LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ QUẢN lý NHÀ nước về bảo vệ môi TRƯỜNG TRONG các KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ hải PHÒNG - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Chương 1
1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2

2.1.
2.2.
2.3.

Chương 3

2.1.

2.2.

3
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Những vấn đề chung của quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường trong các khu công nghiệp ở thành phố Hải Phòng
Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
trong các khu công nghiệp ở Hải Phòng hiện nay
Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong
các khu công nghiêp ở một số tỉnh, thành phố trong nước
và bài học rút ra đối với thành phố Hải Phòng

24
25

41

51

51

56

KẾT LUẬN

75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

76

PHỤ LỤC

83


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người,
sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của từng quốc gia và nhân
loại. Hiện nay, ở khắp các quốc gia trên thế giới, nhân loại đang phải đối mặt

Đông, Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội, 2011. Luận văn nghiên cứu
công tác quản lý của chính quyền cấp tỉnh nhưng đặt trong khuôn khổ các
chính sách, chế độ quản lý các KCN của Nhà nước ta. Về mặt thực tiễn, luận
văn phân tích thực trạng quá trình hoạt động xây dựng và phát triển các KCN
và vấn đề quản lý nhà nước đối với các KCN ở Bắc Ninh dựa trên số liệu của
giai đoạn 2006 - 2010 và chiến lược của tỉnh đến năm 2020.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp, khu chế xuất- Bảo vệ
môi trường
Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Hoàng Hà 2009. Đại học Luật
Hà Nội. Tác giả đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến quy hoạch các KCN;
KCX; các kinh nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới và khu vực như Thái Lan,
Hàn Quốc, Singapo... các chế tài, quy định thu hút vốn đầu tư nước ngoài
trong khi xây dựng các KCN, KCX, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến môi
trường, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường...
Đánh giá Môi trường các khu công nghiệp thực trạng và giải pháp; Luận văn
thạc sĩ khoa học kinh tế của Lê Thị Thu Hà, Trường Cao đẳng tài chính- quản
trị kinh doanh thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển
phát triển KCN ở Việt Nam và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do sự
phát triển của các KCN gây ra trên cơ sở vận dụng lý thuyết trò chơi. Từ đó
đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục thực trạng ô nhiễm, góp
phần bảo vệ môi trường sống, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế lâu dài
trong tương lai.
4


Khảo sát hiện trạng quản lý môi trường tại KCN Amata, thành phố
Biên Hòa, Đồng Nai- Xây dựng các giải pháp quản lý môi trường theo hướng
KCN sinh thái. Luận Văn Thạc sỹ Trần Tuấn Anh-2011, Đại học Cần Thơ.
Luận văn, đánh giá tình trạng thực hiện CNH-HĐH đất nước. Hàng loạt

nghiệm quốc tế; kinh nghiệm xác lập tiêu chí phát triển bền vững của quốc tế;
các bộ tiêu chí phát triển bền vững ở Việt Nam và việc triển khai xây dựng và
thực hiện chương trình phát triển bền vững ở địa phương.
Quản lý nhà nước với Tài nguyên môi trường vì sự phát triển bền
vưnngx dưới góc nhìn xã hội nhân văn. PGS-TS Phạm Thị Ngọc Trầm, 2006,
nxb Khoa học, Hà Nội.
2.3. Những đề tài về môi trường và phát triển bền vững
ở một số khu vực và của Hải Phòng.
Những vấn đề cơ bản về môi trường và phát triển bền vững vùng Trung
bộ giai đoạn 2011-2020 của Nguyễn Ngọc Kháng, Nhà xuất bản điện tử Bách
khoa xuất bản năm 2012. Tác giả đã đề cập đến đặc điểm kinh tế, xã hội vùng
Trung bộ; đề cập đến khái niệm và những nội dung cơ bản về môi trường và
phát triển bền vững môi trường vùng Trung bộ.
Tăng trưởng xanh- hướng lựa chọn trong bối cảnh điều chỉnh mô hình
tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh, chủ nhập hội nhập quốc tế ; Xây dựng
mô hình thành phố Cảng xanh, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, hướng
lựa chọn cho Hải Phòng, của Tiến sỹ Nguyễn Văn Thành (2014) Ủy viên
Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố
Hải Phòng, đây là một đề tài đề cập đến phát triển bền vững, những nội dung
cụ thể của phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, sinh thái); chuyển dịch cơ cấu
kinh tế sang nền kinh tế xanh toàn cầu (chuyển dịch từ nhận thức, các hoạt
động, các cam kết của cộng đồng, vai trò của doanh nghiệp); kinh nghiệm của
một số quốc gia; thực tiễn của Việt Nam, Hải Phòng trong xây dựng thành
phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại.
2.4. Một số đề tài khác có liên quan đến luận văn.
Một số bài báo trên các tạp chí uy tín đề cập trực tiếp đến phát triển bền
vững hoặc đề cập đến những nội dung, khía cạnh liên quan đến phát triển bền
6





* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường tự nhiên trong các khu công nghiệp, không nghiên cứu môi
trường xã hội, tập trung vào nội dung: Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật,
cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường nói chung và trong các khu công
nghiệp nói riêng; tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường trong các KCN; công
tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường trong các
khu công nghiệp.
- Về không gian: Nghiên cứu trong các khu công nghiệp ở Hải Phòng
- Về thời gian: Các số liệu khảo sát, điều tra lấy từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chững và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển
kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái.
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng
hoá khoa học, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê so sánh; và
phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho
các nhà quản lý đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
BVMT trong các KCN ở Hải Phòng hiện nay, góp phần xây dựng Hải Phòng
trở thành thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại.
Đồng thời đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học
tập môn kinh tế chính trị, kinh tế phát triển trong các trường đại học, cao đẳng.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, 3 chương (8tiết), kết luận, phụ lục và danh

tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người như:
như tài nguyên khoáng sản, đất đai, nước, tài nguyên rừng... song nguồn tài
nguyên thiên nhiên của môi trường không phải là vô tận, trữ lượng giảm dần,

9


thậm chí còn cạn kiệt....Là nơi chứa đựng, làm sạch, đồng hóa các chất thải ra
từ hoạt động của con người và các loài sinh vật nhưng khả năng cung cấp và
hấp thụ của môi trường không phải là vô hạn. Là nơi giảm nhẹ các tác động
có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất; lưu trữ và cung
cấp thông tin cho con người.
* Ô nhiễm môi trường:
Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc
chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây
hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất
lượng môi trường”.
Khoản 6 Điều 3 Luật BVMT năm 2005 của Việt Nam khẳng định: “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
Để quản lý môi trường, xác định môi trường có ô nhiễm hay không
người ta đưa ra hàng loạt các khái niệm và tiêu chuẩn, cụ thể: tiêu chuẩn
môi trường; suy thoái môi trường; sự cố môi trường; chất gây ô nhiễm;
chất thải; chất thải nguy hại; phế liệu; đánh giá môi trường; đánh giá tác
động môi trường.
* Hoạt động bảo vệ môi trường:
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng
phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện
môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo

cho thấy quan niệm về KCN có sự thay đổi qua các thời kỳ.
Khái niệm KCN lần đầu tiên được xuất hiện tại Luật đầu tư nước ngoài
năm 1986 và được định nghĩa “Là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp do Chính phủ thành lập hoặc cho
phép thành lập”.
Cùng với chủ trương phát triển KCN, khái niệm KCN lại được thay đổi, tại
Quy chế KCN, khu chế xuất, khu kinh tế - ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP
11


ngày 24/4/1997, KCN được định nghĩa là: “Khu tập trung các doanh nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ
hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập”[10, tr.883-884].
Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ Quy định
về KCN, KCX, KKT thì định nghĩa “KCN là khu chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh
giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục
quy định tại Nghị định này”[19, tr.3].
* Khái niệm quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trong các khu
công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng:
Quản lý nhà nước về BVMT trong các KCN ở thành phố Hải Phòng là
sự quản lý của các cơ quan chức năng của thành phố Hải Phòng thông qua
tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích
hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường trong 18 KCN đã và đang hoạt động
của thành phố, nhằm đáp ứng tiêu chí đặt ra, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống của nhân dân thành phố, các địa bàn lân cận và phát triển bền vững
kinh tế - xã hội của thành phố.
Mục đích quản lý: Phòng chống và khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi
trường do hoạt động của con người trong 18 KCN gây ra, tăng hiệu quả về

thanh, ánh sáng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản
xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích
lịch sử và các hình thái vật chất khác.
Công cụ quản lý: Để quản lý nhà nước về BVMT trong 18 KCN ở
thành phố Hải Phòng, các cơ quan quản lý sử dụng tổng hợp các công cụ:
hành chính, kinh tế, giáo dục.
Biện pháp quản lý hành chính: Thông qua ban hành các văn bản luật,
các quy định về BVMT và bằng quyền lực của mình, các cấp cơ quan quản lý

