LUẬN văn THẠC sĩ GIÁO dục học PHÁT TRIỂN TRƯỜNG mầm NON tư THỤC ở TỈNH bắc GIANG - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG

Trang
3

1.1.
1.2.

MẦM NON TƯ THỤC
Các khái niệm cơ bản
Đặc điểm và nội dung phát triển trường mầm non tư

15
15
24

1.3.

thục ở tỉnh Bắc Giang
Các yếu tố tác động đến việc phát triển trường mầm non

tư thục
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TRƯỜNG MẦM

30
37

2.1.


Giang hiện nay
3.2.
Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

63
81
89
92
97


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, đã và đang nhận được sự quan tâm to lớn từ Đảng,
nhà nước và nhân dân. Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì việc
đầu tư cho giáo dục, đào tạo nhân lực có chất lượng cao luôn là vấn đề được
đặt lên hàng đầu. Trong thời kì đổi mới, giáo dục nước ta đã đạt được nhiều
kết quả đáng kể, đến nay nước ta đã có một hệ thống cơ sở giáo dục và đào
tạo, đa dạng các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục, quy mô giáo
dục phát triển từ mầm non đến đại học.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là cấp học đầu
tiên đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ,
định hướng việc hình thành nhân cách của trẻ; đồng thời thúc đẩy quá trình
học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo.
Trên thực tế, do nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp nên việc đầu tư
phát triển trường mầm non công lập chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền, nhân dân địa phương, trực tiếp là
những nhà quản lý giáo dục.
Thời gian qua, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục mầm non và
đã có Thời gian qua, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục mầm non và
đã có đóng góp đáng kể vào lĩnh vực phát triển giáo dục mầm non. Song các
công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về sự phát triển trường mầm non nói
chung; thực tế, cho đến nay, chưa có công trình nào đề cập một cách cơ bản
chuyên sâu về phát triển trường mầm non tư thục ở một tỉnh trung du miền
núi như tỉnh Bắc Giang.
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển
trường mầm non tư thục ở tỉnh Bắc Giang”, với mong muốn tìm ra lời giải
cho bài toán thực tế trên.

4


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển giáo dục nói chúng và phát triển các trường mầm non nói
riêng là một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương của Nhà nước
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần
đào tạo lớp người lao động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo,
đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì
mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Điều đó đã
được thể hiện nhất quán trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc từ
lần thứ VII đến thứ XI và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư các nhiệm kỳ.
Chủ trương XHHGD, phát triển GDMN được thể hiện rõ trong Luật
Giáo dục năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009. Theo đó, Nhà nước khuyến
khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, ủng hộ để phát triển sự nghiệp giáo
dục. Xã hội hoá, phát triển giáo dục là một bước đi tất yếu trong sự nghiệp

động” của nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh
Bình, vấn đề xã hội hoá giáo dục cũng đã được nghiên cứu cả về lý luận,
thực tiễn.
Ngoài ra, trong những năm gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu về chuyên
ngành quản lý giáo dục, trong đó có nhiều đề tài nghiên cứu về XHHGD, về
GDMN, công tác phát triển, chuẩn hoá đội ngũ và quản lý đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên nhân viên khác của các cơ sở GDMN công lập và ngoài
công lập, quy hoạch phát triển các trường mầm non công lập…
Luận văn thạc sĩ QLGD “Vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non với sự
phát triển giáo dục” của tác giả Phạm Thuý Hiền đã luận giải tầm quan trọng
của XHH GDMN, ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của GDMN nói riêng
và giáo dục nói chung.
Luận văn thạc sĩ QLGD: “Biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá
sự nghiệp GDMN trên địa bàn thành phố Bắc Ninh” của tác giả Trần Hồng

