MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON ĐÁP
ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
1.1. Khái niệm cơ bản của đề tài
1.2. Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non
đáp ứng chuẩn nghề nghiệp
1.3. Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động bồi dưỡng
giáo viên mầm non đáp ứng chuẩn nghề nghiệp
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON ĐÁP
ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở QUẬN HOÀN KIẾM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát tình hình số lượng chất lượng giáo viên mầm non
quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
2.2. Đánh giá thực trạng bồi dưỡng giáo viên mầm non đáp ứng
chuẩn nghề nghiệp ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non
đáp ứng chuẩn nghề nghiệp ở quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
GIÁO VIÊN MẦM NON ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ
NGHIỆP Ở QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1 Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm
non đáp ứng chuẩn nghề nghiệp ở quận Hoàn Kiếm, thành
phố Hà Nội
3.2 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
và phát triển những hình thái kinh tế xã hội mới.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 của Việt Nam cũng đã
xác định nhiệm vụ trọng tâm là tập trung đẩy mạnh phát triển đất nước theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa tiến tới: “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện mục tiêu đó phải bắt đầu từ việc xây
dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thật vậy, con người chính là yếu tố quan trọng trong việc tiến hành
thực hiện đổi mới phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Con người
trong xã hội mới cần phải được trang bị đầy đủ, toàn diện về tri thức, trình độ
chuyên môn, nắm bắt được khoa học kỹ thuật hiện đại tiên tiến, có kỹ năng
lao động, khả năng làm việc tốt, có tư duy nhạy bén, sáng tạo, biết sử dụng
thành thạo các trang thiết bị máy móc hiện đại… Giáo dục giữ vai trò quyết
định trong việc đào tạo cho xã hội mới đội ngũ lao động đủ về số lượng, đảm
bảo chất lượng để phát triển kinh tế, xã hội.
Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng
đã khẳng định “Phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng,
thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững”.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, là nền tảng đầu tiên của ngành GD&ĐT. GDMN có vai trò quan trọng
3
trong việc tạo cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ là
cơ sở để hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng, Phòng GD&ĐT quận Hoàn
Kiếm đã chú trọng hoạt động bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên đặc
biệt bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN. Hiện nay, ĐNGVMN quận Hoàn Kiếm
dưỡng đội ngũ GVMN thành phố Hải phòng trong giai đoạn từ nay đến năm
2015”, đã đi sâu nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng GVMN
từ năm 2003 của Thành phố Hải Phòng. Từ đó kiến nghị một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng ĐNGVMN trên địa bàn thành phố Hải
Phòng đến năm 2015.
Trong luận văn thạc sĩ: “Thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí
Minh”, tác giả Nguyễn Hữu Lê Huyên đã chỉ ra thực trạng về trình độ chuyên
môn của các GVMN được đào tạo chắp vá qua nhiều hệ, nhiều loại hình đào
tạo nên năng lực thực tế chưa tương thích với trình độ đào tạo. Qua đó, tác giả
đã đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến thực trạng công tác quản lý và bồi
dưỡng chuyên môn cho GVMN tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả Trần Thị Hoàng Vy trong luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý
hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trường mầm non ngoài công
lập quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng”, đã nêu được tính cấp thiết của việc
cần phải học tập, bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao trình độ chuyên môn đối
với ĐNGVMN đáp ứng với yêu cầu đổi mới của Ngành. Qua đó, tác giả cũng
đã chỉ ra những bất cập và đề xuất những biện pháp trong công tác quản lý
hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trường mầm non ngoài công
lập ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Tác giả Phạm Thị Thanh Thủy trong luận văn thạc sĩ QLGD: “Quản lý
hoạt động đào tạo GVMN ở Trường cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng”, đã đề cập
đến những vấn đề: GVMN; hoạt động đào tạo GVMN và quản lý hoạt động
đào tạo GVMN. Trên cơ sở của thực tiễn và lý luận đã nghiên cứu về đào tạo
5
GVMN ở Trường cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng, tác giả đã đề xuất 7 giải pháp
quản lý hoạt động đào tạo ở Trường cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng.