13


nhà nước của Thành phố Hải Phòng về BVMT, bắt buộc các tổ chức, cá nhân
hoạt động trong 18 KCN phải thực hiện. Tổ chức, cá nhân nào vi phạm luật
pháp, quy định sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
Biện pháp kinh tế: Thông qua các công cụ như: Thuế, phí, lệ phí, khen
thưởng, xử phạt bằng tiền để cơ quan quản lý nhà nước về BVMT thành phố
Hải Phòng thực hiện chức năng quản lý của mình.
Thông qua việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, cơ
quan quản lý nhà nước tác động vào đối tượng quản lý là cá nhân, tổ chức
trong 18 KCN để họ nhận thức đúng về vai trò vị trí của môi trường, BVMT,
trách nhiệm của công dân, doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường…
* Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong các khu
công nghiệp ở Hải Phòng:
Nội dung quản lý nhà nước về BVMT trong các BVMT ở thành phố
Hải Phòng được thực hiện trên cơ sở vận dụng, cụ thể hóa của Điều 37, Luật
Bảo vệ Môi trường của nước ta như sau:
Một là, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách về bảo
vệ môi trường nói chung và trong các khu công nghiệp nói riêng.
Là việc cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của thành phố Hải

cấp thống trị cầm quyền, nhà nước cũng buộc phải chú ý đến lợi ích chung của
xã hội, giải quyết tất cả những vấn đề mà đời sống cộng đồng xã hội đặt ra như:
việc làm, giáo dục, văn hóa, đi lại, thông tin, an toàn, môi trường... Đối với nhà
nước XHCN với bản chất là nhà nước của dân, vì lợi ích chung của toàn dân thì
nhiệm vụ phục vụ lợi ích chung của xã hội không phải là bắt buộc nữa mà đã
trở thành nhiệm vụ tối thượng nhằm thực hiện chức năng xây dựng của nhà
nước kiểu mới. Đó cũng chính là mục tiêu con đường phát triển mà Đảng và
Nhà nước ta đã lưạ chọn. Vì vậy, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVMT, đảm
bảo phát triển bền vững phải được đặt cao hơn các thể chế chính trị khác và
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay lại càng trở lên trở lên bức thiết
hơn bao giờ hết.

15


Để thực hiện quyền lực của mình, Nhà nước ban hành pháp luật về
BVMT, đồng thời tổ chức việc áp dụng pháp luật để quản lý BVMT. Pháp luật
môi trường do nhà nước ban hành nên nó có tính bắt buộc chung, mọi thành viên
trong xã hội đều phải tôn trọng và chấp hành pháp luật. Vai trò của nhà nước về
quản lý môi trường là vô cùng to lớn, có tính chất quyết định đối với việc
BVMT và đảm bảo phát triển bền vững của đất nước.
Hai là, xuất phát từ thực trạng môi trường trong các KCN ở
Hải Phòng:
Cùng với cả nước, những năm qua Hải Phòng đã đẩy nhanh quá trình
thực hiện CNH, HĐH, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tập trung xây dựng Hải
Phòng trở thành trung tâm của duyên hải Bắc bộ về công nghiệp. Với tốc độ
phát triển CNH, HĐH nhanh, việc phát triển nhanh, ồ ạt các KCN, đã làm thay đổi
diện mạo của thành phố song không tránh khỏi những bấp cập, hạn chế, đặc biệt
trong lĩnh vực BVMT.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong

Với mục tiêu chiến lược đã được xác định trong Nghị quyết 32-NQ/TW
của Bộ Chính trị về xây dựng thành phố Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH-HĐH, xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố “Cảng xanh, hiện đại,
văn minh”. Đây là một thương hiệu mà Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành
phố Hải Phòng lựa chọn phấn đấu trong hiện tại và tương lai. Để góp phần
hoàn thành mục tiêu trên, thành phố Hải phòng phải thực hiện nhiều nội dung
trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có quản lý nhà nước
về BVMT, đặc biệt BVMT trong các KCN.
Ba là, xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp:
Quản lý nhà nước về BVMT trong các KCN được thực hiện tốt sẽ đem lại lợi
ích cho các doanh nghiệp trong các KCN. Điều này được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, nhận thức của xã hội nói chung và của người tiêu dùng nói
riêng về môi trường hiện nay đang dần thay đổi.
Thực tế cho thấy một doanh nghiệp ở trong tình trạng môi trường kém
thì khó có thể sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao. Xu thế hiện nay
17


