Dịch vụ công tác xã hội đối với người nghiện ma túy tại cộng đồng từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHƢƠNG THẢO

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG

TỪ THỰC TIỄN TỈNH KHÁNH HÒA

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ HẢI THANH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với người nghiện ma túy
tại cộng đồng từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Lê Phƣơng Thảo


CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH KHÁNH HÒA

2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

38
38

2.2. Thực trạng dịch vụ CTXH đối với NNMT tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh
Khánh Hòa

41

2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng dịch vụ CTXH đối với NNMT tại cộng
đồng

54

Chương 3

MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ DỊCH VỤ
CTXH ĐỐI VỚI NNMT TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH KHÁNH HÒA

67

3.1. Biện pháp nâng cao năng lực của nhân viên trực tiếp làm dịch vụ CTXH
đối với NNMT tại cộng đồng

67



LĐTBXH

Lao động – Thương binh và Xã hội

NNMT

Người nghiện ma túy

PVS

Phỏng vấn sâu

UBND

Ủy ban nhân dân
Viết tắt của MethyleneDioxyl- MethamphetAmine

MDMA

(Tên khoa học của thuốc lắc hay Ecstasy)
Viết tắt của Amphetamine-Type-Stimulans

ATS

(Chất kích thích dạng Amphetamine)


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


ma túy tại cộng đồng gần như chưa được triển khai trong cả nước. Người nghiện và
gia đình họ thiếu hẳn một sự tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ lớn khi có nhu cầu điều trị
nghiện và hòa nhập cộng đồng.
Tỉnh Khánh Hòa cũng không nằm ngoài thực trạng trên của Việt Nam. Toàn
tỉnh hiện nay có khoảng 1.200 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, trong đó
thanh thiếu niên chiếm khoảng 60%. Tuy việc sử dụng ma túy tổng hợp của thanh
thiếu niên đã trở thành trào lưu nhưng người nghiện ma túy ở Khánh Hòa sử dụng
tiêm chích heroin là phổ biến (chiếm khoảng 80%) [1, tr.2]. Điều này là một phần lý
do việc gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội của người nghiện ở Khánh Hòa
còn kiểm soát được. (Hiện nay, ở một số địa phương trong nước có nhiều người
nghiện sử dụng ma túy tổng hợp, với đặc thù của nó gây ảo giác, ảnh hưởng đến hệ
thần kinh rất lớn. Do vậy, những đối tượng này đã gây ảnh hưởng nhiều đến xã hội
khi ở ngoài cộng đồng). Mặt khác số người đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hiện
nay chỉ chiếm khoảng 5% tổng số người nghiện ma túy trong tỉnh. Như vậy, xét về
thực tiễn nhu cầu hỗ trợ, điều trị của người nghiện ma túy tại cộng đồng của tỉnh
Khánh Hòa đã có. Và thực tế này cũng rất phù hợp với chủ trương đổi mới công tác
cai nghiện ma túy của Đảng và Nhà nước.
Trong nhiều năm làm công tác về điều trị nghiện ma túy của tỉnh, tôi cảm
nhận được sự cần thiết của dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy. Việc
đổi mới “cách nhìn” và “cách làm” đối với công tác cai nghiện ma túy là khoa học
và nhân văn. Người nghiện cần được hỗ trợ như một đối tượng yếu thế trong xã hội.
Họ cần được chữa bệnh, trợ giúp tinh thần, vật chất để trở về cuộc sống của một
người bình thường, hòa nhập cộng đồng. Mong muốn kết nối nhu cầu thực tiễn về
dịch vụ hỗ trợ của người nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa với những chủ trương, chính
sách đổi mới công tác cai nghiện ma túy của Đảng và Nhà nước, tôi tập trung nghiên
cứu chủ đề “Dịch vụ công tác xã hội đối với ngƣời nghiện ma túy tại cộng đồng
từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa”.

