MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA SINH VIÊN
1.1.
Một số khái niệm công cụ
1.2.
Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên
trường đại học
1.3.
Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động tự học của
sinh viên trường đại học
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌCCỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI
HỌC THÀNH ĐÔ
2.1.
Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại
học Thành Đô
2.2.
Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên
Trường Đại học Thành Đô
2.3.
Nguyên nhân của thực trạng tự học và quản lý hoạt động
tự học của sinh viên Trường Đại học Thành Đô
Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THÀNH ĐÔ HIỆN NAY
3.1.
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức
đang đặt ra những yêu cầu mới không chỉ cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo
mà còn đòi hỏi mỗi cá nhân phải có khả năng thích ứng cao, linh hoạt trong
tiếp nhận, xử lý thông tin và không ngừng tự bồi dưỡng tri thức để đáp ứng
được các nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội. Chính vì vậy, việc phát
huy vai trò năng động chủ quan, chú trọng bồi dưỡng năng lực tự học, tự đào
tạo của người học đang là một nội dung quan trọng của đổi mới giáo dục,
đào tạo trong nhà trường hiện nay, đây được xem như một hướng đột phá,
được sự quan tâm lớn của xã hội và các trường đại học, cao đẳng trong cả
nước. Chính vì vậy, trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
lần thứ 8 (khóa XI), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại... Tập trung dạy cách học, cách
nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [39; tr.8]. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất
quan trọng của giáo dục, nhằm biến quá trình đào tạo của nhà trường thành
quá trình tự đào tạo của mỗi cá nhân.
Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho
các trường đại học nói chung và Trường Đại học Thành Đô nói riêng trong
giai đoạn hiện nay. Một trong những con đường để nâng cao chất lượng đào
tạo là đổi mới phương thức đào tạo nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của
sinh viên. Đối với sinh viên trường Đại học Thành Đô, nâng cao chất lượng tự
học có ý nghĩa rất quan trọng, trực tiếp quyết định đến chất lượng dạy và học,
tự học không chỉ giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ xảo, kỹ năng nghề
nghiệp mà còn là một trong những yếu tố quan trọng để biến nhận thức thành
4
chức và biện pháp quản lý phù hợp... Những hạn chế đó đã ảnh hưởng trực
tiếp đến kết quả giáo dục, đào tạo của Nhà trường.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý
hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Thành đô” làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, các nhà giáo dục đã sớm nhận
thức về vai trò quan trọng của tự học. Ngay từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 479 trước công nguyên) đã chỉ ra rằng: thầy giáo chỉ giúp cho học trò cái
mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra; Xôcơrát
(469 - 399 trước công nguyên) thì cho rằng cần phải để cho người học tự
suy nghĩ, tự tìm tòi, tự phát hiện thấy những sai lầm của mình và tự khắc
phục những sai lầm đó. Những tư tưởng của Khổng Tử và Xôcơrát về dạy
học, không những đề cao vai trò của người thầy mà còn rất xem trọng tính
tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của người học. Do đó, các ông
đã quan tâm dẫn dắt người học cách học và rèn cách học.
Nhiều thể ký sau đó, rèn luyện các kỹ năng tự học được các nhà giáo
dục quan tâm nghiên cứu như: Mông-te -nhơ (1532 - 1592, Pháp), Rút - xô
(1712 - 1778, Pháp), Usinxki (1824 - 1870, Nga)… Trong đó nổi bật nhất
là Cômenxki (1592 - 1670) là nhà giáo dục vĩ đại người Tiệp khắc (Cộng
hoà Séc), trong tác phẩm Khoa sư phạm của mình, khi bàn về vấn đề tự
học, ông khuyên “mỗi ngày nên giao cho trí nhớ một việc gì đó”, “Sự học
tập trau dồi kiến thức phải được bắt đầu, phát triển và tăng cường từ cội rễ
bên trong…, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần mà
phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên” [31].
Trong quản lý hoạt động học, ông cho rằng nhà trường và học sinh
cần tạo ra sự ham học, phát huy mạnh mẽ các chức năng tâm lý nhận thức
6
7
Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784), khi đề cập đến vấn đề học tập,
ông khuyên học trò “Biết hổ thực mới thành người”, “Biết học thì không thể
biện lẽ thiểu thì giờ”. Ông nêu ý kiến tiến bộ về quản lý xã hội theo mệnh đề:
“Tứ tổn” và “Ngũ quy”. Đây là những kiến giải quan trọng cho quản lý xã hội
nói chung, quản lý việc tự học nói riêng.
