LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Công tác xã hội trong phòng
chống tệ nạn ma túy cho học sinh trường THPT Phương Nam, quận
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong bài khóa luận là trung thực, đều phục vụ
cho mục đích nghiên cứu đề tài và xuất phát từ tình hình thực tế của địa
phương tại thời điểm khảo sát.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quỳnh Anh
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo nhà trường và quý thầy cô
giáo khoa Công tác xã hội - trường Đại học Lao Động xã hội đã tận tình chỉ
bảo và truyền đạt những kiến thức có giá trị cho tôi trong suốt quá trình vừa
qua. Tất cả là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận và là hành trang
quý giá để tôi có thể bước tiếp trên con đường học tập và làm việc sau này.
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Công tác xã hội
trong phòng chống tệ nạn ma túy cho học sinh trường THPT Phương
Nam, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội”, tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành đến cô giáo - TS. Nguyễn Thị Hương,
cô là người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp hôm nay.
Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các cán bộ giáo viên
của trường THPT Phương Nam, đặc biệt là thầy Phó hiệu trưởng Trần Văn
Thái và cô giáo Trần Thị Mùi đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cũng như hỗ trợ
tôi trong quá trình cung cấp thông tin và điều tra thực tế. Bên cạnh đó, tôi
cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể các bạn học sinh
trường THPT Phương Nam đã hợp tác tích cực để tôi có thể hoàn thiện bài
Bảng 2.2. Nhận thức của học sinh về khái niệm ma túy.
43
Bảng 2.3. Nhận thức của học sinh về các chất ma túy.
Bảng 2.6. Các hoạt động công tác xã hội phòng chống tệ
nạn ma túy do nhà trường tổ chức mà học sinh đã tham gia.
Bảng 2.7. Tầm quan trọng của các nội dung phòng chống tệ
nạn ma túy đối với học sinh.
Bảng 2.8. Mức độ ảnh hưởng của các hình thức phòng
chống tệ nạn ma túy đối với học sinh.
Bảng 2.9. Mức độ hứng thú của học sinh về các hình thức
phòng chống tệ nạn ma túy.
22
49
51
59
62
64
66
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
1
2
3
4
TNXH
UBND
Chất gây nghiện
Công tác xã hội
Phòng chống tệ nạn ma túy
Thể dục thể thao
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Tệ nạn xã hội
Ủy ban nhân dân
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài.
Ma túy gây tác hại nhiều về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và
đã trở thành hiểm họa chung của nhân loại, không một quốc gia, dân tộc
nào thoát ra ngoài vòng xoay khủng khiếp của nó. Ma túy đang làm gia
tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nhân lực, tài chính, hủy
diệt những tiềm năng quí báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho sự
phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người. Ma
túy đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vui gia
đình, gây xói mòn đạo lý, kinh tế, xã hội… nghiêm trọng hơn ma túy còn là
tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS phát triển… Theo số
liệu thống kê của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và tệ nạn ma túy,
nguyên nhân hàng đầu, đó chính là do sự nhận thức của các em về ma túy
và tác hại của nó còn thấp và chưa đầy đủ. Vì vậy CTXH trong phòng
chống tệ nạn ma túy cho học sinh, sinh viên về ma túy hiện nay là rất quan
trọng. Công tác tuyên truyền, thay đổi nhận thức, từ đó tập trung bổ sung
những kiến thức còn thiếu cho các em học sinh cũng như những kỹ năng
cần thiết để các em có thể tự bảo vệ mình trước hiểm họa ma túy học
đường là điều vô cùng cần thiết.
Trên địa bàn quận Hoàng Mai hiện có gần 1.500 người nghiện ma túy,
trong đó có mặt tại cộng đồng là 889 người. Phân tích theo độ tuổi, số
người nghiện ma túy dưới 30 tuổi chiếm trên 30%. Quận Hoàng Mai là địa
bàn trọng điểm về tội phạm ma túy, với những diễn biến hết sức phức tạp,
phương thức thủ đoạn hoạt động của các đối tượng ngày càng tinh vi, manh
động, liều lĩnh. Từ thực tế đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho
học sinh THPT là điều hết sức quan trọng
8
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
nghiên cứu “Công tác xã hội trong việc phòng chống tệ nạn ma túy cho
học sinh trường THPT Phương Nam, quận Hoàng Mai, thành phố Hà
Nội” để phần nào đánh giá được nhận thức của các em học sinh về ma túy
hiện nay cũng như mong muốn chỉ ra được những mặt tích cực và những
mặt còn hạn chế của các hoạt động truyền thông trong trường học. Từ đó có
được những hướng giải pháp mới nhằm bổ sung nâng cao hiểu biết, kỹ
năng liên quan đến ma túy cho các em học sinh cũng như có những đề xuất
giúp cho hoạt động truyền thông trong trường học đạt được hiệu quả cao
nhất.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
2.1.