2

19/4 – 21/4/2016 với nội dung xem xét tiến độ thực hiện Tuyên bố chính trị và Kế
hoạch hành động về hợp tác quốc tế hướng tới một Chiến lược toàn diện và cân
3


bằng để đối phó với vấn đề ma túy thế giới. Liên hiệp quốc đã khuyến cáo về dự
phòng lạm dụng ma túy và điều trị rối loạn sử dụng chất, phục hồi chức năng, hồi
phục và tái hòa nhập xã hội. Đại hội đồng đã lưu ý việc xây dựng các chiến lược dự
phòng phải dựa trên bằng chứng khoa học và theo nhu cầu cá nhân, gia đình, cộng
đồng trên cơ sở không phân biệt đối xử; khuyến khích sự tham gia của cá nhân
trong điều trị sao cho phù hợp với luật pháp quốc gia; thúc đẩy thái độ không kỳ thị;
khuyến khích người sử dụng ma túy tìm kiếm điều trị và chăm sóc, tạo điều kiện để
họ tham gia điều trị và tăng cường năng lực [5, tr.27], [6, tr.29]. Sự tham gia phiên
họp của Đoàn Việt Nam như để khẳng định quan điểm hội nhập quốc tế trong công
tác điều trị nghiện ma túy ở Việt Nam. Rằng công tác cai nghiện ma túy cần phải xã
hội hóa trên cơ sở quyền con người; việc điều trị nghiện ma túy cần phải trên cơ sở
khoa học và có sự tự nguyện góp sức của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Các tác
phẩm và quan điểm nói trên như là những hướng dẫn mang tính kinh điển của
ngành công tác xã hội đã cho tôi niềm tin và định hướng vào đề tài nghiên cứu này.
2.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác xã hội mới được thừa nhận là một nghề chính thức.
Công tác xã hội trong điều trị nghiện ma túy bắt đầu thực hiện từ khi có Đề án đổi
mới công tác cai nghiện ma túy đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt tại Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 nên các nghiên cứu về lĩnh
vực này còn hạn chế.
Về mạng lưới dịch vụ xã hội, nghiên cứu “Phát triển mạng lưới xã hội và
nhân viên công tác xã hội” của tác giả Nguyễn Hải Hữu thực hiện năm 2009 đã đưa
ra những khuyến nghị về phát triển mạng lưới dịch vụ ở Việt Nam như các dịch vụ
cần được thiết lập và cung cấp cho các đối tượng có vấn đề xã hội ở các cấp Trung
ương và ngay tại cộng đồng nơi đối tượng sinh sống, như xã, phường, thị trấn, các

trợ điều trị nghiện ma túy tại cộng đồng với 35 Điểm; đã tổ chức tư vấn cho 515
lượt người [2, tr.9]. Theo Đề án đổi mới, công tác xã hội đã được đưa vào hoạt động
điều trị nghiện ma túy. Các nghiên cứu về điều trị nghiện ma túy theo xu hướng đổi
mới, hòa nhập với quốc tế đã bắt đầu khởi sắc.
Luận văn “Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ điều trị nghiện cho người
nghiện ma túy tại cộng đồng” của tác giả Tạ Hồng Vân (2015) đã đề cập đến nghiên
cứu trường hợp tại cơ sở điều trị Methadone thuộc Trung tâm Phòng chống
HIV/AIDS thành phố Nam Định. Tác giả đã nhận định được nghiện ma túy là bệnh
5


