LUẬN văn THẠC sĩ CHẤT LƯỢNG LÃNH đạo THỰC HIỆN QUY CHẾ dân CHỦ ở cơ sở của các ĐẢNG bộ xã, ở TỈNH hải DƯƠNG HIỆN NAY - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của đời sống con người. Dân chủ XHCN là một hình thức thể hiện quyền tự
do bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân
chủ XHCN là bản chất của chế độ ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển đất nước. Nói về vị trí của vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh “Dân chủ là của quý báu nhất của
nhân dân” [45, tr.279] và “thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải
quyết các vấn đề kinh tế - xã hội” [46, tr.249].
Dân chủ phải gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá
bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ
thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức
dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân
dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ chí thức, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
nền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; mọi đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích
của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ
được giao, tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân. Nâng cao ý thức về
quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của
nhân dân. Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ
trực tiếp. Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Theo pháp luật quy định xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chính
quyền bốn cấp ở nước ta, cấp thường xuyên trực tiếp với dân và gần dân nhất,
là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú sinh sống. Xã có vai trò, nhiệm vụ to
3



trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Đây là vấn đề vừa cơ bản vừa cấp thiết, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn.
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng lãnh đạo thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương hiện nay”
làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thực hiện QCDC và việc lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở có vị trí
quan trọng đối với việc giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ,
tạo động lực to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do vậy,
trong thời gian vừa qua,vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu
của nhiều nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tiêu biểu có các nhóm
công trình sau:
*Nhóm các đề tài khoa học
Phạm Văn Thẩm, “Thực trạng và giải pháp thực hiện QCDC ở cấp xã”,
Hải Dương, 2002. Ban Dân vận tỉnh ủy Tiền Giang chủ trì thực hiện đề tài
khoa học: “Nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thực
hiện QCDC ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, 2005. Ban Thường trực Uỷ ban
MTTQ tỉnh Quảng Trị chủ trì đề tài khoa học "Thực hiện QCDC cơ sở trong
giám sát đầu tư của cộng đồng", 2009. Ban Dân vận Tỉnh ủy Bắc Kạn chủ trì
đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện QCDC ở cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Bắc Kạn”, 2010. Đề tài đã
đánh giá việc thực hiện QCDC và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao hiệu quả lãnh đạo của cấp uỷ Đảng xã, phường, thị trấn trong việc
xây dựng và thực hiện QCDC cơ sở ở tỉnh Bắc Kạn. Rút ra bài học kinh
nghiệm sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày
18/02/1998 của Bộ Chính trị. Các đề tài trên đã trình bày hệ thống các cơ sở
lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở,
đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở của các địa phương cụ thể.
5



Nam, Luật tục và việc thực hiện QCDC ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh
Kon Tum, Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2014.
Các cuốn sách đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa, đánh giá được
thực trạng thực hiện QCDC cơ sở, đặc biệt trên địa bàn nông thôn nước ta, từ
đó đề xuất các nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ
sở ở nước ta hiện nay.
*Nhóm các bài báo khoa học
Trịnh Ngọc Anh, "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ
thống chính trị ở cơ sở vững mạnh", Tạp chí Cộng sản, số 11, 4/2003. Trần
Bạch Đằng, "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt
Nam", Tạp chí Cộng sản, số 35, 12/2003. Phạm Ngọc Quang, “Thực hiện
dân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới: thành tựu, vấn đề và giải pháp",
Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/2004. Huỳnh Đảm, “Nhìn lại 10 năm thực
hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Cộng sản online, 7/2008. Lại
Quốc Khánh, “Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
từ góc nhìn triết học”, Tạp chí Cộng sản, số 23/2010.Lê Công Quyền, “Tiếp
tục thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Xây dựng Đảng
online, 10/2013. Từ góc độ lý luận và thực tiễn, các bài viết trên đã luận giải
lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò dân chủ và thực
hiện QCDC cơ sở ở Việt Nam, khái quát sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng,
Nhà nước về thực hiện QCDC ở cơ sở và đề xuất một số nội dung, biện pháp
để thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở .
Toàn bộ các sách, đề tài khoa học, luận văn, luận án, bài báo khoa học
về vấn đề dân chủ, thực hiện QCDC ở cơ sở và lãnh đạo thực hiện QCDC cơ
sở trên là nguồn tài liệu rất quý để tác giả nghiên cứu và kế thừa. Tuy nhiên
do giới hạn về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cho đến nay vẫn chưa có
một công trình nào nghiên cứu về chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ

bàn nói trên.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm cơ bản của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của ĐCSVN
8


về vai trò của quần chúng nhân dân về nhà nước, về vai trò lãnh đạo của đảng
cộng sản về dân chủ, dân chủ XHCN và thực hiện QCDC ở cơ sở.
* Cơ sở thực tiễn
Toàn bộ thực tiễn lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ xã,
tỉnh Hải Dương và xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; Các báo cáo tổng
kết về lãnh đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, về lãnh đạo thực hiện
QCDC ở cơ sở nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Hải Dương; các tài liệu,
tư liệu, số liệu mà tác giả thu thập được trong quá trình nghiên cứu, điều tra
khảo sát được tại các địa phương.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
liên ngành và chuyên ngành, trong đó chú trọng các phương pháp hệ thống cấu trúc, logic - lịch sử phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội
học, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận
về chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở;
- Cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho cấp ủy, chính quyền,
MTTQ các cấp ở tỉnh Hải Dương lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nâng
cao chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ nói chung
và đảng bộ xã nói riêng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,

11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện
Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích
tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ.
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc thù của tỉnh, nên đa số nhân
dân của các địa phương sinh sống tập trung. Đây cũng là yếu tố thuận lợi để
tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân và triển khai các chương trình, đề án
phát triển KT-XH của địa phương.
10


Đặc điểm cơ cấu dân cư và các vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng
an ninh
Năm 2011, Hải Dương có 1.718.895 người với 405.090 hộ với mật độ
dân số 1.039 người/km². Thành phần dân số nông thôn chiếm 78,1%; thành thị
chiếm 21,9%. Tỷ lệ trong độ tuổi lao động khoảng 50% dân số. Tuy nhiên về
chất lượng lao động, nghề nghiệp thì tỷ lệ lao động phổ thông còn cao (chiếm
85%), lực lượng cán bộ quản lý có trình độ khoa học kỹ thuật cao còn hạn chế,
phần lớn chưa có kinh nghiệm hoạt động trong cơ chế thị trường. Số lao động
hàng năm tăng nhanh, trung bình khoảng trên 6.000người/1 năm.
Về đơn vị hành chính, tỉnh Hải Dương có 10 huyện, 1 thị xã và 1 thành
phố trực thuộc tỉnh Hải Dương (Thành phố Hải Dương; Thị xã Chí Linh;
Huyện Nam Sách; Huyện Kinh Môn; Huyện Kim Thành; Huyện Thanh Hà;
Huyện Cẩm Giàng; Huyện Bình Giang; Huyện Gia Lộc; Huyện Tứ Kỳ;
Huyện Ninh Giang; Huyện Thanh Miện), với 229 xã, 23 phường, 13 thị trấn.
Có 6 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh là: Kinh, Hoa, Sán Dìu, Sán Cháy, Hà
Nhì, Cà Tu trong đó đa số là người Kinh (chiếm 99,82). Đồng bào các dân tộc
thiểu số sống hoà thuận, đoàn kết và tập trung sinh sống ở các xã miền núi
thuộc thị xã Chí Linh, huyện Kinh Môn.
Hải Dương là khu vực tập trung nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Mảnh

biểu tình, bạo loạn. Đảm bảo vững chắc an ninh trên các lĩnh vực: văn hóa tư
tưởng, kinh tế, tôn giáo. Công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm
đạt kết quả tích cực. Triển khai thực hiện có kết quả Đề án “Làng an toàn, khu
dân cư an toàn; cơ quan, doanh nghiệp an toàn về an ninh trật tự” trên địa bàn
tỉnh. Giải quyết cơ bản một số "điểm nóng" phức tạp trên địa bàn tỉnh. [60].
* Khái quát về các xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định,
các đơn vị hành chính của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được phân định:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành
12


huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia
thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia
thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã;
quận chia thành phường [29]. Như vậy, xã là cấp cuối cùng trong hệ thống
chính quyền bốn cấp ở nước ta, là cấp thường xuyên tiếp xúc với dân và gần
dân nhất. Xã có vai trò rất quan trọng trong việc cụ thể hóa và tổ chức thực
hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
nhà nước ở địa phương. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện như thế nào trên
địa bàn phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ
sở, trong đó sự lãnh đạo của đảng bộ xã có vai trò quan trọng hang đầu.
Các xã của tỉnh Hải Dương là nơi cộng đồng dân cư làm ăn sinh sống,
tập trung một lực lượng lớn lao động, sản xuất ra lương thực, thực phẩm,
cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, xí nghiệp và các sản phẩm xuất khẩu,
liên kết chặt chẽ với nhau trong các quan hệ dòng họ, làng xóm, nghề nghiệp
và quan hệ kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo…được hình thành từ các làng (thôn,
xóm), có các đặc điểm chung về cấu trúc văn hoá, phong tục, tập quán…
nhưng cũng có nhiều nét riêng biệt; là nơi phản ánh trực tiếp tâm tư, tình cảm,

tranh; phong cách lãnh đạo, quản lý, làm việc của một số cán bộ còn biểu hiện
quan liêu, nể nang, né tránh. Đó là những lực cản đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai
trò của chính quyền, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong
thực hiện QCDC ở cơ sở của cấp xã, tỉnh Hải Dương hiện nay.
* QCDC ở cơ sở
Cơ sở ở đây, được hiểu là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực
hiện các hoạt động sản xuất, công tác… của một hệ thống tổ chức, trong quan
hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên [50, tr. 27]. Đối với hệ thống tổ chức
hành chính 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành), huyện (quận) và xã (phường, thị
trấn) của Nhà nước ta; xã, phường, thị trấn là các đơn vị hành chính cơ sở
(thường được gọi tắt là cơ sở).
14


Cơ sở là nơi các tầng lớp nhân dân sinh sống hàng ngày, nơi sản xuất,
kinh doanh, lao động, học tập của nhân dân, nơi nảy sinh những nhu cầu đa
dạng, bức xúc hàng ngày trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội; nơi trực tiếp
thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đồng thời
cũng là nơi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tác động
trực tiếp đến đời sống của người dân; nơi có tổ chức cơ sở của Đảng và chính
quyền thay mặt cho Đảng và Nhà nước lãnh đạo nhân dân, quản lý xã hội.
Chính vì vậy, cơ sở là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một
cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
Thực hiện dân chủ cơ sở là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để
mọi công dân được hưởng quyền dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
Đây là động lực mạnh mẽ để đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trong tình hình đó, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số
30/CT-TW về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, trong đó nhấn mạnh:
“Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân

phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của xã; kết
quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ
xã, thôn; xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ
gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội. Dân chủ
trong bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà
tình thương; thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, gia
đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thẻ
bảo hiểm y tế; giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn xã.
Dân chủ về quốc phòng, an ninh: Dân chủ trong trong bảo đảm chế độ
nghĩa vụ quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn
dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; chính sách hậu phương quân đội và
chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương; bảo đảm
giữ gìn an ninh, trật tự nơi công cộng, an toàn xã hội trên địa bàn.
16


* Thực hiện QCDC ở cơ sở
Thực hiện QCDC ở cơ sở tỉnh Hải Dương là tổng thể các chủ trương,
biện pháp, cách thức do hệ thống chính trị và nhân dân các xã tiến hành trên
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh…
bảo đảm cho nhân dân thực hiện đầy đủ, có hiệu quả quyền, lợi ích và nghĩa
vụ của mình theo đúng quy chế, phù hợp với mục tiêu xây dựng và phát triển
kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - An ninh ở địa phương,phát huy quyền
làm chủ của nhân dân ở địa phương, xây dựng địa phương vững mạnh.
Mục đích thực hiện QCDC ở cơ sở là nhằm bảo đảm cho nhân dân thực
hiện đầy đủ, có hiệu quả quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mình theo đúng quy
chế. Mục đích cao nhất của thực hiện QCDC ở cơ sở là để nhân dân phát huy
quyền làm chủ, khơi dậy sức sáng tạo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân trong xã, xây dựng các xã vững mạnh.
Chủ thể lãnh đạo thực hiện QCDC ở xã là đảng bộ, cấp ủy các cấp, chi

xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà tình
thương; thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, gia
đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thẻ
bảo hiểm y tế; kết quả lựa chọn, thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện các công
trình thuộc các chương trình, dự án của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhân
đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã.
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những công việc sau: Chủ trương
và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công
cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa,
thể thao); Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh,
giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội; Các
công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quy định của pháp
luật hiện hành; Thành lập Ban Giám sát các công trình xây dựng do dân đóng
góp; Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao
thông, vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bàn xã, thôn.
18