6


Diễm đã luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn xã hội hoá giáo dục đối
với sự phát triển GDMN và xã hội hoá sự nghiệp GDMN trên địa bàn thành
phố Bắc Ninh. Tác giả Trần Bích Vân trong luận văn thạc sĩ QLGD: “Nâng
cao chất lượng hiệu quả công tác xã hội hoá giáo dục cho các trường tiểu
học trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” (2010) đã làm rõ những
vấn đề về XHHGD tiểu học như quan niệm, nội dung, trên cơ sở đó đề xuất
những biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả công tác XHHGD các trường
tiểu học trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong luận văn thạc sĩ QLGD: “Biện pháp thực hiện xã hội hoá giáo
dục đối với ngành học mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng Hà Nội đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” (2011) của tác giả Phạm Thị Tâm, trên cơ sở
luận giải lý luận về XHHGD và phân tích những nét đặc thù của GDMN và

Công trình luận văn thạc sĩ của Tạ Thu Vân nghiên cứu "Xã hội hoá
giáo dục mầm non quận Hai Bà Trưng trong giai đoạn hiện nay", (2006) đề
cập đến vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
Trong luận văn thạc sĩ "Biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục
mầm non tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay" (2006), tác giả Nguyễn
Thị Bích Hạnh đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý công tác xã
hội hoá giáo dục mầm non ở tỉnh Nam Định. Luận văn thạc sĩ của Phùng Thị
Huyền Trân nghiên cứu "Biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục
mầm non ở quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay"
(2007) đã đề xuất các biện pháp quản lý công tác XHH GDMN ở quận Thanh
Xuân, Hà Nội.
Đặc biệt, đề tài “Những biện pháp cải tiến quản lý XHH trung học cơ
sở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” do Đặng Bá Lãm,
Trường Đại học Giáo dục (2008) thực hiện đã bàn đến vấn đề quản lý công
tác XHHGD. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Nguyễn Thị Bẩy

8


(2008), “Các biện pháp thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục ở các
trường mầm non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”. Tác giả đã đề xuất
các biện pháp thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục ở các trường mầm
non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn thạc sĩ QLGD của Đỗ Thị Thuý Nga (2009), “Quản lý
công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non ở huyện Thạch Thất,
Thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay”. Công trình đã đề
xuất các biện pháp quản lý công tác xã hội hoá sự nghiệp GDMN ở huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Luận văn thạc sĩ QLGD (2013), “Biện pháp ngăn ngừa và khắc phục
tình trạng bỏ việc của giáo viên mầm non huyện Tân phú, thành phố Hồ Chí

cán bộ quản lý trong các trường mầm non ở các địa bàn khác nhau, đồng thời
đề xuất một số giải pháp phát triển nhằm nâng cao chất lượng cán bộ quản lý
trường mầm non góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trong các
trường mầm non, như: luận văn QLGD của tác giả Nguyễn thị Duyên (2008),
“Giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non thành phố Hải
Dương”; luận văn QLGD của tác giả Trịnh Hoài Hương (2008), “Giải pháp
phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non quận Thanh Xuân hiện
nay”; luận văn QLGD của tác giả Lưu Thị Kim Phương (2009), “Biện pháp
quản lý Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non
thành phố Thái Nguyên”,...
Các đề tài luận văn QLGD của một số tác giả lại đi sâu vào công tác
XHH GDMN, phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp quản
lý cũng như triển khai thực hiện công tác XHH GDMN tại các địa bàn khác
nhau, như: luận văn QLGD của tác giả Hồ Thu Phương (2014), “Quản lý xã
hội hoá giáo dục mầm non ở Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội”; luận văn
QLGD của tác giả Đường Thị Lệ (2014), “Quản lý xã hội hoá giáo dục mầm

10


non ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”; luận văn
QLGD của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2014), “Quản lý xã hội hoá giảo
dục ở các trường mầm non công lập quận Ba Đình, thành phố Hà Nội”...
Các đề tài của các tác giả nói trên đều mang tính đặc thù của từng địa
phương nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo
dục bậc mầm non ở địa phương. Tuy nhiên, những nghiên cứu dành cho bậc
học này còn khá khiêm tốn, chỉ dừng lại ở việc đánh giá thực trạng và đề xuất
các giải pháp để xây dựng quy hoạch phát triển GDMN, xã hội hoá giáo dục,
quản lý bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên, phát triển đội ngũ
giáo viên ở vùng đặc thù. Riêng ở tỉnh Bắc Giang cho đến nay vẫn chưa có tác

