VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN TUẤN KIỆT
QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI BÌNH ĐỊNH,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TRƯỜNG GIANG
HÀ NỘI, 2017
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với người khuyết tật từ thực tiễn Trung
tâm Công tác xã hội và Bảo trợ xã hội Bình Định, tỉnh Bình” là hoàn toàn trung
thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI
VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT ............................................................................ 10
1.1. Lý luận về khuyết tật và người khuyết tật............................................... 10
1.2. Lý luận về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật ........................ 17
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người khuyết tật 27
1.4. Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật .............. 30
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI
KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
BÌNH ĐỊNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH ...................................................................... 33
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu ........................................... 33
2.2. Thực trạng hoạt động quản lý trường hợp đối với người khuyết tật....... 38
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người
khuyết tật ......................................................................................................... 57
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC
XÃ HỘI VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI BÌNH ĐỊNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH ................... 66
3.1. Biện pháp về chính sách .......................................................................... 66
3.2. Biện pháp giáo dục - đào tạo nâng cao nhận thức .................................. 67
3.3. Biện pháp tuyên truyền trong cộng đồng ................................................ 70
3.4. Phương thức thực hiện các hoạt động quản lý trường hợp đối với người
khuyết tật ......................................................................................................... 73
3.5. Biện pháp xây dựng các mô hình dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật ......... 74
NKT
Người khuyết tật
Nxb
Nhà xuất bản
NV
Nhân viên
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
NVQLTH
Nhân viên quản lý trường hợp
PHCN
Phục hồi chức năng
QLTH
Quản lý trường hợp
TEKT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow............................................. 15
Biểu đồ 2.1: Hiểu biết về quản lý trường hợp ................................................. 38
Biểu đồ 2.2: Tầm quan trọng của quản lý trường hợp .................................... 39
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách của Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến người khuyết tật
(NKT). Việc bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho NKT hòa nhập cộng đồng là
những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, là truyền
thống tốt đẹp của dân tộc ta. Căn cứ theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trên cả
nước, Bộ lao động Thương binh và Xã hội đưa ra con số NKT ở Việt Nam hiện nay
ước tính khoảng 6,7 triệu người trên tổng số 90 triệu dân (chiếm 7,5% dân số). Có
nhiều loại khuyết tật (KT) như: KT vận động, tâm thần, thị giác, ngôn ngữ, trí tuệ,
các dạng KT khác. Nguyên nhân KT: do bẩm sinh, bệnh tật, do tai nạn, hậu quả
chiến tranh để lại và những nguyên nhân khác. Đa số NKT sống với gia đình và cần
có người chăm sóc. Để trợ giúp NKT giải quyết khó khăn, Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành hệ thống luật và các văn bản dưới luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn,
chế độ chính sách quy định về quyền và nghĩa vụ của NKT và cũng đã thành lập
trên 400 cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập nhưng cũng chỉ mới đáp
ứng một phần nhu cầu ăn mặc, học hành và nơi ở an toàn cho họ.
Mặc dù Bộ Lao động TB&XH đã ban hành Thông tư số 01/2015/TTBLĐTBXH hướng dẫn về quản lý trường hợp (QLTH) đối với NKT nhưng rất ít cơ
sở Bảo trợ xã hội (BTXH) áp dụng quy trình QLTH hoặc có áp dụng nhưng không
theo quy trình 5 bước đối với NKT đang được nuôi dưỡng tập trung, do đó chưa
đánh giá đúng nhu cầu và những khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống.
Bình Định là một tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam với dân số trên
1.500.000 nghìn người, có trên 32 ngàn NKT. Hàng năm lãnh đạo tỉnh luôn có sự
quan tâm về chế độ vật chất, động viên tinh thần, đề ra những chính sách như miễn,
quả nghiên cứu là biện pháp nâng cao hiệu quả về QLTH đối với NKT tại Trung
tâm CTXH & BTXH Bình Định, tỉnh Bình Định. Đề tài nghiên cứu cũng sẽ góp
phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý trường hợp đối với người
khuyết tật, nâng cao hiệu quả về công tác xã hội đối với người khuyết tật hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những năm gần đây, NKT và các vấn đề của họ luôn nhận được sự quan tâm
đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và
ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích
2
một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu. Liệt kê, kể ra, tóm tắt các ý
chính, các số liệu đã được thống kê, các báo cáo, khóa luận, luận văn... về các vấn
đề có liên quan đến QLTH đối với NKT đã được công bố.
