệ nạn mê tín dị đoan hiện đang được các đối tượng phản động và các thế
lực phản cách mạng triệt để lợi dụng để chống phá cách mạng Việt nam, nhất là
ở vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc ít người trình độ nhận thức còn lạc hậu, thấp
kém.
Tệ nạn mê tín dị đoan gây nên những hậu quả xấu cho xã hội như làm tan
vỡ hạnh phúc nhiều gia đình, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ con người,
nguồn lực, làm biến động ổn định trật tự xã hội, chi phí xã hội tăng do phải giải
quyết các vấn đề xã hội phức tạp do TNXH gây ra [21].
Cụ thể:
Tác hại đối với chính bản thân người tham gia các tệ nạn xã hội đó: Các tệ
nạn xã hội có thể gây những tổn thương nghiêm trọng đối với sức khỏe của
chính bản thân người tham gia (gây các bệnh về hệ hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần
kinh đối với người nghiện ma túy, các bệnh nội ngoại khoa đặv biệt là
HIV/AIDS …); làm tha hóa về nhân cách, rối loạn về hành vi, rơi vào lối sống
buông thả, dễ vi phạm pháp luật và phạm tội.
Tác hại đối với gia đình: Đối với các gia đình có người thân tham gia các
tệ nạn xã hội sẽ có thể bị khủng hoảng về mặt tài chính cũng như tinh thần. Ví
19
dụ như tệ nạn cờ bạc sẽ làm phát sinh các mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân –
gia đình của những người nghiện cờ bạc, gây sứt mẻ tình cảm, đổ vỡ niềm tin
giữa vợ chồng và có thể dẫn tới tình trạng bạo lực gia đình.
Tác hại đối với cộng đồng xã hội: các tệ nạn xã hội là những hiện tượng
gây bức xúc, bất bình trong dư luận xã hội, ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội;
gây tâm lý hoang mang, lo lắng, sợ hãi cho những người dân lương thiện.
Nguyên nhân chủ yếu gây ra tệ nạn xã hội:
Theo các nhà nghiên cứu của Việt Nam về tệ nạn xã hội thuộc các Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công An, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng
sự phát triển nhanh của các loại hình TNXH là do một số nguyên nhân chủ yếu
sau:
- Sự biến động sâu sắc trong đời sống kinh tế xã hội khi nước ta chuyền từ
nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường thì bên cạnh những thành tựu,
những kết quả tích cực cũng kéo theo những mặt trái của nó như tạo ra sự phân
hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Cơ chế kinh tế thị trường đã tạo ra những mức
thu nhập khác nhau trong dân cư, xuất hiện những nhu cầu mới trong tất cả đời
- Do sự phát triển của internet cũng là một trong những nguyên nhân dẫn
tới sự phát triển của các tệ nạn xã hội với những mặt trái của nó như: web đen,
game bạo lực... Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần học sinh, qua đó
dẫn đến tình trạng học sinh dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội.
1.2.2. Phòng chống tệ nạn xã hội
1.2.2.1. Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và các quy định của
pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội
Công tác phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội được Đảng và nhà nước
ta xác định phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, các tổ chức Đảng, chính
quyền, các ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương phải xem đây
là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hàng đầu. Tính kiên quyết thể hiện ở
chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết, nghị định, pháp lệnh… và các văn
bản pháp luật khác về giải quyết các vấn đề tệ nạn xã hội, ví dụ như:
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “tập trung
giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc (suy thoái đạo đức, lối sống, tệ nạn xã
hội, trật tự kỷ cương xã hội)”.
21
- Chỉ thị số 48 ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về “tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới”.
Các nghị quyết, chỉ thị đều nhấn mạnh các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến cơ
sở phải đặt công tác lãnh đạo, chỉ đạo phòng chống tệ nạn xã hội là một nhiệm
vụ cần thiết, cấp bách, thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để phòng ngừa và khắc
phục hậu quả tệ nạn xã hội, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn xã hội, xử lý
nghiêm khắc cán bộ, Đảng viên vi phạm.
Những năm qua Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản
pháp quy về phòng chống tệ nạn xã hội; chỉ đạo liên ngành với những biện
pháp mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tệ nạn xã hội nhằm mục tiêu “ngăn
dân tộc.
+ Phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh những hành vi hoạt đông tệ nạn
xã hội góp phần giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
1.2.2.3. Đặc điểm của phòng chống tệ nạn xã hội
- Phòng ngừa là cơ bản, lồng ghép và kết hợp chặt chẽ công tác phòng
chống tệ nạn xã hội với các chương trình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội ở
địa phương.
Đây là phương hướng cơ bản nhất, vừa thể hiện tính ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa, mang ý nghĩa kinh tế, vừa phù hợp với đạo đức, phong tục tập
quán của dân tộc.
Để có thể giải quyết, bài trừ triệt để tệ nạn xã hội đòi hỏi phải khắc phục
từng bước những yếu kém, tồn tại của nền kinh tế xã hội, phải thực hiện đồng bộ
các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, lồng ghép, gắn kết công tác
phòng chống tệ nạn xã hội với các chương trình phát triển kinh tế - văn hoá - xã
hội ở địa phương như chính sách về lao động, việc làm, nâng cao đời sống vật
chất cho nhân dân, các chính sách về văn hoá, giáo dục nhằm điều chỉnh việc
xây dựng các chuẩn mực xã hội và định hướng giá trị xã hội lành mạnh, phát
huy và kế thừa các phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp,... Đẩy mạnh chương
trình “xoá đói giảm nghèo”, “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư” nhằm từng bước ngăn chặn, loại trừ, xoá bỏ tệ nạn xã hội trên địa
bàn.
23
- Công tác phòng chống tệ nạn xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội,
phải được triển khai đồng bộ ở các cấp, các ngành, trong đó lấy phòng chống từ
gia đình, cơ quan, đơn vị, trường học làm cơ sở.
Trong công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội thì Chính quyền, các
cơ quan, tổ chức, đoàn thể ở cơ sở và gia đình giữ một vai trò rất quan trọng.
biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức, văn hóa…
- Thứ ba, phòng ngừa xã hội là phương hướng quan trọng hàng đầu trong
phòng chống TNXH. Phòng, chống TNXH phải giải quyết tốt hai mặt: phòng và
chống, phòng ngừa không để TNXH xảy ra và chống là đấu tranh xử lý TNXH
theo quy định của pháp luật. Phòng ngừa cần giáo dục nâng cao trình độ dân trí
và nhận thức cho người dân đi đôi với tuyên truyền sâu rộng và nâng cao chất
lượng hệ thống giáo dục. Hướng cho mọi người có nếp sống văn minh, lịch sự,
hành vi giao tiếp cho văn hóa, hướng tới những giá trị cao cả của cuộc sống. Chỉ
khi nào người dẫn hướng tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ, nhận thức được
đúng giá trị chân thực của cuộc sống, của truyền thống văn hóa tốt đẹp thì lúc đó
TNXH sẽ giảm.
- Thứ tư, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống
TNXH và tổ chức thực hiện nghiêm minh theo pháp luật.
1.3. Học sinh trường trung học cơ sở
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở
Về tâm lí:
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những trẻ có độ tuổi từ 12 đến 15, đang
học từ lớp 6 đến lớp 9. Đây là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em lên người lớn với
những biến đổi sinh lí lớn nhất trong cuộc đời của mỗi con người, từ đó kéo theo
những thay đổi nhất định trong sự phát triển tâm lí. Thuật ngữ tâm lí học gọi lứa
tuổi này là “tuổi thiếu niên”, còn từ góc độ sinh lí học, đây là giai đoạn trẻ bước
vào lứa tuổi dậy thì, mà cụ thể là giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì chính thức.
Nội dung cơ bản của sự khác biệt ở lứa tuổi học sinh THCS với các học sinh ở
lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về cơ thể, sự phát dục và sự
hình thành những phẩm chất mới về các mặt trí tuệ, đạo đức, đồng thời xuất hiện
những yếu tố mới của sự trưởng thành. Lứa tuổi này được đặc trưng bởi tính
chất đối lập, mâu thuẫn, đối cực của các yếu tố phát triển. Đó là lứa tuổi mà sự
cân bằng cơ thể của một đứa trẻ bị phá vỡ trong khi chưa tìm thấy sự cân bằng
25