2010 - 2011 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Xã hội hoá giáo dục là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta, là xu
hướng tất yếu trong phát triển sự nghiệp giáo dục ở nước ta.
Phát triển trường mầm non tư thục ở tỉnh Bắc Giang phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, nhiều vấn đề cần phải giải quyết đòi hỏi phải có nhiều thời gian,
công sức và sự tham gia của cộng đồng. Nếu các chủ thể quản lý thực hiện tốt
các biện pháp như: Đề cao trách nhiệm của các chủ thể quản lý trong xây
dựng và thực hiện kế hoạch phát triển trường mầm non tư thục; xây dựng và
tổ chức thực hiện chặt chẽ kế hoạch phát triển; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực cho phát triển trường mầm non tư thục đủ về số lượng và đảm bảo về chất
lượng; tạo cơ chế thích hợp để thực hiện xã hội hoá giáo dục nhằm phát triển
trường mầm non tư thục; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả phát
triển trường mầm non tư thục, thì sẽ phát triển được loại hình trường mầm
non tư thục, đáp ứng được yêu cầu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng
GDMN ở tỉnh Bắc Giang trong những năm tới.

12


6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục nói chung và QLGD
nói riêng, trong đó trực tiếp là các quan điểm, chủ trương phát triển giáo dục
bậc học mầm non.
* Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả vận dụng các quan điểm
tiếp cận lôgic - lịch sử, hệ thống - cấu trúc và quan điểm thực tiễn trong

7. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung, cụ thể hoá lý luận
QLGD vào phát triển trường mầm non tư thục.
- Đánh giá đúng thực trạng các trường mầm non tư thục hiện nay, tìm
hiểu rõ những nguyên nhân hạn chế đến sự phát triển của các trường mầm
non tư thục.
- Luận văn được nghiên cứu thành công có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho cán bộ lãnh đạo, các cơ quan hữu quan, các nhà đầu tư trong hoạch
định chính sách, chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc phát triển trường mầm non
tư thục ở tỉnh Bắc Giang.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 3 chương (8 tiết); kết luận
và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

14


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Trường mầm non
Hiện nay vẫn còn tồn tại những quan niệm khác nhau về trường mầm
non. Có quan niệm cho rằng trường mầm non chỉ là nơi “giữ trẻ”, “trông trẻ”,
không phải là “trường học dạy trẻ”. Vì vậy, để có thể làm rõ khái niệm trường
mầm non cần phải đề cập đến khái niệm nhà trường và khái niệm GDMN.
Theo từ điển Tiếng Việt thì, “Nhà trường là nơi tiến hành công tác
giảng dạy, đào tạo toàn diện hay về một lĩnh vực chuyên môn nào đó cho các
loại học sinh, nơi rèn luyện, bồi dưỡng con người về mặt nào đó”.
Theo Luật Giáo dục thì: “Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng đến 06 tuổi”.

trường triển khai đồng bộ, phù hợp để đạt mục tiêu giáo dục hiệu quả cao
nhất, kết quả giáo dục nhà trường tác động trực tiếp đến môi trường giáo dục,
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại gia đình và ngược lại.
Từ những phân tích trên có thể thấy trường mầm non là tổ chức giáo
dục mang tính Nhà nước và tính xã hội, là nơi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục và nuôi dưỡng trẻ theo độ tuổi quy định (từ 03 tháng đến 06 tuổi).
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm trường mầm non như
sau: Trường mầm non là nơi tiến hành công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ từ ba tháng đến sáu tuổi theo mục tiêu, phương pháp, chương trình do Nhà
nước quy định nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
Chức năng trường mầm non
Có thể nêu một cách khái quát trường mầm non có chức năng là nơi
thực hiện các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng
đến 06 tuổi theo quy chuẩn, bao gồm tổ chức đón, trả trẻ; chăm sóc, giáo dục
vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường; quản lý sức khoẻ và an toàn cho trẻ; tổ