Những việc chính quyền xã có trách nhiệm đưa ra nhân dân thảo luận
hoặc tham gia ý kiến trước khi chính quyền xã quyết định (hoặc trình cấp có
thẩm quyền quyết định) gồm có: Dự thảo nghị quyết của HĐND xã; Dự thảo
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của xã,
phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và phương án phát triển
ngành nghề; Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương và
việc quản lý, sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích của xã; Phương án quy
hoạch khu dân cư; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới; kế hoạch, dự
án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng do xã quản lý; Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới
hành chính xã, đề án chia tách, thành lập thôn; Dự thảo kế hoạch triển khai
các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn xã; Chủ trương, phương án

quyền lực mà thông qua các đại diện do chủ thể đó ủy quyền thực hiện. Nhân
dân giữ quyền giám sát, kiểm tra hoạt động của đại biểu, cơ quan đại diện. Ở
cơ sở, đại diện có thể là trưởng thôn, đại diện các đoàn thể và đại biểu HDND
ở cấp xã.
Dân chủ trực tiếp hay dân chủ đại diện, mỗi hình thức có mặt mạnh và
cũng có mặt hạn chế, mỗi hình thức thích hợp cho những nội dung dân chủ cụ
thể, đồng thời có quan hệ tác động, giao thoa lẫn nhau.
Dân chủ trực tiếp có đặc điểm là không qua trung gian, nhân dân có
quyền quyết định trực tiếp những vấn đề họ quan tâm. Nhưng chất lượng của
dân chủ trực tiếp phụ thuộc nhiều vào trình độ kinh tế và dân trí, nếu người
dân còn thiếu ý thức pháp luật thì sẽ làm giảm hiệu quả thực hiện dân chủ trực
tiếp. Dân chủ đại diện có ưu điểm xác định rõ trách nhiệm cá nhân, tập trung
được thông tin, quyền lực và quyết định nhanh. Tuy nhiên, dân chủ đại diện
dễ dẫn đến độc đoán, quan liêu, xa rời nhân dân. Dân chủ đại diện đòi hỏi
phải có cơ chế kiểm tra, giám sát tốt. Do đó, trong quá trình thực hiện dân chủ
ở cơ sở, hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện có thể bổ khuyết
và hỗ trợ lẫn nhau.
20


Cơ chế lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện QCDC ở cấp xã được thực
hiện theo nguyên tắc: Đảng bộ lãnh đạo, chính quyền cấp xã quản lý, nhân
dân làm chủ. Cơ chế này là hệ thống chỉnh thể, phân định rõ ràng chức năng,
nhiệm vụ của từng bộ phận, từng lực lượng nhằm phát huy, sức mạnh tổng
hợp trong thực hiện QCDC ở cơ sở, đồng thời chỉ rõ mối quan hệ giữa các
thành tố trong quá trình thực hiện, tránh hiện tượng chồng chéo, lấn sân hoặc
thoái thác, đùn đẩy.
* Vai trò thực hiện QCDC ở cấp xã
Một là, thực hiện quy chế dân chủ ở xã góp phần nâng cao ý thức làm
chủ của người dân, đáp ứng lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân,

thực hiện QCDC ở cơ sở làm qua loa, đại khái thì ở đó và khi đó sẽ xảy ra
những hiện tượng mất ổn định, trật tự, xuất hiện tình trạng khiếu nại, tố cáo,
tụ tập đông người.
1.1.2 .Những vấn đề cơ bản về chất lượng lãnh đạo thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương
* Đảng bộ xã ở tỉnh Hải Dương:
Điều 10, Điều lệ Đảng (Khoá XI) quy định: Hệ thống tổ chức của Đảng
được tương ứng với hệ thống tổ chức chính trị của Nhà nước {25, tr19} theo
đó, đảng bộ xã ở tỉnh Hải Dương là tổ chức đảng cấp trên chi bộ được lập ở
xã theo quyết định của đảng uỷ cấp trên, là hạt nhân lãnh đạo chính trị, lãnh
đạo mọi mặt trong xã theo chức năng, nhiệm vụ, nội dung và quyền hạn quy
định, là trung tâm đoàn kết trong xã.
Đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương không gồm các doanh nghiệp, đơn vị sự
nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác. Các
chi bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy xã là các chi bộ thôn, chi bộ cơ quan, trường
học, trạm xá.
Trên cơ sở Điều lệ ĐCSVN (khóa XI) quy định về chức năng, nhiệm vụ
của TCCSĐ và Quy định 95 - QĐ/TW ngày 03/3/2004 của Ban Bí thư Trung
ương, đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương có chức năng là hạt nhân chính trị, lãnh
22


đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở xã,
phường, thị trấn vững mạnh, giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa
vụ đối với Nhà nước
Nhiệm vụ của đảng bộ xã tỉnh Hải Dương được thể hiện cụ thể ở những
nội dung sau:
Một là, lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội, an ninh quốc phòng

đức, tác phong Hồ Chí Minh và phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ
nghĩa xã hội trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên;
xây dựng tình đoàn kết, gắn bó tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc, giúp đỡ lẫn
nhau; tuyên truyền, vận động làm cho nhân dân hiểu và chấp hành đúng
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các
nhiệm vụ của địa phương.
Ba là, lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ
Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị;
xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tích
cực tạo nguồn cán bộ tại chỗ; xây dựng quy chế về công tác tổ chức, cán bộ;
nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, đãi ngộ đối
với cán bộ thuộc quyền; quản lý và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với
cán bộ ở cơ sở theo phân cấp; giới thiệu người đủ tiêu chuẩn, có tín nhiệm
trong tổ chức đảng và nhân dân để bầu vào các chức danh chủ chốt của hội
đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân
theo luật định và điều lệ của mỗi tổ chức.
Bốn là, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở xã
vững mạnh, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định và điều lệ của
mỗi đoàn thể. Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng và
Nhà nước, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của
24


nhân dân; lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây
dựng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và các nhiệm vụ của địa phương.
Năm là, xây dựng tổ chức đảng
Đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ trong
sạch, vững mạnh, gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng

nông thôn và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Đây là vùng
còn nhiều khó khăn về giao thông, thông tin liên lạc, nhất là các xã xa trung
tâm thành phố, thị trấn; trình độ dân trí không cao, đời sống nhân dân còn
nhiều vất vả, thiếu thốn so với các tỉnh lân cận. Vì vậy, các đảng bộ xã lãnh
đạo chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội huy động tổng hợp
sức mạnh của toàn xã hội tham gia đóng góp sức người, sức của thực hiện
nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng các xã, thôn (làng, xóm) với
tinh thần “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trên cơ sở các nội dung, quy định
của QCDC ở cơ sở, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”.
Ba là, đối tượng lãnh đạo của đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương chủ yếu
là nông dân, làm nông nghiệp với nhiều nét đặc trưng của cư dân trồng lúa
nước. . Nhân dân ở các xã chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, lợi nhuận thu
được từ hoạt động sản xuất không nhiều nên đời sống còn không ít khó khăn,
vất vả. Do đặc điểm làng, xã vùng đồng bằng sông Hồng, quan hệ của người
dân các xã, tỉnh Hải Dương có tính cộng đồng cao, gắn bó, cố kết chặt chẽ với
nhau qua nhiều đời, nhiều thế hệ. Người dân rất coi trọng tính tập thể, cộng
đồng. Tuy nhiên, mặt trái của quan hệ dòng họ, huyết thống, tình làng, nghĩa
xóm dễ dẫn đến biểu hiện cục bộ địa phương, co kéo cho gia tộc, dòng họ
theo quan niệm “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Mặt khác, lối sống
“trọng tình cảm” nên thường đẩy cái "lý" (luật pháp) xuống hàng thứ hai sau
cái “tình”, thậm chí còn có biểu hiện coi thường phép nước (pháp luật), "Phép
vua thua lệ làng". Với nghề nông làm chính nên vẫn còn tồn tại tâm lý tiểu
nông, manh mún, nhỏ lẻ, bảo thủ, cục bộ, nể nang, xuôi chiều, ngại va chạm,
26


ngại đấu tranh và những căn bệnh gia trưởng, quan liêu, hách dịch; còn tồn tại
những phong tục tập quán lạc hậu.
Bốn là, các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương hoạt động trong môi trường có
nhiều nét văn hóa đa dạng và riêng biệt; nhiều làng nghề và sản phẩm đã trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status