người tiêu dùng có sự lựa chọn các sản phẩm được sản xuất trong các điều
kiện tốt về môi trường. Bạn hàng, những người luôn cẩn trọng khi lựa chọn,
ký kết các hợp đồng càng quan tâm hơn về vấn đề này. Các bên quan tâm
hoặc các bên có quyền lợi liên quan khác như các cổ đông, các tổ chức tài
chính, các công ty bảo hiểm... luôn xem trong yếu tố đảm bảo môi trường
trong quá trình đánh giá tổng thể, đánh giá về các khách hàng hiện có. Khách
hàng tương lai trước lúc thực hiện các dịch vụ đầu tư, cho vay, dịch vụ bảo
hiểm hay chấp nhận các điều kiện đàm phán thích hợp. Các doanh nghiệp
thiếu cẩn trọng về vấn đề ô nhiễm còn có thể gặp nhiều rắc rối trong quan hệ
đối với dân cư địa phương.
Thứ hai là áp lực về cạnh tranh. Ô nhiễm môi trường thường gắn liền
với việc doanh nghiệp phải tiêu hao lãng phí nhiên liệu và năng lượng, chất

công việc cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT trong các
KCN của tỉnh, như sau:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến các
doanh nghiệp.
Đầu tư và vận hành thường xuyên các công trình BVMT của KCN; củng
cố, kiện toàn bộ phận chuyên môn làm công tác BVMT tại các KCN; đầu tư
trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động. Đẩy mạnh hoạt động giám sát việc
xây dựng các công trình BVMT của các doanh nghiệp theo đúng cam kết, nhất là
đối với các công trình ngầm. Xử lý nghiêm, triệt để đối với những trường hợp gây
ô nhiễm môi trường, không chấp hành các quy định của pháp luật về BVMT. Tập
trung xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường của các KCN, đưa việc theo dõi, đánh
giá tình hình biến động môi trường của các KCN qua các năm đi vào nề nếp và có
hiệu quả hơn, phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước.
* Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng: Đà Nẵng đã xây dựng khung
kế hoạch chiến lược quản lý ô nhiễm công nghiệp thành phố nói chung, trong
các KCN nói riêng giai đoạn 2011-2020. Với lợi thế của thành phố, đến nay,
Đà Nẵng đã xây dựng hoàn thiện 6 KCN.

19


Trong những năm qua, Đà Nẵng đã quan tâm lồng ghép công tác
BVMT vào kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội nói chung, phát triển các
KCN nói riêng. Thành phố đã tập trung quán triệt nhiệm vụ BVMT đến
tất cả các chủ thể sản xuất kinh doanh trong các KCN; rà soát, đóng cửa
các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, buộc các doanh nghiệp phải
đầu tư hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường. Đặc biệt năm 2009- 2010,
UBND thành phố Đà Nẵng không cho phép đầu tư mới ngành sản xuất
sắt, thép. Các dự án nhạy cảm về môi trường xin đầu tư vào thành phố
cũng được quan tâm xem xét, đánh giá để lựa chọn. Đặc biệt các dự án

pháp luật về BVMT, có biện pháp xử lý nghiêm các doanh nghiệp không thực
hiện theo đúng các cam kết về BVMT trong báo cáo ĐTM hoặc bản cam kết
BVMT đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; cương quyết tạm đình chỉ hoạt
động nếu doanh nghiệp để tình trạng ô nhiễm kéo dài.
Thứ năm: khắc phục những tồn tại của KCN và các doanh nghiệp
như: Yêu cầu tất cả các chủ đầu tư các KCN phải xây dựng hệ thống xử lý
nước thải tập trung, xây dựng khu vực lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại
theo đúng quy định của Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/7/2009 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường. Kiên quyết không tiếp nhận những dự án có
nguy cơ ô nhiễm cao dưới mọi hình thức.
Thứ sáu: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận
thức, ý thức trách nhiệm và ý thức chấp hành pháp luật về BVMT; có chính
sách khuyến khích, khen thưởng những tổ chức, cá nhân làm tốt công tác bảo
vệ môi trường; xử phạt kịp thời, nghiêm minh, đủ mức răn đe mọi hành vi vi
phạm pháp luật về BVMT.
1.3.2. Bài học rút ra đối với Thành phố Hải Phòng
Bài học về quy hoạch các khu công nghiệp: KCN cần được xây dựng
đồng bộ về kết cấu cơ cở hạ tầng trong nội bộ (Hệ thống điện, nước, hệ thống
21