Hồ Chí Minh là người mở ra ký nguyên mới cho nền giáo dục cách
mạng Việt Nam, sinh thời Người đã luôn quan tâm đến các vấn đề về giáo
dục - đào tạo. Khi bàn về phương pháp học tập của người học, Người cho
rằng, chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu có trao đổi thảo luận để tìm hiểu nội
dung kiến thức môn học “ tổ chức từng ban cao cấp hoặc trung cấp, lấy tự học
làm cốt, do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [42; tr.38].
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, tác giả đã đi sâu nghiên
cứu về tự học như: Trung tâm nghiên cứu tự học - tự đào tạo với sự tham gia
của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Văn Tảo, Phó giáo sư Lê Khánh Bằng và
đã cho ra mắt một số tác phẩm: “Tự học, tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của
giáo dục Việt Nam”, “Luận bàn và kinh nghiệm về tự học”, “Quá trình dạy Tự học” của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn; “Quy trình học tập và tự học” của
Nguyễn Đình Xuân; “Rèn luyện phương pháp học tập có hiệu quả” của các
tác giả Quốc khánh, Phương Nga [23], khi đề cập vấn đề “Rèn luyện phương
pháp học tập có hiệu quả” đã đề cập đến phương pháp học khoa học và chỉ ra
cách rèn luyện trí nhớ khi đọc sách, cách rèn luyện các phương pháp học tập
sao cho hiệu quả và đạt kết quả cao trong thi cử.
Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách quản lý để
phát triển giáo dục. Theo đó, đề cập đến công tác quản lý hoạt động học tập
của người học, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ:
“Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề
cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề... nâng cao chất
9
Các công trình khoa học trên ở những khía cạnh khác nhau đã đề cập
về cách quản lý đối với người học - với tư cách là chủ thể trong quá trình
dạy học. Khẳng định tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động học
tập đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, trong đó đã đưa ra
được một số quan niệm, ý kiến trong việc khái quát về quản lý hoạt động tự
học và cách tự quản lý của người học. Thông qua tổng quan các công trình
nghiên cứu về tự học, quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở trên, có thể
rút ra một số nhận xét:
Về vấn đề tự học, quản lý hoạt động học tập của sinh viên đại học ở
Việt Nam đã có nhiều công trình chuyên khảo, đề tài nghiên cứu với các khía
cạnh khác nhau như: Hoạt động tự học của sinh viên các trường đại học; về
công tác quản lý sinh viên; quản lý chất lượng học tập…Nhưng lý luận về
biện pháp, cách thức, kỹ năng quản lý hoạt động tự học của sinh viên để định
hướng cho việc thực hiện quản lý hoạt động tự học của sinh viên thì chưa
được các tác giả quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng.
Ở một số trường đại học tuy đã có những công trình nghiên cứu đề
cập đến các phương hướng tổ chức hoạt động tự học của sinh viên; phương
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của họ. Song vấn đề quản lý hoạt
động tự học của sinh viên là vấn đề ít được nghiên cứu có hệ thống, cơ bản.
Do vậy, cần có những công trình đi sâu vào nghiên về vấn đề này, đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn giáo dục, đào tạo đang có những bước chuyển
biến mạnh mẽ cùng với xu hướng đổi mới toàn diện của giáo dục đại học
hiện nay ở trên thể giới và ở trong nước.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động
tự học của sinh viên Trường Đại học Thành Đô.
của sinh viên ; hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động tự học của sinh viên ;
11
tăng cường quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của đội ngũ
giảng viên ; nâng cao năng lực các chủ thể quản lý và vai trò tự quản lý hoạt
động tự học của sinh viên ; thường xuyên kiểm tra, đánh giá, kiểm định kết
quả hoạt động tự học của sinh viên ; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị
kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên thì sẽ
quản lý được hoạt động tự học của sinh viên, qua đó chất lượng học tập nói
riêng, chất lượng đào tạo nói chung của Nhà trường sẽ được nâng lên.
6. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận
- Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; các văn kiện nghị quyết của Đảng, Nhà nước về giáo dục đào tạo.
- Đề tài sử dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, thực tiễn để giải
quyết các vấn đề khoa học của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ
thống hoá, mô hình hoá, khái quát hoá trong nghiên cứu tài liệu lí luận có liên
quan đến quản lý hoạt động tự học.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý (phòng
đào tạo, giáo viên chủ nhiệm lớp), hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt
động tự học của sinh viên để rút ra những kết luận cần thiết.