mãn tính. Điều trị nghiện ma túy là quá trình có hỗ trợ bằng thuốc và liệu pháp tâm
lý và hướng về cộng đồng. Tuy nhiên, tác giả tập trung vào các hoạt động trợ giúp
cho nhóm người nghiện ma túy điều trị bằng thuốc thay thế Methadone. Đây chỉ là
một trong nhiều dịch vụ công tác xã hội cho người nghiện ma túy tại cộng đồng
[28].
Giáo trình chất gây nghiện và xã hội do TS. Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên)
cùng nhóm tác giả Trường Đại học Lao động xã hội biên soạn với sự hợp tác của
Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, tổ chức FHI 360, Trung tâm Dự phòng và kiểm
soát bệnh tật Hoa Kỳ nhằm phục vụ cho việc giảng dạy, đào tạo cán bộ công tác xã
hội. Nội dung giáo trình giúp các nhân viên công tác xã hội thông qua chức năng
tham vấn, giáo dục, biện hộ, kết nối nguồn lực,... giúp người nghiện ma túy và gia
đình, cộng đồng được tăng cường kiến thức, năng lực, thay đổi suy nghĩ từ đó tiến
tới thay đổi hành vi theo hướng tích cực [18]. Đây là cuốn giáo trình rất có giá trị,
cung cấp tri thức khoa học, kỹ năng cho nhân viên công tác xã hội khi làm việc với
người nghiện ma túy và vì vậy đã cung cấp, bổ sung kiến thức và phương pháp cho
tác giả khi thực hiện đề tài.
Báo cáo nghiên cứu “Vấn đề xâm hại tình dục, lạm dụng chất gây nghiện
trong nhóm trẻ em đường phố tại thành phố Hồ Chí Minh” của Trung tâm Nghiên
cứu quản lý và Phát triển bền vững (2013) đã nêu lên thực trạng trẻ em là người

nâng cao hoạt động dịch vụ công tác xã hội với người nghiện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ
nghiên cứu như sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm về dịch vụ công tác xã hội đối với NNMT.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với
NNMT.
- Phân tích đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội với NNMT tỉnh
Khánh Hòa.
- Áp dụng kiến thức công tác xã hội nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hoạt động dịch vụ công tác xã hội đối với NNMT.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội đối với NNMT từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa.
7


4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về đối tượng: Nghiên cứu lý luận và thực trạng về dịch vụ công
tác xã hội, cụ thể đó là hoạt động tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ, kết nối cho NNMT tại
cộng đồng.
* Phạm vi về khách thể: Nghiên cứu trên tổng số 210 khách thể, trong đó:
- Đối với người nghiện ma túy: nghiên cứu 200 khách thể với cơ cấu tuổi bao
gồm những người nghiện trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 40 tuổi, nữ từ 15
đến 30 tuổi). Về mức độ bao gồm người nghiện đã cai nghiện một lần, nhiều lần và
người nghiện đã tham gia điều trị đang sống hòa nhập cộng đồng.
- Đối với cán bộ làm việc liên quan đến người nghiện ma túy gồm 10 người
bao gồm cán bộ làm việc trong lĩnh vực người nghiện, một số lãnh đạo tại các địa
phương.
* Phạm vi về địa bàn: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

- Nghiên cứu các tài liệu về báo cáo, thống kê, văn bản của các cơ quan, tổ
chức có liên quan đến vấn đề người nghiện ma túy và dịch vụ công tác xã hội với
người nghiện ma túy.
- Nghiên cứu một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề
dịch vụ công tác xã hội với NNMT tại cộng đồng.
5.2.2. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Là phương pháp lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi dựa trên tính dễ tiếp cận đối
tượng. Lấy mẫu thuận tiện thường dùng trong nghiên cứu khám phá, để xác định
thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Đề tài sẽ chọn mẫu tiếp cận là người nghiện ma túy đang ở ngoài cộng đồng
để thực hiện điều tra qua bảng hỏi và phỏng vấn không tiếp cận người nghiện đang
vi phạm pháp luật; chọn những đơn vị, tổ chức có tính chất bao quát, đa dạng các
nội dung cần điều tra.
5.2.3. Phương pháp định lượng: Phương pháp điều tra bảng hỏi
Là phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập
một bảng hỏi cho nhóm đối tượng cần nghiên cứu trong một không gian, thời gian
nhất định.
Đề tài sẽ điều tra bằng bảng hỏi 200 khách thể là người nghiện ma túy trên
05 huyện/thị xã/thành phố tỉnh Khánh Hòa, gồm 08 phường/thị trấn thuộc khu vực
thành thị, 02 xã/phường thuộc khu vực ngoại ô và 04 xã thuộc khu vực nông thôn.
9