quan trắc môi trường, hệ thống xử lý nước chung, chất thải nguy hại, khí thải,
vành đai cây xanh…) đồng bộ với quy hoạch khu dân cư, môi trường sinh
thái, các công trình an sinh xã hội...
Bài học về xây dựng khung khổ pháp lý, xây dựng cơ chế chính sách:
Bám sát các văn bản chỉ đạo của Trung ương như: Nghị định
29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 Quy định về KCN, KCX, KKT; Thông tư
08/2009/TT-BTNMT ngày 15/7/2009 Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định
quản lý và BVMT KKT, KCN cao. Kịp thời, chủ động xây dựng hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật, các chế tài phù hợp, quy định rõ trách nhiệm của


*

Môi trường là một tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con
người, tác động đến hoạt động của con người như không khí nước, độ ẩm, sinh
vật, xã hội loài người. Hiện nay ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc của
nhiều nước, nhiều thành phố trên thế giới, trong đó có Hải Phòng. Trên cơ sở
nhận thức lý luận về môi trường, BVMT, luận văn đã đưa ra khái niệm quản lý
nhà nước về BVMT trong các KCN. Luận văn đã phân tích ba nội dung cơ bản
về quản lý nhà nước về BVMT trong các KCN của thành phố Hải Phòng; phân
tích tính tất yếu phải quản lý nhà nước về BVMT trong các KCN ở thành phố
Hải Phòng; khảo sát kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố về quản lý nhà
nước về BVMT trong các KCN, từ đó rút ra những bài học bổ ích cho thành phố
Hải Phòng.

23


Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở HẢI PHÒNG THỜI GIAN QUA

2.1. Tổng quan về các khu công nghiệp ở Hải Phòng hiện nay
2.1.1. Một số nét khái quát về thành phố Hải Phòng.
Hải Phòng là thành phố công nghiệp, đô thị loại I, đô thị trung tâm cấp
quốc gia, nằm ở vị trí trung tâm vùng duyên hải Bắc Bộ, thuộc vùng Đồng
bằng sông Hồng. Thành phố có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 7 quận, 6
huyện đất liền và 2 huyện đảo; có 223 xã, phường, thị trấn (143 xã, 10 thị trấn,
70 phường). Tổng diện tích đất tự nhiên 151.921 ha. Dân số có 1.857,8 nghìn
người. Với hệ thống hạ tầng giao thông thuận lợi về đường biển, đường bộ,

thức chấp hành pháp luật về BVMT như đầu tư xây dựng hệ thống xử lý giảm
thiểu ô nhiễm môi trường; thu gom, xử lý chất thải rắn, khí thải… Tuy nhiên,
nhiều KCN chưa thật nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về
BVMT, gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường KCN nói riêng và môi trường
thành phố nói chung.
2.2. Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
cần giải quyết trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong các
khu công nghiệp ở Hải Phòng thời gian qua
2.2.1.Thành tựu
Một là, hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách về BVMT nói
chung, trong các KCN nói riêng của thành phố Hải Phòng đảm bảo tính kịp
thời, chủ động, khoa học, cơ bản đáp ứng được cơ sở pháp lý cho hoạt động
quản lý nhà nước về BVMT KCN thành phố được bài bản, dần đi vào nề nếp,
có hiệu quả
Nhận thức được vai trò tầm quan trọng của công tác BVMT, những năm
qua Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, luật pháp, chính sách tạo
khung khổ pháp lý cho công tác BVMT. Trên cơ sở đó các địa phương, bộ,
ban ngành (trong đó có thành phố Hải Phòng) cụ thể hóa tổ chức thực hiện ở
địa phương, cơ quan đơn vị mình.

25


Thành phố Hải Phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác
BVMT nói chung, các KCN nói riêng, kịp thời ban hành Nghị quyết số
22/NQ-TU của Ban Thường vụ Thành uỷ về công tác BVMT thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH. Theo đó, UBND thành phố đã ra Quyết định số
571/2006/QĐ-UBND ngày 22/3/2006 ban hành Chương trình hành động thực
hiện Nghị quyết số 22/NQ-TU với 46 chương trình hành động. Thành lập Ban
Chỉ đạo thành phố về BVMT và phát triển bền vững tại Quyết định số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status