LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục QUỐC PHÒNG AN NINH CHO SINH VIÊN TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội HIỆN NAY - Pdf 42

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Cơ sở vật chất
Chủ nghĩa xã hội
Công tác quốc phòng
Cán bộ
Dạy học
Đội ngũ cán bộ
Đại học Sư phạm Hà Nội
Giáo dục Quốc phòng
Giáo dục Quốc phòng và an ninh
Khoa Giáo dục Quốc phòng
Giáo dục và Đào tạo
Lực lượng vũ trang
Phương pháp giảng dạy
Quốc phòng toàn dân
Quốc phòng và an ninh
Xã hội chủ nghĩa
Vũ khí trang bị

Chữ viết tắt
CSVC
CNXH
CTQP
CB
DH
ĐNCB
ĐHSPHN
GDQP
GDQP-AN
KGDQP

Nội
Chương 2 YÊU CẦU VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ

41

YẾU QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1. Những nhân tố tác động và yêu cầu quản lý hoạt động

61

GDQP và AN cho sinh viên ở Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội hiện nay.
2.2. Biện pháp tổ chức quản lý hoạt động giáo dục quốc
phòng và an ninh ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội

61
71

2.3. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng và an
ninh cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

89
95
98

GDQP-AN, thiếu trách nhiệm và ý chí vượt khó, chưa thật sự tích cực, tự giác
trong học tập, rèn luyện. Một số ít giảng viên chưa thật sự quan tâm đầu tư
nghiên cứu, tìm tòi nâng cao chất lượng bài giảng; quản lý tổ chức các hình
thức huấn luyện chưa chặt chẽ, duy trì các chế độ dễ dãi… Chính vì vậy, chất


4

lượng học tập môn GDQP-AN của không ít sinh viên chưa cao, chưa toàn
diện. Hạn chế, bất cập trong GDQP-AN cho sinh viên được bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân quan
trọng từ những yếu kém trong quản lý hoạt động GDQP-AN cho sinh viên
của Nhà trường.
Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, trong nước có những
diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường; tình hình tranh chấp chủ
quyền biển, đảo giữa các quốc gia trong khu vực trên biển Đông; sự chống
phá quyết liệt của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hoà bình",
bạo loạn lật đổ… đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải quan tâm, đầu tư hơn nữa đến
công cuộc củng cố, tăng cường tiềm lực và sức mạnh QP-AN với những chủ
trương, giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả. Cần đặc biệt quan tâm GDQPAN cho toàn dân, trước hết là cho cán bộ, đảng viên và học sinh, sinh viên;
phải đổi mới công tác tổ chức quản lý GDQP-AN cho các đối tượng, trong
các cơ sở giáo dục - đào tạo, nhất là các trường đại học, cao đẳng góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục GDQP-AN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
thời kỳ mới.
Vì vậy, việc chọn vấn đề "Quản lý giáo dục quốc phòng an ninh cho
sinh viên ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay" làm đề tài luận văn
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Giáo dục quốc phòng và an ninh là vấn đề chiến lược, có tầm quan

quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia.
Các chuyên đề về: vấn đề quốc phòng và giáo dục quốc phòng ở một số
nước; chiến lược quốc phòng, tư duy mới của Đảng về quốc phòng; vị trí, vai
trò và ý nghĩa của đổi mới giáo dục quốc phòng; quan điểm của Đảng, Chính
phủ và Bộ Quốc phòng về chỉ đạo giáo dục quốc phòng; Những vấn đề có
tính quy luật, những căn cứ đánh giá kết quả đổi mới giáo dục quốc phòng
trong hệ thống giáo dục quốc gia


6

- Tác giả: Nguyễn Đức Đăng ( 2011). “ Quản lý công tác giáo dục quốc
phòng – an ninh cho sinh viên hệ chính quy tại trường ĐHKHXH & NV,
ĐHQGHN”. Đề tài của tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý công tác GDQP
– AN cho sinh viên hệ chính quy trường ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN. Đồng
thời đề xuất các giải pháp quản lý công tác GDQP – AN cho sinh viên hệ
chính quy trường ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN góp phần nâng cao hiệu quả
công tác quản lí môn học xong đề tài chưa đưa ra được các giải pháp mang
tính đồng bộ trong quản lý công tác GDQP – AN đối với sinh viên chuyên
nghành [7].
- Tác giả: Nguyễn Văn Huận ( 2003). “ Những giải pháp phát triển đội
ngũ giáo viên GDQP”. Đề tài của tác giả đã tập trung nghiên cứu về thực
trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng viên làm công tác GDQP tại các
trung tâm, khoa, bộ môn GDQP - AN, đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể
để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội biệt phái giảng dạy tại các cơ
sở giáo dục nói trên, cũng như việc định hướng trong giáo dục đào tạo đội
ngũ giáo viên làm công tác giảng dạy môn GDQP ở các trường THPT, góp
phần thực hiện nghị định 116 của Thủ tướng Chính phủ về công tác GDQP
đối với HSSV ở các bậc học [15].
- Phạm Xuân Hảo (chủ nhiệm đề tài). Nguyễn Văn Cần. Hoàng Văn

cán bộ hiện nay và đến 2020; yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình giáo
dục quốc phòng; hình thức giảng dạy, lực lượng giảng dạy kiến thức quốc
phòng cho cán bộ, học sinh, sinh viên từ nay đến 2020.
- Lê Minh Vụ, (chủ nhiệm đề tài). Trần Đăng Thanh. Nguyễn Đức
Hạnh: Học viện Chính trị Quân sự (2007).
Tổng hợp các chuyên đề về: xác định và xây dựng khung chương trình
giáo dục quốc phòng cho học sinh trung học phổ thông, học sinh trung học
chuyên nghiệp, sinh viên các trường cao đẳng và đại học; bồi dưỡng kiến thức
quốc phòng cho cán bộ Đảng, nhà nước và cán bộ đoàn thể quần chúng
- Nguyễn Minh Khải. (chủ nhiệm đề tài). Bùi Ngọc Quỵnh. Nguyễn
Trọng Xuân: Học viện Chính trị Quân sự (2007). Đổi mới giáo dục quốc