16


chức các hoạt động vui chơi, học tập, lao động; hoạt động ăn, nghỉ của trẻ
(đối với trường bán trú); tổ chức thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ từ 03 tháng đến 06 tuổi theo Chương trình GDMN do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; tổ chức phối hợp các cơ quan, tổ chức
chính trị xã hội và cá nhân để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến kiến
thức khoa học nuôi dạy trẻ cho cha mẹ và cộng đồng; tổ chức thực hiện nhiệm
vụ huy động các nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho sự nghiệp GDMN.
Tính đặc thù của trường mầm non
Với xu hướng phát triển trường mầm non công lập theo hướng toàn
diện, vững chắc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập, chăm sóc giáo
dục trẻ, đồng thời triển khai các chính sách ưu đãi để thu hút các thành phần

tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ của nhà trường; Hội đồng trường đối với trường mầm non công lập, Hội
đồng quản trị đối với trường mầm non dân lập, tư thục được gọi chung là Hội
đồng trường. Hội đồng trường là tổ chức chịu trách nhiệm quyết định về
phương hướng hoạt động của nhà trường, huy động và giám sát việc sử dụng
các nguồn lực dành cho nhà trường, nhà trẻ, gắn nhà trường, nhà trẻ với cộng
đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục; Hội đồng thi đua khen
thưởng, Hội đồng tư vấn; Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và đoàn thể
trong nhà trường.
1.1.2. Trường mầm non tư thục
Luật Giáo dục năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009, điều 48
quy định về Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân: “Trường công
lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh
phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên. Trường dân lập do cộng đồng dân
cư thành lập, đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động. Trường
tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế
hoặc cá nhân thành lập, đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí học tập

18


bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước. Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch
của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện
để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân”.
Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009, có riêng Mục
4 quy định về chính sách đối với trường dân lập, trường tư thục. Cụ thể:
Điều 65 Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy
định nhiệm vụ, quyền hạn của trường dân lập, trường tư thục: “Trường dân
lập và trường tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập trong

Mọi hoạt động của trường mầm non tư thục đều giống như các trường
mầm non công lập, từ mục tiêu, quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
theo mục tiêu, phương pháp, chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy
định. Chỉ khác trường mầm non tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư cơ sở vật chất
và bảo đảm kinh phí học tập bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Trường mầm non tư thục có địa vị pháp lý và vị trí vai trò như trường
mầm non công lập, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục của
Đảng, Nhà nước, tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.
1.1.3. Quản lý trường mầm non tư thục
Quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá
trình xã hội, những hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng
với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Theo đó, có
thể thấy quản lý bao giờ cũng được đặt trong một mối quan hệ đa chiều, phức
hợp. Trong quản lý có các nhân tố: chủ thể quản lý, mục tiêu quản lý và đối
tượng quản lý, về bản chất, là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ

20


huy) hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận
hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý trường mầm non tư thục là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý (hội đồng quản trị, ban giám hiệu, đứng đầu là
chủ tịch hội đồng quản trị, hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ, giáo viên để
chính họ tác động trực tiếp đến quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung
của bậc học.
Theo phân cấp quản lý thì Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành
phố trực thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục đối

trình riêng lẻ đều có sự khởi đầu và kết thúc.
Nói một cách khái quát, phát triển là sự vận động đi lên của mọi sự vật
và hiện tượng tuân theo những quy luật nội tại khách quan của chúng.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu phát triển bao gồm ba yếu tố: Tăng
cường số lượng, nâng cao chất lượng và điều chỉnh cơ cấu.
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Phát triển trường mầm non tư
thục là quá trình làm tăng quy mô trường mầm non tư thục cả số lượng, chất
lượng và điều chỉnh cơ cấu trường lớp, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và
nhân viên phục vụ cho phù hợp để thực hiện mục tiêu nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ từ ba tháng đến sáu tuổi, giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1.
- Mục tiêu phát triển trường mầm non tư thục:
Phát triển trường mầm non tư thục đảm bảo đáp ứng ba yếu tố, đó là
tăng thêm số lượng trường mầm non, tăng quy mô phòng học, phòng chức