Thứ nhất, các nghiên cứu về pháp luật, chính sách xã hội đối với NKT
Việc đảm bảo quyền của NKT đã trở thành một trong những yêu cầu quan
trọng để đảm bảo công bằng, vì con người và phát triển bền vững của quốc gia.
Chính vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu về khung pháp lý nhằm đảm bảo
quyền của NKT, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Tác giả Trần Thị Thúy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng
pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho NKT trên các phương diện: Chính
sách đối với cơ sở dạy nghề, NKT học nghề và giáo viên dạy nghề cho NKT; đồng
thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với NKT
cả ở phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện [19].
Tác giả Trần Thái Dương (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã nghiên cứu về
những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, đặc biệt là
những quy định của Công ước về quyền của NKT trong việc bảo đảm quyền tiếp
cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của NKT, từ đó đề xuất một số ý kiến
nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê
chuyên nghiệp hơn như đề tài “Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp người
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì,
Hà Nội” của Nguyễn Ngọc Tùng; Lê Thanh Thủy với đề tài “Công tác xã hội đối
với người khiếm thị từ thực tiễn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”; …
Tác giả Nguyễn Thụy Diễm Hương và Tạ Thị Thanh Thủy (trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) cũng có bài viết nhấn mạnh đến
việc thực hành Công tác xã hội đối với người khuyết tật có thể sử dụng các phương
pháp “Tăng quyền lực”, “Dựa trên quyền” và “Điểm mạnh” để có thể làm tăng năng
lực cho NKT, giúp cho họ tham gia vào xã hội, đồng thời chống lại những rào cản do
phân biệt đối xử và thành kiến gây nên [17].
Thứ tư, các hội thảo, dự án, báo cáo liên quan đến việc hỗ trợ cho người
khuyết tật
Trong những năm qua có nhiều hội thảo, dự án nghiên cứu các hoạt động hỗ
trợ cho người khuyết tật được tổ chức. Tiêu biểu một số hội thảo, dự án như sau:
4
Thời gian qua Học viên khoa học xã hội có tổ chức hội thảo khoa học với
chủ đề: “QLTH với NKT tại Việt Nam” do Khoa CTXH của Học viện khoa học xã
hội Việt Nam tổ chức vào ngày 22/10/2015. Đây là hội thảo khoa học mang nhiều ý
nghĩa khi nội dung nghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp
với NKT”, đây là hướng đi mới hỗ trợ NKT đang được triển khai ở nhiều địa
phương theo Thông tư 01/TT-Bộ LĐTB &XH về công tác QLTH với NKT. Nhưng
việc triển khai còn nhiều khó khăn như: khó khăn về kinh phí, nguồn nhân lực, nhận
thức của chính quyền địa phương các cấp về công tác này. Đồng thời, thông qua các
bài báo cáo của các chuyên gia và phần hỏi - đáp, thảo luận đã gợi mở những định
hướng nghiên cứu cho học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn để làm chủ đề,
phát triển nghiên cứu của đề tài luận văn cao học [42].
Báo cáo NKT Việt Nam về một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về QLTH đối với NKT.
Phân tích đánh giá thực trạng QLTH đối với NKT tại Trung tâm Công tác xã
hội và Bảo trợ xã hội Bình Định, tỉnh Bình Định.
Phân tích đánh giá thực trạng các yếu tố tác động đến QLTH đối với NKT.