Trong luận văn thạc sĩ QLGD: “Phát triển ĐNGVMN theo CNN ở
các trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần
Duy Nam; Luận văn thạc sĩ QLGD: “Quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ cho đội ngũ biên tập nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Thị Bính đã đề cập đến việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ như là một tất
yếu khách quan, là chìa khóa để nâng cao chất lượng hoạt động ở các lĩnh vực
khác nhau.
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu đã trình bày ở trên, có thể rút
ra một số kết luận sau:
Một là, các công trình đều nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng của
bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng năng lực CMNV sư phạm cho ĐNGV nói
chung và GVMN nói riêng.
Hai là, nhiều công trình đã đề cập đến vai trò của người GVMN, ý
nghĩa của việc ban hành CNN GVMN và những vấn đề cấp thiết của việc
phải bồi dưỡng cho ĐNGVMN theo CNN, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt
nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Ba là, các công trình nghiên cứu đã phân tích những thực trạng về năng
lực CMNV của giáo viên và GVMN, những ưu điểm, hạn chế về trình độ
CMNV của GVMN và chỉ rõ những nguyên nhân của thực trạng để giúp các nhà
quản lý trong việc tổng kết những kinh nghiệm, trong việc phát huy ưu điểm,
khắc phục khuyết điểm, trong xây dựng ĐNGVMN có phẩm chất và năng lực
CMNV đáp ứng yêu cầu của bậc học mầm non trong giai đoạn hiện nay.
Bốn là, trên cơ sở luận giải lý luận và thực tiễn, các công trình đều đề
xuất những biện pháp hoặc để nâng cao chất lượng quá trình bồi dưỡng, hoặc
để quản lý quá trình bồi dưỡng năng lực CMNV cho ĐNGVMN.
Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN
đều được tổ chức thực hiện ở những lĩnh vực cụ thể, trên địa bàn và không
7
gian xác định. Những biện pháp bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng được đề xuất
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng
GVMN đáp ứng CNN tại các trường mầm non ở quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội.
Các số liệu điều tra, khảo sát sử dụng để nghiên cứu trong phạm vi 5
năm từ năm 2011 đến 2015.
5. Giả thuyết khoa học
Bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN là một vấn đề rộng lớn, phức tạp
với nội dung, hình thức hết sức đa dạng, phong phú. Do vậy, quản lý bồi
dưỡng giáo viên bị chi phối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu trong quản
lý bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN, các chủ thể quản lý thực hiện đồng bộ
và có hiệu quả những vấn đề như: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các
cấp, các lực lượng về bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN; xây dựng kế hoạch và
tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng; quản lý việc đổi mới nội dung, hình
thức và phương pháp bồi dưỡng; xây dựng môi trường sư phạm, tạo điều kiện
thuận lợi cho bồi dưỡng; phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của
giáo viên trong tự bồi dưỡng; kiểm tra, đánh giá thường xuyên kết quả bồi
dưỡng, kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thì sẽ quản lý tốt việc bồi
dưỡng GVMN đáp ứng CNN, góp phần nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ ở
các trường mầm non.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt tư tưởng giáo dục và
QLGD của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ trương chính
sách của Đảng, Nhà nước về quản lý giáo viên, về bồi dưỡng giáo viên trong
các nhà trường. Đồng thời tác giả vận dụng phương pháp luận nghiên cứu của
khoa học QLGD.
9
Tiến hành xin ý kiến chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm bồi dưỡng và
quản lý bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN tại các trường mầm non ở quận
Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay.
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu nhằm đánh giá chính xác kết
quả điều tra khảo sát thu được.
7. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn được nghiên cứu thành công sẽ đóng góp làm phong phú
thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng
GVMN đáp ứng CNN tại các trường mầm non ở quận Hoàn Kiếm, Thành phố
Hà Nội.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng bồi dưỡng và quản lý bồi
dưỡng GVMN đáp ứng CNN tại các trường mầm non ở quận Hoàn Kiếm,
Thành phố Hà Nội hiện nay. Luận văn giúp CBQL các trường mầm non ở
quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội phát huy những thành tựu, khắc phục
những hạn chế trong bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN của nhà trường.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho việc đề xuất các biện pháp nhằm quản lý tốt hơn việc bồi dưỡng
GVMN đáp ứng CNN tại các trường mầm non ở quận Hoàn Kiếm nói riêng
và Thành phố Hà Nội nói chung.