5.2.4. Phương pháp định tính: Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên
cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực trạng, những mong muốn
nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua
chính ngôn ngữ, thái độ của người ấy.
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu một số người nghiện ma túy, nhân viên công
tác xã hội, các nhà quản lý, các tổ chức cung cấp dịch vụ để tìm hiểu sâu hơn, lý

vấn đề triển khai công tác cai nghiện ma túy tại cộng đồng.
- Đối với xã hội: việc triển khai tốt dịch vụ công tác xã hội với người nghiện
ma túy tại cộng đồng tạo mối quan hệ qua lại tích cực của xã hội với nhóm NNMT;
so với mô hình cai nghiện tập trung tại các cơ sở cai nghiện: giảm chi phí, kết quả
đạt được bền vững hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các
biểu, bảng, luận văn gồm:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với NNMT.
- Chương 2: Thực trạng về dịch vụ công tác xã hội đối với NNMT từ thực
tiễn tỉnh Khánh Hòa.
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và thúc đẩy hiệu quả dịch vụ công
tác xã hội đối với NNMT tại tỉnh Khánh Hòa.

11


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỚI NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG
1.1. Về ngƣời nghiện ma túy
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm ma túy
Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy tự nhiên mà đại diện điển
hình là thuốc phiện cách đây hơn 8000 năm. Việc trồng và sử dụng các cây có chứa
hoạt chất ma túy đã là thói quen và tập tục của nhiều dân tộc khác nhau trên thế
giới. Lúc này, người ta đã biết được những khoái cảm mà thuốc phiện mang lại chứ
chưa chú ý tới mặt trái của nó là gây nghiện khó cai. Kể từ khi phát hiện tác dụng
kích thích của các loại ma túy, số lượng người sử dụng và nghiện ma túy ngày càng
tăng. Quá trình phát triển của xã hội loài người đã tác động đến sự đa dạng của ma

sử dụng không tự kiềm chế được bản thân, mất khả năng cưỡng lại sự thèm muốn
sử dụng ma túy và có xu hướng tìm và sử dụng ma túy bất chấp hậu quả với cá nhân
và cộng đồng.
Hiệp hội tâm thần Mỹ cho rằng nghiện ma túy là “Các triệu chứng bao gồm
hiện tượng dung nạp (cần phải tăng liều lượng sử dụng để đạt được khoái cảm), sử
dụng ma túy để giảm triệu chứng cai, không thể giảm liều sử dụng thuốc hay ngưng
sử dụng và tiếp tục sử dụng dù biết nó có hại cho bản thân hay những người khác”
(Sổ tay chẩn đoán của Hiệp hội tâm thần Mỹ - APA) [13].
Đối với người sử dụng ma túy dạng thuốc phiện thì có thể giải thích như sau:
Cơ thể chúng ta luôn sẵn có một dạng thuốc phiện do chính cơ thể sinh ra (morphin
nội sinh/endorphin) để phục vụ cho nhu cầu giảm đau của cơ thể, không dư thừa,
không hiệu ứng phụ. Khi đưa chất gây nghiện dạng thuốc phiện vào cơ thể (heroin)
gây giải phóng endorphin nhiều lần, tạo cảm giác phê sướng một cách nhân tạo. Khi
sử dụng ma túy lặp lại nhiều lần, sự có mặt của chất dạng thuốc phiện nội sinh làm
giảm và cuối cùng cơ thể không tiết ra các morphin nội sinh nữa. Người sử dụng
chất dạng thuốc phiện phụ thuộc hoàn toàn vào chất dạng thuốc phiện đưa từ bên
ngoài. Lúc này não bộ ngày càng bị tổn thương nhiều. Với những kết quả nghiên
cứu và phân tích trên về cơ chế gây nghiện, chúng ta thấy rằng nghiện là bệnh mãn
tính của não bộ, chứ không phải là tệ nạn xã hội như quan điểm trước đây. Vì vậy,
người mắc bệnh nghiện cần chữa trị để hòa nhập cộng đồng [23].
13


Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) “Nghiện ma túy là tình trạng lệ thuộc về
mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma túy lặp đi lặp lại
theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy và tình trạng lệ thuộc này
làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng
ma túy để có được những hiệu ứng ma túy về mặt tâm thần của ma túy và thoát khỏi
sự khó chịu, vật vã do thiếu ma túy” [13].
Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 của

thuộc buộc phải sử dụng thuốc, người nghiện ma túy được xem như người bệnh
mãn tính, khó chữa và phải điều trị liên tục, lâu dài. Người nghiện ma túy cần được
quan tâm thường xuyên thay cho sự kiểm soát thường xuyên. Những người làm
công tác cai nghiện ma túy cần phải hiểu rằng giữ cho người bệnh không sử dụng
lại ma túy càng lâu càng tốt, cần giúp họ tái hòa nhập gia đình và xã hội trong một
tình trạng hoàn toàn thoải mái về cơ thể và tâm thần, giúp giảm thiểu những tác hại
cho bản thân, gia đình và xã hội thay vì cứ cho rằng cai nghiện ma túy thành công là
phải hoàn toàn không quay lại con đường nghiện ngập. Đây là quan điểm đổi mới
rất khoa học và nhân văn trong công tác cai nghiện ma túy hiện nay.
* Các yếu tố nguy cơ và nghiện ma túy
- Các nguyên nhân sinh học: Nghiện ma túy là một căn bệnh của não bộ, chịu
tác động yếu tố sinh học như: độ tuổi, sức khỏe thể chất, tâm thần, yếu tố về gen, . .
. Cơ thể mỗi người có một đặc điểm sinh học rất riêng. Trong thực tế vẫn có những
người sau khi dùng thử ma túy không bị nghiện. Có thể cha mẹ là người nghiện thì
con cái sẽ có khả năng nghiện cao hơn. Như vậy, xét về khả năng sinh học mức độ
khả năng nghiện ma túy của từng người khác nhau.
- Các nguyên nhân tâm lý học: Một số trạng thái tâm lý dễ đưa đến sử dụng
và nghiện ma túy như: theo bạn bè thể hiện bản thân, buồn tìm đến ma túy để tìm
cảm giác mới, thử để biết, . . .
Người nghiện ma túy là những người dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống gấp,
hưởng thụ. Họ suy nghĩ non nớt, chưa thật sự trưởng thành vì vậy dễ rơi vào con
đường chơi bời, trác táng tham gia các tệ nạn xã hội trước sự cám dỗ của lối sống tự
do, buông thả, vô kỷ luật, kích thích dục vọng cá nhân thấp kém. Bên cạnh đó, có
những người do tâm lý chán nản, cô đơn, trống vắng trong cuộc sống (bị gia đình
ruồng bỏ, làm ăn thất bát….) cũng đã tham gia vào các tệ nạn này. Việc tham gia
vào các tệ nạn xã hội sẽ rất dễ dẫn đến việc sử dụng và nghiện ma túy.
15