Đề xuất biện pháp góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả QLTH đối với
NKT từ thực tiễn Trung tâm CTXH & BTXH Bình Định, tỉnh Bình Định.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vẫn đề luận cứ khoa học về QLTH hợp
đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm CTXH & BTXH Bình Định, tỉnh Bình Định.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là cán bộ, nhân viên QLTH đang làm việc tại Trung
tâm và NKT đang được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực
trạng hoạt động quản lý trường hợp như: thu thập thông tin và nhu cầu của người
khuyết tật; đánh giá người khuyết tật; xây dựng kế hoạch trợ giúp người khuyết tật;
thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật; lượng giá và kết thúc quản lý trường
hợp với người khuyết tật.
6
Phạm vi về khách thể nghiên cứu: đề tài nghiên cứu 30 cán bộ và nhân viên
quản lý trường hợp và 40 người khuyết tật từ 6 tuổi đến 80 tuổi.
Phạm vi về thời gian: từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 02 năm 2017.
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn Trung tâm CTXH & BTXH
Bình Định (số 78 Ngô Đức Đệ, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, Bình Định).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế từ Trung tâm CTXH & BTXH Bình
Định, tỉnh Bình Định. Vì họ được quản lý, chăm sóc, tập VLTL - PHCN tại Trung
tâm nên có thể quan sát thông qua các tri giác như: nghe, nhìn và tiếp xúc trực tiếp
với họ hàng ngày. Từ đây có thể nắm bắt được tình trạng chăm sóc, điều trị phục
hồi chức năng, tình thần, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của họ được cải thiện
như thế nào, kết quả đạt được ra sao nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Quá trình này được thực hiện trong suốt thời gian nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn sâu: để có thêm nhiều thông tin chất lượng phục vụ
cho đề tài nghiên cứu, tôi thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu được lựa chọn 15
người khuyết tật và 10 nhân viên quản lý, chăm sóc đã được tiến hành thực hiện
khảo sát bằng phương pháp điều tra bảng hỏi.
Phương pháp thống kê toán học: dùng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm
hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về QLTH đối với NKT, các quy
trình về QLTH, về chính sách xã hội, vai trò nhiệm vụ của cán bộ QLTH.
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực QLTH.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
QLTH đối với NKT trong Trung tâm CTXH & BTXH Bình Định, tỉnh Bình
Định là việc làm cần thiết nhằm giúp các đối tượng là NKT vượt qua khó khăn, mặc
cảm, khiếm khuyết, tình trạng bệnh tật, hoàn cảnh gia đình, giúp nối kết các nguồn
lực, dịch vụ như: nguồn lực kinh tế, y tế, giáo dục, chăm sóc, dinh dưỡng, VLTLPHCN, hòa nhập cộng đồng... Từ đó đưa ra được một số khó khăn, thuận lợi, định
hướng giải pháp thực tế để bảo đảm hiệu quả cao về QLTH đối với NKT.
8
Giúp cho nhân viên quản lý trường hợp về NKT nói riêng và nhân viên
CTXH các ngành khác nói chung hiểu biết thêm về QLTH đối với NKT.
Trong hệ thống “Phân loại Quốc tế về chức năng, KT và sức khỏe” (ICF)
(năm 2001) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa KT như sau:
“Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và
tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một
người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm
yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)” [15, tr.26].
Như vậy, định nghĩa KT theo cách tiếp cận khái niệm mới có thể hiểu là:
“Tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý bình
thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải
trí và sinh hoạt” [30, tr.8].
* Khái niệm về người khuyết tật
Ở các quốc gia khác nhau thì có những định nghĩa khác nhau về NKT, song
tựu chung lại đều xoay quanh hai vấn đề đó chính là các khiếm khuyết hay sự suy
giảm các chức năng khác nhau và những điều đó cản trở cá nhân tham gia một cách
bình thường vào cuộc sống xã hội [9, tr.9].
Tại Điều 1 của Công ước Quốc tế về quyền của NKT năm 2006 đã khẳng
định: “NKT bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần
kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở
10
sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng
như những người khác trong xã hội” [12, tr.11].
Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng định nghĩa trong Luật người khuyết tật
Việt Nam ban hành vào năm 2010. Đây là định nghĩa khá đầy đủ, tổng hợp được
các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt
Nam, đó là: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ
thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động,
sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [24].
thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật chia thành 3 mức độ KT như sau:
Người khuyết tật đặc biệt nặng: là những người do KT dẫn đến mất hoàn
toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi
lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá
nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Người khuyết tật nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần
hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số
hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu
sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
NKT nhẹ: là người KT không thuộc trường hợp quy định tại hai mức độ trên.
1.1.3. Nguyên nhân gây nên khuyết tật
Có rất nhiều nguyên nhân gây nên khuyết tật như bẩm sinh, di truyền, bệnh
tật, tai nạn hay chiến tranh hoặc ô nhiễm môi trường… dưới đây khái quát các
nguyên nhân gây nên khuyết tật theo thời điểm tác động của các yếu tố gây khuyết
tật. Đó là thời điểm trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh, ngoài ra, còn có
một số khuyết tật không rõ nguyên nhân [9, tr.14].
* Trước khi sinh
Do di truyền; Phụ nữ sử dụng thuốc kháng sinh trong quá trình mang thai;
Lỗi nhiễm sắc thể: hội chứng Đao; lỗi gen: Rett, Prader Willy; rối loạn do nhiều yếu
tố: nứt đốt sống, tràn dịch màng não...; do lây nhiễm: sởi rubella hay còn gọi là sởi
Đức, giang mai, nhiễm HIV...; do nhiễm độc: một số loại y dược mà bà mẹ dùng
chẳng hạn như thuốc chống động kinh, chất rượu cồn, chụp X - quang, chất độc
màu da cam (thế hệ thứ hai), kháng thể RH...
* Trong khi sinh
12
Thiếu ô-xy ở trẻ: Những vấn đề do nhau thai, sinh quá lâu, trẻ không thở
hoặc không khóc ngay sau khi sinh; tổn thương trong lúc sinh: tổn thương não do
Tâm lý của người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so
với những người bình thường khác. Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được,
chẳng hạn như khuyết chi: họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại
hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn.
Mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người
có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những
người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên. Tiếp đến một ảnh
hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội, một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực
hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người.
Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người ta nhận thấy ở nhiều người
khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao [41].
Đối với trẻ em khuyết tật biểu hiện về mặt tâm lý của trẻ chưa rõ ràng, chỉ là
những biểu hiện về bệnh lý về mặt tâm lý là chính. Những vấn đề tâm lý chính từ
gia đình, người thân mặc cảm với những người xung quanh về vấn đề khiếm khuyết
của trẻ, từ đó có những biểu hiện bỏ mặt trẻ, thậm chí bỏ rơi trẻ, không chăm sóc,
hoặc vì khiếm khuyết của trẻ dẫn gia đình đến việc túng quẩn, khó khăn về kinh tế,
thậm chí có một số gia đình dẫn đến việc ly hôn giữa ba và mẹ của trẻ...
Sự khiếm khuyết về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của người
khuyết tật có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt,
lao động, học tập… Chẳng hạn, do bị bệnh tật, khó khăn đi lại hoặc giao tiếp nên
hoạt động học tập, lao động, giao lưu của người khuyết tật hạn chế hơn nhiều so với
người bình thường. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt về thể chất dẫn đến những cản trở
trong sinh hoạt, lao động nên NKT thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti
hay cáu gắt, nóng nảy…Vì thế, NKT có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị.
Trong quá trình tương tác xã hội, khi NKT tiếp xúc và nhận biết được thái độ kỳ thị
hay những hành vi phân biệt đối xử của những người xung quanh xuất phát từ sự khác
biệt bên ngoài của họ, NKT có thể đánh mất ý thức về con người thực sự của mình,
khiến cho họ hoài nghi về giá trị bản thân, tự nhìn nhận bản thân thông qua hình thể
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an
tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v.
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu
bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống... họ sẽ không quan tâm
đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng... Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức, kiến thức,
hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn.