22


năng và các công trình phụ trợ khác của trường mầm non tư thục; nâng cao
chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ các trường mầm non tư thục
đạt mục tiêu giáo dục bậc học theo chuẩn quy định; điều chỉnh cơ cấu, đội
ngũ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế và nhân viên dinh dưỡng đảm bảo đáp
ứng yêu cầu công tác của trường mầm non tư thục đạt chuẩn quốc gia.
- Chủ thể phát triển trường mầm non tư thục:
Chủ thể phát triển trường mầm non tư thục bao gồm chủ thể gián tiếp
và chủ thể trực tiếp.
Chủ thể gián tiếp là uỷ ban nhân dân cấp huyện (thành phố, thị xã trực
thuộc tỉnh); phòng giáo dục và đào tạo cấp huyện. Các chủ thể này có chức
năng phê duyệt, cấp phép thành lập, cấp phép hoạt động và quản lý nhà nước

nhân viên y tế, nhân viên dinh dưỡng và các nhân viên khác; quản lý
chương trình, nội dung và chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở
các trường mầm non tư thục; huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực
để đầu tư cơ sở vật chất theo quy định của pháp luật
1.2. Đặc điểm và nội dung phát triển trường mầm non tư thục
1.2.1. Đặc điểm phát triển trường mầm non tư thục ở tỉnh Bắc Giang
trong thời gian tới
Đặc điểm phát triển trường mầm non tư thục nói chung và phát triển
trường mầm non tư thục ở tỉnh Bắc Giang nói riêng được thể hiện ở những
nét ưu việt và những hạn chế bất cập trong khâu tổ chức thực hiện việc phát
triển loại hình trường này.
* Tính ưu việt của trường mầm non tư thục
Một là, hiện nay chúng ta đang xây dựng một xã hội học tập, tức là nhu
cầu được học tập (chăm sóc - giáo dục) là nhu cầu tất yếu khách quan, nhất là
lứa tuổi mầm non; măt khác, hiện nay, do đời sống của nhân dân ta có sự phát
triển đáng kể, điều đó kéo theo nhu cầu được chăm sóc, giáo dục con em cũng
ngày càng phải tốt hơn,... trong khi đó, hệ thống các trường mầm non công

24


lập không thể đáp ứng được yêu cầu này. Do đó, sự ra đời của các trường
mầm non tư thục là một tất yếu khách quan.
Hai là, sau một ra đời, tồn tại, phát triển, các trường mầm non tư thục
không chỉ tham gia giải quyết bài toán “có nơi để chăm sóc trẻ” bình thường
như các trường công lập, mà thực sự đã nâng cao được chất lượng chăm sóc
giáo dục thế hệ tương lai của đất nước. Đa số các trường mầm non tư thục
trong đó có tỉnh Bắc Giang đã đáp ứng được sự kỳ vọng của xã hội; nhiều
trường đã trở thành điểm sáng, là nơi lựa chọn để nhân dân đưa con em mình
đến với mong được chăm sóc, giáo dục với chất lượng cao nhất.

Trong chiến lược và qui hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cũng
như các huyện trong tỉnh chưa có chủ trương, kế hoạch cụ thể đối với việc qui
hoạch phát triển trường mầm non, từ đó có qui hoạch dành quĩ đất cho xây
dựng trường mầm non.
1.2.2. Nội dung phát triển trường mầm non tư thục ở tỉnh Bắc Giang
1.2.2.1. Phát triển về số lượng và cơ cấu các trường mầm non tư thục
- Thành lập mới một số lượng trường mầm non tư thục trên địa bàn
nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ.
Thực hiện chính sách xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục để thu hút các
nguồn lực từ các tổ chức kinh tế - xã hội - nghề nghiệp, các cá nhân và cộng
đồng đầu tư xây dựng trường mầm non tư thục. Đối với tỉnh Bắc Giang, dự
kiến đến năm 2020 toàn tỉnh tăng thêm 11 trường so với năm học 2014 2015, trong đó tăng 5 trường mầm non tư thục đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng
số trường mầm non của tỉnh tăng lên 285 trường (274 trường mầm non công
lập và 11 trường mầm non tư thục).
Đầu tư, tăng quy mô phòng học, phòng chức năng và các công trình
phụ trợ khác của trường mầm non tư thục. Khuyến khích các trường mầm

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status