8. Kết cấu của đề tài
Cấu trúc của luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (8 tiết); Kết luận và kiến
nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục.
11
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
- Bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em
ở nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
- Thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo
chương trình GDMN: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; Xây dựng môi trường
giáo dục, tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Đánh
giá và quản lý trẻ em; Chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ em; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường,
nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
- Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;
Gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của
trẻ em; Bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ
đồng nghiệp.
- Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ
trẻ. Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.
- Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hóa; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
- Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của
ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng.
Tại Điều 34 Văn bàn hợp nhất số 05/VBHN-BGDĐT Quyết định ban
hành Điều lệ trường mầm non của Bộ GD&ĐT ngày 13/02/2014 qui định:
Trình độ chuẩn được đào tạo của GVMN là có bằng tốt nghiệp trung cấp sư
phạm mầm non.
Các nhiệm vụ của người GVMN có liên quan chặt chẽ với nhau, tác
động qua lại, bổ sung cho nhau. Và được tiến hành thống nhất trong quá trình
chăm sóc giáo dục trẻ. Để hoàn thành sứ mệnh là người xây dựng nền móng ban
đầu của nhân cách, GVMN cần phải đạt những tiêu chuẩn sau:
- Về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe và
lý lịch bản thân rõ ràng. Yêu cầu cụ thể là:
việc thực hiện các chức năng, các phương pháp, biện pháp quản lý được thống
nhất theo những nguyên tắc xác định; quy chuẩn các sản phẩm, các quá trình
14
tạo ra sản phẩm; khuyến khích và tạo môi trường chính thức ngày càng thích
hợp cho sự phát triển, đồng thời hạn chế những nhân tố tự phát, phi chính
thức trong phát triển hoặc những nhân tố phát triển.
“Chuẩn” là yêu cầu, tiêu chí có tính nguyên tắc, công khai và mang tính
xã hội được đặt ra bởi quyền lực hành chính và cả chuyên môn để làm thuớc
đo đánh giá trình độ đạt được về chất lượng, hoạt động của công việc, sản
phẩm, dịch vụ…trong lĩnh vực nhất định theo mong muốn của chủ thể quản
lý nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
* Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non
Chuẩn nghề nghiệp GVMN là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm
chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà GVMN cần
phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu GDMN.
Mục đích ban hành CNN GVMN:
Là cơ sở để xây dựng, đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng
GVMN ở các cơ sở đào tạo GVMN.
Giúp GVMN tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, trên cơ sở đó xây dựng
kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
Làm cơ sở để đánh giá GVMN hằng năm theo Quy chế đánh giá xếp
loại GVMN và giáo viên phổ thông công lập ban hành kèm theo Quyết định
số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, phục vụ hoạt
động quản lý, bồi dưỡng và quy hoạch ĐNGVMN.
Làm cơ sở để đề xuất chế độ, chính sách đối với GVMN được đánh giá
tốt về năng lực nghề nghiệp.
Bộ GD&ĐT ra Quyết định ban hành Quy định về CNN GVMN. Theo
sau: Sống trung thực, lành mạnh, giản dị, gương mẫu, được đồng nghiệp,
người dân tín nhiệm và trẻ yêu quý; tự học, phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo
đức, trình độ chính trị, CMNV, khoẻ mạnh và thường xuyên rèn luyện sức
khoẻ; không có biểu hiện tiêu cực trong cuộc sống, trong chăm sóc, giáo dục
trẻ; không vi phạm các quy định về các hành vi nhà giáo không được làm.
16
Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp;
tận tình phục vụ nhân dân và trẻ. Bao gồm các tiêu chí sau: Trung thực
trong báo cáo kết quả chăm sóc, giáo dục trẻ và trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ được phân công; đoàn kết với mọi thành viên trong trường; có tinh
thần hợp tác với đồng nghiệp trong các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ; có
thái độ đúng mực và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cha mẹ trẻ em;
chăm sóc, giáo dục trẻ bằng tình thương yêu, sự công bằng và trách nhiệm
của một nhà giáo.
Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức
Kiến thức cơ bản về GDMN. Bao gồm các tiêu chí sau: Hiểu biết cơ
bản về đặc điểm tâm lý, sinh lý trẻ lứa tuổi mầm non; có kiến thức về GDMN
bao gồm giáo dục hoà nhập trẻ tàn tật, khuyết tật; hiểu biết mục tiêu, nội dung
chương trình GDMN; có kiến thức về đánh giá sự phát triển của trẻ.
Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ trẻ lứa tuổi mầm non. Bao gồm các
tiêu chí sau: Hiểu biết về an toàn, phòng tránh và xử lý ban đầu các tai nạn
thường gặp ở trẻ; có kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và giáo
dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ; hiểu biết về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm
và giáo dục dinh dưỡng cho trẻ; có kiến thức về một số bệnh thường gặp ở trẻ,
cách phòng bệnh và xử lý ban đầu.
Kiến thức cơ sở chuyên ngành. Bao gồm các tiêu chí sau: Kiến thức về
phát triển thể chất; kiến thức về hoạt động vui chơi; kiến thức về tạo hình, âm
nhạc và văn học; có kiến thức môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và phát
kiện của nhóm, lớp; biết sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng,
đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo
dục trẻ; biết quan sát, đánh giá trẻ và có phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ
phù hợp.
Kỹ năng quản lý lớp học. Bao gồm các tiêu chí sau: Đảm bảo an toàn
cho trẻ; xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch
hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; quản lý và sử dụng có hiệu quả hồ sơ, sổ
18
sách cá nhân, nhóm, lớp; sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của
trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc, giáo dục.
Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng
đồng. Bao gồm các tiêu chí sau: Có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một
cách gần gũi, tình cảm; có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một
cách chân tình, cởi mở, thẳng thắn; gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao
tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ; giao tiếp, ứng xử với cộng đồng trên tinh thần
hợp tác, chia sẻ.
1.1.3. Hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non đáp ứng chuẩn nghề nghiệp
* Khái niệm bồi dưỡng
Bồi dưỡng là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực
khác nhau. Thuật ngữ bồi dưỡng còn được gọi là đào tạo lại hoặc tái đào tạo.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [40,
tr.191].
Tuy nhiên, khái niệm bồi dưỡng có những cách hiểu khác nhau.
Theo nghĩa rộng, bồi dưỡng là quá trình đào tạo nhằm hình thành năng
lực và phẩm chất nhân cách theo mục tiêu xác định. Như vậy, bồi dưỡng bao
hàm cả quá trình giáo dục và đào tạo nhằm trang bị tri thức, năng lực, chuyên
môn nghiệp vụ và những phẩm chất nhân cách. Quá trình bồi dưỡng, được
hiểu theo nghĩa rộng diễn ra cả trong nhà trường và trong đời sống xã hội, có
phân công làm nhiệm vụ bồi dưỡng.
Đối tượng bồi dưỡng: là giáo viên các trường mầm non, họ vừa là đối
tượng bồi dưỡng, vừa là chủ thể của quá trình bồi dưỡng. Quá trình bồi dưỡng
chỉ thực sự đạt hiệu quả khi người giáo viên biến quá trình bồi dưỡng thành tự
bồi dưỡng.
Nội dung bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN hết sức phong phú và đa
dạng, có tính toàn diện, từ những tri thức cơ bản và tri thức chuyên môn nghiệp
vụ; kỹ năng kỹ xảo sư phạm; các hệ giá trị nghề nghiệp; các chuẩn mực đạo
20
đức nghề nghiệp nhà giáo… Có thể tập trung vào bồi dưỡng những nội dung cơ
bản sau:
- Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, tình cảm, thái độ và lý tưởng
nghề nghiệp của nhà giáo.
- Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.
- Bồi dưỡng nghệ thuật giao tiếp sư phạm và ứng xử các tình huống sư phạm.
- Bồi dưỡng kỹ năng hoạt động chính trị xã hội.
- Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.
- Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước.
- Chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao
động.
- Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà
giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp.
- Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp;
tận tình phục vụ nhân dân và trẻ.
Về phương pháp bồi dưỡng: Cần đổi mới cách thức quản lý, chỉ đạo
học tập bồi dưỡng theo hướng tích cực tương tác, thiết thực, hiệu quả. Coi
trọng tự học, tự bồi dưỡng kết hợp với trao đổi, thảo luận, giải đáp thắc mắc
của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,
chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [2, tr.11].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là
khách thể quản lý ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [34, tr.87].
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều chỉnh các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với qui luật, đạt tới
mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý.
Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để tạo
ra một sự chuyển biến toàn bộ hệ thống nhằm đạt đến một mục đích nhất định.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét
22
cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá
trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình
“Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển” [2, tr.89].
Tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song khái niệm
quản lý đã được lột tả qua một số nội dung sau đây: Quản lý là một loại hoạt động
xã hội, luôn gắn liền với một nhóm người hay một tổ chức xã hội nào đó. Bản
chất của hoạt động quản lý, là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý thông qua các chức năng quản lý là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra giúp cho hệ thống ổn định, thích ứng, tăng trưởng và phát triển.
* Khái niệm quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non đáp ứng
chuẩn nghề nghiệp
Từ những cách tiếp cận trên, có thể quan niệm : Quản lý hoạt động bồi
dưỡng GVMN đáp ứng CNN là những tác động có mục đích, có hệ thống của chủ
thể quản lý đến quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ bồi
dưỡng, đánh giá kết quả bồi dưỡng nhằm làm cho GVMN đáp ứng các CNN đã
ban hành đối với GVMN.
mọi hoạt động. Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng
quản lý vì các chức năng khác đều phải dựa vào nó để hướng vào thực hiện
mục tiêu của tổ chức.
Khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN, cần dựa trên
những cơ sở sau:
Phân tích thực trạng bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN ở thời điểm
trước thông qua thực tế công việc và tổng kết tình hình bồi dưỡng trong năm.
Từ đó rút ra những ưu điểm và khuyết điểm, sắp xếp từng vấn đề để giải
quyết.
Tìm hiểu nhận thức về CNN của GVMN, hành động giáo dục, từ đó có
kế hoạch điều chỉnh.
Kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở khảo sát tình hình đội ngũ
GVMN. Khảo sát đội ngũ để phân loại thành các nhóm khác nhau nhằm định
24
hướng các nội dung và hình thức bồi dưỡng cho mỗi nhóm. Có thể tổ chức
việc khảo sát và phân loại theo các cách tiếp cận sau:
Phân loại theo nội dung bồi dưỡng: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;
bồi dưỡng năng lực; các lĩnh vực chính trị, văn hóa, chuyên môn, kỹ năng...
Phân loại theo mục tiêu bồi dưỡng: Bồi dưỡng nâng cao; bồi dưỡng
hoàn chỉnh (kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ)
Phân loại theo đối tượng bồi dưỡng: Bồi dưỡng GVMN mới ra trường,
bồi dưỡng GVMN lâu năm, bồi dưỡng GVMN nâng chuẩn.
Phân loại theo tính chất và quy mô: Bồi dưỡng GVMN giỏi, bồi dưỡng
GVMN cốt cán, bồi dưỡng đại trà, ...
Phân loại theo kế hoạch thời gian: bồi dưỡng dài hạn; ngắn hạn; bồi
dưỡng thường xuyên theo chu kỳ; bồi dưỡng theo chuyên đề, ...
Kế hoạch bồi dưỡng phải xác định mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng
theo CNN.
hiệu quả cao và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của GVMN trong
bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.
1.2.2. Tổ chức thực hiện mục tiêu, nội dung, chỉ đạo đổi mới phương
pháp và hình thức bồi dưỡng
Việc xây dựng mục tiêu bồi dưỡng là vấn đề đặc biệt quan trọng. Mục
tiêu bồi dưỡng là một phần của mục tiêu xây dựng người GVMN đáp ứng
CNN của Bộ GD&ĐT đã ban hành. Do vậy, mục tiêu bồi dưỡng GVMN
chính là góp phần xây dựng đội ngũ GVMN vững mạnh toàn diện cả về chính
trị, tư tưởng đạo đức và trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm.
Quản lý bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN phải xây dựng được mục tiêu cụ thể
của từng đợt bồi dưỡng và tổ chức thực hiện mục tiêu bồi dưỡng đã xác định.
Trên cơ sở mục tiêu bồi dưỡng đã xác định, cần xây dựng, lựa chọn các
nội dung bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng chính là hệ thống các kiến thức về
chính trị xã hội, về chuyên môn, nghiệp vụ của GDMN, về tay nghề (kĩ năng,
kĩ xảo), mà người học cần phải được lĩnh hội để đạt được mục tiêu bồi dưỡng.
26