- Các nguyên nhân xã hội và môi trường: Các yếu tố môi trường như: địa bàn



Vì sao một số người lại sử dụng ma túy và dẫn tới lệ thuộc dù họ biết sự lệ
thuộc ma túy có những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng
đồng xung quanh họ? Các nhà khoa học đã giải thích hiện tượng này theo những
cách tiếp cận khác nhau như: sinh học, tâm lý cá nhân hay từ gốc độ xã hội và
tương tác xã hội. Mỗi lý thuyết của các nhà khoa học đều có cách giải thích có giá
trị về hiện tượng nghiện ma túy của con người.
Thuyết sinh học giải thích rằng một số người sinh ra đã có sẵn gien di truyền
liên quan tới sử dụng ma túy khiến họ có nguy cơ sử dụng hoặc lệ thuộc ma túy cao
hơn, dễ mắc nghiện hơn người khác.
Tuy nhiên gien không phải là yếu tố quyết định, các nhà tâm lý học và xã hội
học thì cho rằng việc sử dụng lệ thuộc ma túy còn phụ thuộc vào sự tương tác giữa
con người và xã hội và hành vi của chúng ta chịu ảnh hưởng như thế nào trong xã
hội. Các yếu tố chính gây nghiện có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mỗi cá
nhân. Bao gồm các yếu tố bên trong nội tâm như: quá trình tâm lý, những trải
nghiệm, quá trình nhận thức, tình cảm,... Sự ảnh hưởng trực tiếp của môi trường bao
gồm các sự kiện và hiện tượng trong môi trường sống.
Theo Thuyết phân tâm, hầu hết người nghiện ma túy đều nhận thức rất rõ
hậu quả của việc nghiện ma túy là có liên quan tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác
nhau nhưng vẫn không thể kiểm soát được bản thân, họ muốn cai nghiện mà vẫn tái
nghiện là do nguồn năng lượng mang tính bản năng trong tầng vô thức thúc đẩy.
Ngoài ra, vô thức tập thể nằm sâu hơn tầng vô thức cá nhân (kinh nghiệm tích lũy từ
các thế hệ trước) cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc một người sử dụng và
nghiện ma túy. Những dấu ấn từ thời thơ ấu và rối nhiễu tâm thần học đã góp phần
làm cho bản năng vượt trội hơn so với siêu bản ngã khiến cho một người dễ dàng
tìm đến sử dụng và nghiện ma túy để tạo ra một sự cân bằng về tâm lý. Do vậy, khi
nghiên cứu và làm việc với người nghiện ma túy cần nghiên cứu về lịch sử gia đình,
bản thân trong bối cảnh lịch sử xã hội nhất định.
Thuyết nhận thức xã hội thì cho rằng một số người có nhận thức về bản thân

Xét về yếu tố bên ngoài, họ cũng không may mắn khi không có một gia đình đằm
ấm, một xã hội hoàn toàn lành mạnh để không gặp phải những tồn tại tiêu cực của
xã hội, để rồi không có sự chiến thắng của siêu ngã để vượt qua sự cám dỗ. Xét tổng
thể một xã hội, một cộng đồng, người nghiện ma túy là những người không đủ sức
để có phần “cái bánh ưu việt” trong xã hội. Vậy những người có may mắn của xã
18