+ Phương pháp điều tra bằng các bảng hỏi đối với sinh viên, giảng viên
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Một số khái niệm công cụ
1.1.1. Tự học của sinh viên
Tự học (self-learning) là khái niệm đã được các tác giả đưa ra các định
nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau:
Theo Thanh Nghị trong Việt Nam Tân Từ điển, “tự học là học một
mình theo sách, không có thầy dạy” hay “tự học là tự đi tìm lấy kiến thức”.
Tác giả Nguyễn Hiến Lê cho rằng “tự học là học không ai bắt buộc, tự
mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết dù có thầy hay không. Người tự học hoàn toàn
làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là
điều kiện quan trọng”, ông cũng nói rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng của
tự học: “Mỗi người đều nhận ra hai thứ giáo dục: Một thứ, do người khác truyền
cho, một thứ quan trọng hơn nhiêu, do mình tự kiếm lấy” [26, tr.34].
Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ và phấm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa
học…” [15, tr.3].
- Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn coi tự học là “nội lực” của người học, ông
cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh
quan, thể giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại,
biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Việc tự học sẽ được tiến hành khi
người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực
của bản thân cô gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó” [34, tr.52].
- Nghiên cứu phương hướng tổ chức tự học cho sinh viên các nhà
trường quân sự, tác giả Trịnh Quang Từ viết: “Tự học là quá trình nỗ lực
14
15
phú thêm những hiểu biết và nâng cao giá trị văn hóa của mình. Tự học biểu
hiện ý thức học tập rất cao của sinh viên, đây cũng là một mục tiêu cần giáo
dục cho sinh viên ở các trường đại học.
Tự học độc lập nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết riêng, mở rộng tri
thức ở bên ngoài. Đây là dạng tự học ở mức độ cao nhất, đòi hỏi tính tự giác
cao của người học nên biện pháp quản lý tốt nhất là quản lý nhiệm vụ học tập
hay sản phẩm người học hoàn thành
Tự học có hiệu quả khi nó diễn ra trong các điều kiện: Người học có
nhu cầu, có hứng thú học tập, mong muốn có thành tích cao trong học tập
làm cơ sở cho sự phát triển trong tương lai; chương trình đào tạo của nhà
trường phải đặt ra những yêu cầu cao, đòi hỏi sinh viên phải phấn đấu, nội
dung môn học có chứa các tình huống hấp dẫn đặt sinh viên vào trạng thái
phải tư duy tích cực; lớp học là một môi trường tích cực, ở đó mọi sinh
viên đều cố gắng, có những sinh viên tiên tiến là nòng cốt; nhà trường có
đủ giáo trình, tài liệu tham khảo và có phương tiện hỗ trợ sinh viên học tập;
giảng viên luôn đặt ra các yêu cầu cao, đòi hỏi sinh viên phải cố gắng phấn
đấu và sẵn sàng hướng dẫn sinh viên phương pháp học tập để đạt được mục
tiêu tốt nhất.
Như vậy, tự học sẽ đạt được kết quả tốt khi nó tụ hội những điều kiện
học tập thuận lợi, trong đó người dạy có yêu cầu cao, luôn động viên, khích lệ
và hướng dẫn cho người học phương pháp học tập, người học có ý thức học
tập, tập trung cao độ, kiên trì, tích cực và có phương pháp học tập sáng tạo.
1.1.2. Hoạt động tự học của sinh viên trường đại học
Hoạt động tự học của sinh viên trường đại học là quá trình nhận thức,
độc lập sáng tạo của người học và được tổ chức trong điều kiện sư phạm
nhất định, nhằm lĩnh hội, củng cố và vận dụng các kiến thức kỹ xảo, kỹ năng
nhằm đáp ứng tốt mục tiêu yêu cầu đào tạo của nhà trường.
17
mình phương pháp học tập phù hợp, khai thác tốt các điều kiện phương
tiện học tập hiện có.
Hoạt động tự học của sinh viên đòi hỏi chủ thể còn phải phát huy tính
tích cực của nhận thức, sẽ góp phần giải quyết các mâu thuẫn của quá trình
học tập. Tính tích cực của hoạt động nhận thức chúng ta có thể khái quát
dưới 2 dạng bên trong và bên ngoài.
Bên trong: là thái độ của chủ thể hoạt động, đó là sự tự nguyện, tự giác,
có nhu cầu hứng thú đối với việc học tập, có sự nỗ lực cố gắng, kiên trì khắc
phục khó khăn trong quá trình nắm tri thức và có khả năng định hướng đối
với nhiệm vụ nhận thức.