Ngày 25/02/2011, Bộ LĐ - TB&XH ban hành Thông tư số 04/2011/TTBLĐTBXH quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở BTXH. Trong đó có một số tiêu
chuẩn liên quan đến hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho
NKT tại cơ sở BTXH.
Nhân viên quản lý trường hợp có trách nhiệm xác định những nhu cầu cơ bản
của người khuyết tật như: Dinh dưỡng, ăn ngủ, vui chơi giải trí, được yêu thương,
che chở, được kết bạn, học hành, đặc biệt là được chăm sóc điều trị PHCN. Theo
tháp nhu cầu của Maslow, NKT cũng cần có những nhu cầu cơ bản sau:
Các nhu cầu căn bản nhất thuộc về "thể lý" (physiological) như: Thức ăn,
nước uống, nơi trú ngụ, sinh lý, bài tiết, thở, nghỉ ngơi... Có chế độ dinh dưỡng đặc
biệt cho những trẻ sơ sinh KT, trẻ khuyết tật, trẻ nhiễm HIV.
Nhu cầu an toàn (safety) có cảm giác yên tâm và an toàn thân thể, gia đình.
Nhu cầu được giao lưu tình cảm (love/belonging): muốn được ở trong một
nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.
Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem): cần có cảm giác được tôn trọng,
kinh mến, được tin tưởng, không phân biệt, kỳ thị.
Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization): muốn sáng tạo, được thể
hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn...
16
Đối với NKT cũng có những nhu cầu cơ bản, chứ không ngoại trừ, điều cần
thiết NKT là nhu cầu điều trị PHCN, giảm thiểu những khiếm khuyết càng nhiều
càng tốt, giúp họ sớm hòa nhập cộng đồng.
được sử dụng như yếu tố quan trọng định hướng cho tiến trình giúp đỡ [22, tr.25].
Quản lý trường hợp là một dịch vụ phục vụ con người mới nảy sinh được
thiết kế để cung cấp các dịch vụ cho cá nhân và gia đình khi có những vấn đề phức
tạp gặp phải cùng lúc (nghèo đói, khuyết tật, dính líu tệ nạn xã hội…) [2, tr.111].
Tóm lại, quản lý trường hợp là một quá trình trợ giúp của công tác xã hội,
bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu đối tượng (cá nhân, gia đình), xác định,
kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp đối tượng tiếp cận với các
nguồn lực để giải quyết vấn đề của họ một cách hiệu quả.
* Khái niệm về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật
Khái niệm quản lý trường hợp đối với người khuyết tật: là một hoạt động
chuyên nghiệp của công tác xã hội thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ đánh giá
nhu cầu của người khuyết tật, xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ
nhằm giúp người khuyết tật và gia đình họ tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết
vấn đề của họ một cách hiệu quả.
1.2.2. Nguyên tắc trong quản lý trường hợp đối với người khuyết tật
Có rất nhiều nguyên tắc quản lý trường hợp khác nhau, tuy nhiên trong
QLTH đối với NKT thì các nguyên tắc sau cần được coi trọng hơn cả, đó là:
* Nguyên tắc chấp nhận, tôn trọng, không phán xét, bảo mật thông tin
Chấp nhận NKT trong mọi hoàn cảnh sẽ giúp nhân viên có được thái độ tôn
trọng và tránh sự phán xét khi làm việc với người khuyết tật. Điều này giúp thiết lập
và tăng cường mối quan hệ giữa người trợ giúp và người khuyết tật.
Giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc không chỉ ngành CTXH
sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng. Nó được thể hiện qua sự tôn trọng
những vấn đề riêng tư của NKT và không được chia sẻ những thông tin của họ với
người khác khi chưa có sự đồng ý. Bảo mật các thông tin cá nhân của NKT sẽ làm
tăng sự tin cậy và tạo đều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin cũng như các
hoạt động can thiệp trong tiến trình QLTH. Việc đảm bảo bí mật thông tin của NKT
sẽ giúp cho họ tin tưởng vào nhân viên QLTH, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác.
18