hội phải có trách nhiệm dìu dắt họ cùng vươn lên, để cùng xây dựng xã hội tốt đẹp.
Chúng ta có thể nhìn nhận dưới gốc độ chấp nhận việc nghiện ma túy trong xã hội
và kiểm soát nó trong mức độ giảm tối đa những tác hại không mong muốn cho xã
hội.
1.1.2. Các dạng nghiện ma túy và các mức độ nghiện ma túy
1.1.2.1. Các dạng nghiện ma túy Trên cơ sở các loại ma túy ta có thể phân
loại các dạng nghiện ma túy:
- Người nghiện ma túy dạng thuốc phiện: người sử dụng ma túy dạng thuốc
phiện càng hút càng phải tăng liều, bị suy sụp sức khỏe, mất hết nghị lực, ý chí. Hậu
quả lâu dài của người sử dụng thuốc phiện là có các biến chứng như: viêm dạ dày,
viêm ruột mãn tính, mạch đập chậm và không đều, thường bị sưng phổi. Ít có
trường hợp tử vong với nguyên nhân trực tiếp là thuốc phiện.
- Người nghiện ma túy dạng heroin xuất hiện các triệu chứng như tổn thương
tĩnh mạch, ốm yếu, rối loạn hệ sinh sản và nội tiết, trầm cảm và vô cảm; cần phải
tăng liệu để phê. Sử dụng quá liều dễ dẫn đến tử vong. Nghiện nếu không sử dụng
xuất hiện các triệu chứng cai: bồn chồn, đau cơ, xương, mất ngủ, nguy cơ phạm tội.
- Người nghiện chất gây nghiện loại kích thích thần kinh: Khi sử dụng
“thuốc lắc” liều cao, người sử dụng có thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc cảm thấy
những sự việc, hiện tượng không có trên thực tế (ảo giác); cư xử không bình
thường. Hậu quả lâu dài có nguy cơ loạn thần. Khi sử dụng quá liều có nguy cơ tử
vong. Khi sử dụng thuốc lắc trong thời gian dài, độ dung nạp tăng thì cảm giác khó
chịu tăng, trong khi khoái cảm do thuốc mang lại giảm.

Do bị lệ thuộc vào ma túy về tâm thần và cơ thể nên phần lớn người nghiện
có sự biến đổi về nhân cách. Họ có cuộc sống tinh thần theo kiểu hết niềm tin vào
cuộc sống, thiếu ý chí, thiếu quyết tâm, thậm chí lập dị, khó hiểu. Người nghiện ma
túy thường bị giảm trí nhớ, khả năng suy nghĩ, tư duy, mất phương hướng, thậm chí
trộm cắp, nói không đi đôi với làm.
Trong mối quan hệ xã hội luôn sống vật vờ, cô lập, muốn lẫn tránh mọi
người. Người nghiện thường ít chú ý đến người thân, thờ ơ với công việc, vui buồn
trong cuộc sống; lười biếng, ít chú ý đến vệ sinh thân thể; mắt buồn rầu, sợ hãi; rối
loạn thần kinh thực vật, căng thẳng cảm xúc. Trong lệch lạc xã hội người nghiện ma
túy được coi là nhóm theo chủ nghĩa thoát ly.

20


Người nghiện mặc cảm tội lỗi với gia đình, người thân vì không từ bỏ được
ma túy, làm ảnh hưởng đến cuộc sống tình cảm và kinh tế gia đình. Họ mặc cảm,
tách biệt với cộng đồng vì chính họ đã ý thức được những việc họ đã làm như: trộm
cắp, lừa dối, gây mất an ninh trật tự là những hành vi lệch chuẩn, không được xã hội
chấp nhận. Người nghiện cũng mặc cảm vì sự dán nhãn, những cái nhìn không thiện
cảm, không chia sẻ của cộng đồng vì họ bị coi là tệ nạn xã hội chứ không phải
người bệnh.
Hơn ai hết, những người làm công tác cai nghiện ma túy phải hiểu rõ tâm lý
của người nghiện. Từ đó chủ động, kiên trì chia sẻ, giúp đỡ họ thay đổi thái độ,
hành vi, tập trung chữa bệnh và hòa nhập cộng đồng. Chúng ta có thể hiểu rằng
cộng đồng có những thành kiến với người nghiện vì chính những hành vi lệch
chuẩn của họ. Tuy nhiên, trong công tác xã hội người nghiện cần được nhìn nhận
theo hướng tích cực vào tương lai. Người nghiện cần được tách phần nghiện ra khỏi
con người họ và đây mới là vấn đề chúng ta quan tâm giải quyết. Hành vi của người
nghiện chỉ mang tính thời điểm, cần được nhìn nhận trong tổng thể cá nhân, gia
đình, xã hội. Từ đó, các dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy mới phù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status