Bên ngoài: Đó là sự huy động cao nhất, các chức năng tâm lý để chiếm
lĩnh kiến thức, biểu hiện ra bên ngoài của nó là những trạng thái hoạt động
tích cực. Chẳng hạn là sự tập trung chú ý, sự căng thẳng trí tuệ, sự tận dụng
thời gian để thực hiện kế hoạch học tập và khả năng giải quyết các tình
huống một cách sáng tạo.
Như vậy, hoạt động tự học chính là quá trình sinh viên tự mình động
não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm
chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm
một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu
của mình. Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu
biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh
được kiến thức đó.
Ở các trường đại học nói chung và Trường Đại học Thành Đô nói
riêng, tự học là cần thiết và là cách học ở đại học. Đó là một hình thức tổ
chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm chiếm lĩnh hệ thống tri thức
và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành. Khi sinh viên tự mình
huy động mọi phẩm chất, năng lực của bản thân để tiến hành các hoạt
người học để tìm tòi, nghiên cứu, lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình
19
thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách theo mục tiêu yêu cầu
đào tạo. Theo quan niệm đó, quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở đại
học nói chung và sinh viên Trường Đại học Thành Đô nói riêng có các đặc
điểm chính sau:
Mục tiêu quản lý: Là những kết quả dự kiến sẽ đạt được do quá trình
vận động của đối tượng quản lý dưới sự tác động của chủ thể quản lý; sự
thống nhất trong nhận thức tư tưởng và hành động của chủ thể và đối tượng
quản lý. Mục tiêu quản lý hoạt động tự học của sinh viên hiện nay là xây
dựng môi trường sư phạm, nâng cao chất lượng đào tạo. Phát huy tối đa
tiềm năng, trí tuệ, sự năng động, sáng tạo, tính “tích cực hoá” của chủ thể
quản lý, nhằm nâng cao chất lượng tự học, tự rèn luyện, nghiên cứu khoa
học, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của sinh viên; đúc rút ra những kinh
nghiệm quản lý hoạt động tự học hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục, đào tạo.
Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý là tập thể, cá nhân được tổ chức giao
nhiệm vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc gián tiếp trong lãnh đạo, quản lý giáo
dục, rèn luyện sinh viên trong suốt quá trình đào tạo. Chủ thể quản lý hoạt
động tự học của sinh viên ở trường đại học là: các cấp uỷ đảng, tổ chức chỉ
huy; các cơ quan chức năng, khoa; đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo
dục; các tập thể sinh viên và tự quản lý của từng sinh viên.
Khách thể quản lý: Là những sinh viên, tập thể sinh viên và hoạt động
tự học của họ chịu sự tác động, điều khiển, quản lý của chủ thể lãnh đạo, quản
lý trong suốt quá trình đào tạo. Như vậy, sinh viên và tập thể sinh viên vừa là
khách thể (đối tượng chịu sự quản lý của chủ thể) vừa là chủ thể trong quá
trình tổ chức tự quản lý những hoạt động tự học của mình.
tính đặc thù, yêu cầu cao và phải xác định các biện pháp quản lý khoa học,
khả thi, phù hợp.
21
1.1.4. Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường
đại học
Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải
quyết một vấn đề cụ thể.
Biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, các hình thức tiến
hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải
quyết những vấn đề cụ thể của hệ quản lý, làm cho hệ vận hành phát triển
đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật
khách quan.
Theo đó, biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở trường
đại học là tổng hợp các cách thức quản lý của các chủ thể quản lý thuộc nhà
trường, tác động tới quá trình tự học của sinh viên nhằm thúc đẩy họ tự giác,
tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính
sinh viên, qua đó không ngừng nâng cao chất lượng học tập của sinh viên
theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã xác định.
Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên có vai trò rất quan
trọng nhằm xây dựng, củng cố các căn cứ khoa học, công cụ quản lý; giúp
nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kỹ năng quản lý; phát huy tốt vai trò của
các tổ chức, lực lượng giáo dục trong nhà trường, góp phần nâng cao chất
lượng tự học, hiện thực hoá các mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo của
nhà trường hiện nay. Việc xác định các biện pháp quản lý hoạt động tự học
của người học được tiến hành theo nhiều cách thức tiếp cận khác nhau
như: Tiếp cận theo phương pháp quản lý; tiếp cận theo quy trình, chức
năng quản lý; tiếp cận theo nguyên tắc quản lý giáo dục.
cách hợp lý dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các
điều kiện được đảm bảo nhằm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từng
môn học. Có kế hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập một
cách khoa học, năng động, sáng tạo và hiệu quả hơn.