Những nghiên cứu trên thế giới.
Trong khi Mỹ la tinh là nguồn cung cấp chủ yếu cocaine cho thị trường
rộng lớn ở Bắc mỹ và Tây âu – 70%, thì trong khi đó Tam giác vàng ở
Đông nam á là: “Trung tâm kinh tế thuốc phiện” lớn nhất thế giới. Sản xuất
2.000 tấn/năm 3.(5,16)
Theo báo cáo Tình hình ma túy Toàn cầu ngày 26/06/2015 của Cơ
quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), tỉ
lệ người sử dụng ma túy trên toàn thế giới vẫn không có nhiều xáo trộn.
Ước tính có khoảng 246 triệu người, tương đương với khoảng hơn 5% dân
số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã từng sử dụng ma túy trái phép
trong năm 2013. Số người có vấn đề về sử dụng ma túy chiếm khoảng 27
triệu người, gần một nửa trong số họ là người tiêm chích ma túy (PWID).
Có khoảng 1,65 triệu người tiêm chích ma túy đang phải sống chung với
HIV trong năm 2013. Nam giới sử dụng cần sa, cocain và anphetamin
nhiều gấp ba lần nữ giới, trong khi nữ giới có xu hướng lạm dụng thuốc
giảm đau có chứa opiods và thuốc an thần.
2.2.
Những nghiên cứu ở trong nước.
Năm 1995, Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã
chỉ đạo xây dựng: “Tổng luận phân tích về phòng chống lạm dụng ma túy
trong thanh niên và những giải pháp của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh tham gia phòng chống ma túy trong thanh niên”. Đây là một đề
10
tài rộng, trong đó tập trung điều tra, khảo sát tình hình lạm dụng ma tuý
của thanh niên cả nước, kết hợp nghiên cứu, phân tích các báo cáo số liệu
của các tỉnh Đoàn để xây dựng lên thực trạng sử dụng, lạm dụng ma tuý
trong thanh niên. Trên cơ sở đó đánh giá công tác phòng, chống ma tuý
vai trò của nhà trường và tổ chức Đoàn, chưa đề xuất được nhóm giải pháp
có tính chiều sâu như công tác quản lý sinh viên giữa nhà trường, gia đình
và nơi cư trú, tạm trú; chương trình sinh viên tham gia các hoạt động công
tác xã hội, tình nguyện, công tác hướng nghiệp cho sinh viên...
Cùng đối tượng như vậy, năm 2008, Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội
với Đề tài khoa học: “Nghiên cứu các biện pháp giáo dục phòng chống ma
túy trong các trường học”. Đề tài đã chỉ ra được thực trạng của công tác
giáo dục trong các trường trên địa bàn Hà Nội, đặc biệt với các nội dung
mang tính giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Trong đó nhấn mạnh đến
cải cách chương trình học, đưa các nội dung về phòng, chống ma tuý và
chương trình học phổ thông. Đây là một giải pháp quan trọng nhằm nâng
cao nhận thức cho các nhà giáo dục và học sinh, góp phần phòng ngừa tệ
nạn ma tuý xảy ra trong các trường học.
Tháng 11 - 12/2015, Viện nghiên cứu Tâm lý người sử dụng ma túy
(PSD) phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội thực hiện
chương trình truyền thông: “Vì một học đường không ma túy” cho hơn 5
nghìn học sinh, hàng nghìn đại diện phụ huynh học sinh và giáo viên tại
một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội (gồm các trường Phan Đình
Phùng (quận Ba Đình); Trần Nhân Tông (quận Hai Bà Trưng); Đại Mỗ
(quận Nam Từ Liêm), Trần Hưng Đạo (quận Thanh Xuân) và Lê Quý Đôn
(quận Hà Đông). Mục đích của chương trình truyền thông nhằm nâng cao
kiến thức và rèn luyện kỹ năng PCMT cho học sinh, phụ huynh và giáo
viên trên địa bàn thành phố Hà Nội. Sau hoạt động truyền thông, nhóm
nghiên cứu Viện PSD tiến hành phát phiếu khảo sát thu thập thông tin
12
nhằm tìm hiểu kiến thức, kỹ năng PCMT của các em học sinh, đồng thời
đánh giá nhu cầu, hiệu quả của hoạt động truyền thông trên. Với mỗi phần
truyền thông cũng như mỗi công cụ, nội dung của buổi truyền thông được
thành phố Hà Nội.
Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị về các hoạt động công tác xã hội
trong phòng chống tệ nạn ma túy cho học sinh trong thời gian tới.
13
5.
-
Khách thể nghiên cứu.
Điều tra bảng hỏi 34 em học sinh khối 10 và 34 em học sinh khối 12.
Phỏng vấn sâu 3 cán bộ phụ trách công tác phòng chống tệ nạn ma túy
tại trường THPT Phương Nam.
6.
Đối tượng nghiên cứu.
Công tác xã hội trong việc phòng chống tệ nạn ma túy cho học sinh
THPT.
7.
-
Phạm vi nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác xã hội trong phòng chống
tệ nạn ma túy cho các em học sinh thông qua các hoạt động tuyên truyền
từ đó làm rõ nhận thức, thái độ của các em học sinh về tệ nạn ma túy.
-
tác phòng chống tệ nạn ma túy cho các em học sinh trường THPT Dân lập
Phương Nam và nhận thức, thái độ của các em về ma túy. Việc nghiên cứu
bảng hỏi giúp cho việc thu thập thông tin được đầy đủ hơn với nhiều chủ
thể cùng một thời điểm, đồng thời việc thu thập thông tin cũng dễ dàng
hơn.
8.3.
Phương pháp quan sát.
Quan sát việc tổ chức các hoạt động ở trường THPT Phương Nam và
Quan sát những biểu hiện hành vi của học sinh về thái độ đối với các vấn đề về tệ
nạn ma túy thông qua các giờ ra chơi, ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp trong và ngoài
trường.
8.4.
Phương pháp phỏng vấn sâu.
Phỏng vấn sâu 4 cán bộ phụ trách triển khai công tác tuyên truyền
phòng chống tệ nạn ma túy tại trường nhằm tìm hiểu rõ hơn về thực trạng
và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, đưa ra được
những giải pháp, nguyện vọng và mong muốn của các cán bộ để cải thiện
công tác tuyên truyền phòng chống tệ nạn ma túy một cách hiệu quả hơn.
8.5.
Phương pháp xử lý số liệu.
Xử lý và phân tích số liệu hay dữ liệu nghiên cứu là một trong các
bước cơ bản của một nghiên cứu, bao gồm xác định vấn đề nghiên cứu; thu
thập số liệu; xử lý số liệu; phân tích số liệu và báo cáo kết quả. Xác định rõ
và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ. CTXH tồn
tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá
nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải
thiện cuộc sống.
Theo Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004):
Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng . Nó không
phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của
hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề
của mình.
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị
Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc
đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con
người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc
sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về
hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm
tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các
vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng
tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây
dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.
17
Tóm lại, CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá
nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính
sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng
giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã
vậy, dù hoạt động trợ giúp của Nhân viên công tác xã hội đối với đối tượng
nào thì cũng đi đến đích cuối cùng là tạo môi trường giáo dục thuận lợi
nhất cho học sinh. Có thể thấy rằng dù hoạt động trợ giúp đó là gì nhân
viên công tác xã hội cũng cần kết nối các đối tượng kể trên để hỗ trợ nhau
giải quyết những vấn đề liên quan trong trường học.
Tóm lại, công tác xã hội trong trường học hay còn gọi là công tác xã
hội học đường là một lĩnh vực trong công tác xã hội được thực hành trong
trường học để giúp đỡ học sinh, giáo viên hay cán bộ quản lý nhà trường
tăng cường hoặc phục hồi năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và
tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu trong dạy
và học.
1.1.3.
Khái niệm học sinh trung học phổ thông.
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể.
Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa,
cân đối. Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng
thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn. Các em
có thể làm những công việc nặng của người lớn. Hoạt động trí tuệ của các
em có thể phát triển tới mức cao. Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não
tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp
hơn. Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển
mạnh. Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng
giống như ở tuổi thiếu niên. Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải
chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống
của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động,
vui chơi…).
19
công thức hóa học như chất gây nghiện. Cùng chất hóa học đó, nếu được
20
tổng hợp trong cơ thể sẽ được gọi là chất hóa nội sinh, song nếu được đưa
từ ngoài vào cơ thể sẽ được gọi là chất gây nghiện.
Một số chất gây nghiên được con người sử dụng với mục đích tiêu
khiển. Những chất hóa học này tác động tới hệ thần kinh trung ương, và
người ta sử dụng những chất này khi thấy chúng có lợi cho nhận thức, hành
vi hay nhân cách của họ.
Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới, chất gây nghiện là “chất hóa học sau
khi được hấp thu sẽ làm thay đổi chức năng thực thể và tâm lý của người
sử dụng”.
Theo Luật phòng, chống ma túy 23/2000/QH: Chất gây nghiện là chất
kích thích hoặc ức chế thần kinh dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử
dụng. (7,11)
Tóm lại, chất gây nghiện ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm
cả chất gây nghiện được sử dụng hợp pháp như thuốc gây nghiện trong
điều trị, như rượu bia, thuốc lá, trà, cà phê, và bao gồm cả chất gây nghiện
bất hợp pháp hay còn gọi là ma túy. Chất gây nghiện khi được hấp thu vào
cơ thể ở một liều lượng đủ lớn sẽ làm thay đổi chức năng của cơ thể, làm
thay đổi hành vi, ảnh hưởng trực tiếp tới tâm trạng và nhận thức, suy nghĩ.
1.1.5.
Khái niệm ma túy.
Ma túy theo gốc Hán Việt có nghĩa là “Làm mê mẩn”, trước đây
thường để chỉ các chất có nguồn gốc từ cây thuốc phiện, giúp người sử
dụng giảm đau, an thần. Ngày nay, dùng để chỉ tất cả các hợp chất tự nhiên
và tổng hợp có khả năng gây nghiện.
trật tự của đất nước.
Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức
khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia
đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh
quốc gia.
Tính chất xã hội của tệ nạn ma túy ngày càng trở nên phức tạp, đã lôi
kéo nhiều người thuộc các thành phần xã hội tham gia trong việc mua bán,
22
vận chuyển, tàng trữ và sử dụng ma túy.... Đối tượng nghiện ma túy không
chỉ là con em các gia đình gặp khó khăn về cuộc sống, trẻ em lang thang cơ
nhỡ, mà ngay cả trong các gia đình giàu có do các bậc cha mẹ buông lỏng
việc quản lý, giáo dục con em, chiều chuộng, dung túng đã vô tình tạo điều
kiện cho con em ăn chơi dẫn đến nghiện ngập ma túy. Rất nhiều hậu quả
đau lòng do tệ nạn ma túy gây nên mà các gia đình có người nghiện, người
phạm tội ma túy phải gánh chịu.
Có thể nói, tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma
túy và các hành vi trái phép khác về ma túy.Tệ nạn ma túy là hiểm họa gây
ra nhiều tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây tổn hại lớn về
kinh tế, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống đạo đức của
dân tộc.
•
Tình hình sử dụng ma túy hiện nay:
Tình hình sử dụng ma túy vẫn diễn biến phức tạp bất chấp các nỗ lực
kiểm soát ma túy. Theo Báo cáo về tình hình ma túy thế giới năm 2012 của
Chương trình kiểm soát tội phạm và ma túy của Liên hiệp quốc (UNODC),
1.1.7.
Khái niệm công tác xã hội trong phòng chống tệ nạn ma túy.
Phòng, chống ma tuý là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ
nạn ma tuý và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý
Căn cứ vào chương trình quốc gia về phòng chống ma túy, chúng ta có
thể hiểu: Công tác phòng chống ma túy bao gồm những hoạt động được
tiến hành nhằm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những kiến thức về ma
túy, tác hại của ma túy; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời
các hành vi và hoạt động bất hợp pháp về ma túy và kiểm soát các hoạt
động hợp pháp liên quan nhằm phát huy tính chủ động của mỗi người dân,
tự nguyện cùng với cộng đồng tham gia phòng chống ma túy.
Tóm lại, công tác xã hội trong phòng chống tệ nạn ma túy bao gồm
tất cả các hoạt động công tác xã hội có liên quan của các cơ quan nhà
nước, của các tổ chức xã hội, của chính quyền địa phương và mọi người
24
dân… nhằm ngăn chặn, phòng ngừa, tiến tới đẩy lùi ma túy ra khỏi cộng
đồng.
Các hoạt động trong phòng chống tệ nạn ma túy:
•
Tuyên truyền rộng rãi để toàn dân, trước hết là thanh niên thấy được
hậu quả tai hại của tệ nạn ma túy, âm mưu, thủ đoạn và phương thức hoạt
động của bọn buôn lậu, sản xuất, tổ chức hút hít, tiêm chích ma tuý. Giáo
dục ý thức cảnh giác đối với hoạt động của bọn phản động và buôn lậu
nhằm kích động, chia rẻ nói xấu xuyên tác các chủ trương của Đảng và Nhà