23
* Quản lý việc xây dựng nội dung tự học
Nội dung tự học là hệ thống kiến thức học tập có tính bắt buộc phải
hoàn thành và hệ thống kiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung
học tập mà giáo viên giảng trên lớp.
* Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học
Tự học phải được xác định bắt đầu từ mục đích, động cơ học tập đúng
đắn, qua đó hình thành cách học, biện pháp học, kỹ thuật học,v.v... mà có thể
gọi là kỹ năng tự học. Do vậy, người học cần phải được hướng dẫn, bồi
dưỡng và rèn luyện kỹ năng tự học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
phổ thông, từ đó mới có thể xây dựng được phương pháp tự học.
Xây dựng phương pháp tự học của bản thân theo một kế hoạch hợp
lý là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệu quả học tập cao hơn.
Mỗi sinh viên cần phải xác định và chọn cho mình phương pháp tự học phù
hợp; Phòng công tác sinh viên, đội ngũ giảng viên của Trường Đại học
Thành Đô cần phải hướng dẫn và tạo điều kiện đảm bảo để sinh viên xây
dựng kế hoạch tự học và lựa chọn phương pháp tự học phù hợp.
* Quản lý việc xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả tự học
Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên hàng ngày, hàng
tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học và thực hiện kế hoạch tự học theo những
mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ học tập nhằm phát hiện những sai lệch giúp sinh
viên điều chỉnh kế hoạch tự học. Kiểm tra đánh giá kết quả tự học là chức
năng nhiệm vụ của giảng viên và cán bộ quản lý thông qua hiệu suất đào tạo
sinh viên, đó là: Luật giáo dục; Quy chế đào tạo của Nhà trường; Điều lệ công
tác học sinh, sinh viên, nội quy hoạt động của Nhà trường, Quy chế hoạt động
kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo và một số quy định, chỉ thị, hướng
dẫn khác. Các công cụ quản lý tác động trực tiếp trong quan hệ chỉ đạo,
hướng dẫn, điều khiển, tổ chức quản lý hoạt động tự học của sinh viên.
25
Tác động của cơ chế quản lý tới quản lý hoạt động tự học của sinh
viên: Cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý được thực hiện theo các
nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của sinh viên; sự
phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong tham mưu, thực hiện quản lý nhà
nước về phát triển bộ máy quản lý, xây dựng và thực hiện các quy chế quản
lý về giáo dục, đào tạo, quản lý hoạt động tự học của sinh viên. Cơ chế
quản lý tác động toàn diện đến sự vận hành các hoạt động của bộ máy quản
lý, nguyên tắc quản lý, phương pháp quản lý và giải quyết mối quan hệ
giữa các chủ thể quản lý.
Hai là, mục tiêu, nội dung, phương pháp quản lý và yêu cầu nâng cao
chất lượng giáo dục, đào tạo
Mục tiêu, nội dung, phương pháp quản lý là nhân tố quyết định chất
lượng giáo dục, đào tạo ở mỗi nhà trường đại học. Thực chất, đây là những
tác động toàn diện, sâu sắc tới toàn bộ quy trình quản lý, tới nhận thức và
hành động của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Đồng thời, định
hướng, điều khiển, chỉ đạo việc xác lập và thực hiện các biện pháp quản lý
giáo dục của nhà trường nói chung và quản lý hoạt động tự học, nâng cao
chất lượng học tập của sinh viên nói riêng. Do đó, cần căn cứ vào mục tiêu,
nội dung, phương pháp quản lý và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo mà lựa chọn cách tiếp cận phù hợp, xác định biện pháp quản lý
chính xác và hiệu quả.
chỉ huy, quản lý tác động đến việc hoạch định chủ trương, chiến lược phát
triển nhà trường, hệ thống các văn bản, quy chế, quy định, chỉ thị, hướng
dẫn quản lý, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch...
Chất lượng tự quản lý của tập thể sinh viên và từng sinh viên trong
hoạt động tự học ở Trường Đại học Thành Đô. Đây là những tác động trực
tiếp tới thái độ, động cơ ở trình độ tự giác cao, khả năng tập hợp các hoạt
động nhằm làm chuyển biến vị trí của người sinh viên từ đối tượng tiếp