8

phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia - Quan điểm và giải pháp cơ bản đổi
mới giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Các chuyên đề về giáo dục quốc phòng, gồm: quan điểm và giải pháp
đổi mới, nâng cao, tăng cường chất lượng đội ngũ giáo viên, phương pháp
giảng dạy cho học sinh trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, sinh
viên cao đẳng, đại học và đội ngũ cán bộ hiện nay.
- Lê Minh Vụ, (chủ nhiệm đề tài). Vũ Quang Lộc. Nguyễn Minh Khải.
Phạm Xuân Hảo; và những người khác: Học viện Chính trị Quân sự (2007).
Đổi mới giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia.
Trình bày cơ sở lý luận của việc đổi mới giáo dục quốc phòng trong hệ
thống giáo dục quốc gia. Nêu thực trạng và kinh nghiệm giáo dục trong hệ
thống giáo dục quốc gia hiện nay. Đề xuất phương pháp đổi mới giáo dục
quốc phòng.
- Ngoài những công tác trên, đã có rất nhiều bài viết đăng trên các báo,

quản lý hoạt động GDQP-AN cho sinh viên góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo của Trường ĐHSPHN.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về GDQP-AN và quản lý hoạt động
GDQP-AN cho sinh viên ở Trường ĐHSPHN.
- Đánh giá thực trạng và rút ra một số kinh nghiệm quản lý hoạt động
GDQP-AN cho sinh viên ở Trường ĐHSPHN.
- Đề xuất các biện pháp cơ bản quản lý hoạt động GDQP-AN cho sinh
viên ở Trường ĐHSPHN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDQP-AN cho sinh viên ở Trường ĐHSPHN.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động GDQP-AN cho sinh viên ở Trường ĐHSPHN.
* Phạm vi nghiên cứu


10

Nghiên cứu hoạt động tổ chức dạy và học môn GDQP-AN của giảng
viên, sinh viên Trường ĐHSPHN. Các số liệu có liên quan phục vụ cho luận
văn được giới hạn từ năm 2007 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Giáo dục quốc phòng và an ninh là một môn học trong chương trình
đào tạo đại học. Quản lý hoạt động GDQP-AN cho sinh viên phải được tiến
hành theo chức năng, nhiệm vụ quản lý giáo dục trong nhà trường. Nếu các
chủ thể quản lý xác định đúng mục tiêu, kế hoạch giáo dục, xây dựng khoa,
bộ môn GDQP-AN phù hợp, đủ mạnh; chỉ đạo sát sao việc đổi mới nội dung,
phương pháp dạy và học, phát huy tính tích cực tự giác, chủ động của sinh
viên trong tự học, tự nghiên cứu, kiểm tra đánh giá nghiêm túc kết quả học

GDQP-AN ở Trường ĐHSPHN hiện nay.
- Phương pháp khảo sát: Khảo sát thực tế về cơ sở vật chất trang thiết
bị dạy học, chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý hoạt động
GDQP-AN ở Trường ĐHSPHN.
- Phương pháp trao đổi, tọa đàm: Trao đổi, tọa đàm với giảng viên,
sinh viên về chương trình, chất lượng giảng dạy và học tập môn GDQP-AN,
từ đó rút ra kết luận có tính cơ sở khoa học phục vụ cho nghiên cứu.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Thông qua kết quả tổng hợp của các
hoạt động GDQP-AN để làm rõ thực trạng và đề ra biện pháp giải quyết
những vấn đề liên quan.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến các nhà khoa học, nhà
quản lý và đồng nghiệp về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến
quá trình nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp toán học
thống kê để tổng hợp kết quả điều tra, xử lí trong quá trình nghiên cứu.
7. Ý nghĩa của luận văn
* Những đóng góp mới về mặt khoa học


12

- Xây dựng quan niệm quản lý

hoạt động GDQP-AN ở Trường

ĐHSPHN.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDQP-AN của Trường
ĐHSPHN hiện nay.
* Ý nghĩa của luận văn
- Đề tài cung cấp thêm luận cứ khoa học giúp cho Ban Giám hiệu Nhà

“hoạt động quản lý”. Ông là người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức
năng cơ bản “kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Faylo đã
nhấn mạnh đến ý nghĩa của cấu trúc (bộ máy) tổ chức, ông đã khẳng định
rằng, khi con người lao động hiệp tác thì quan trọng là họ phải xác định rõ
công việc mà họ phải hoàn thành.
H.Koontz thì lại khẳng định “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó
đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục


14

đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian,
tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
M.T.Follet (1868 - 1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú
trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế
lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm. Theo Bà "Quản lý là nghệ thuật khiến cho
công việc được thực hiện thông qua người khác".
C.I.Bamard (1886 - 1961) quan tâm đến đối tượng quản lý là các cá
nhân con người đơn nhất và coi tổ chức như một hệ thống mở, ông nhấn
mạnh đến mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận với hệ thống, giữa hệ thống
với môi trường đặc thù của tổ chức. Ông cho rằng: "Quản lý không phải là
công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn duy trì hoạt động của tổ
chức.
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: "Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ
chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định".
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều quan niệm khác nhau về
quản lý. Song điểm chung của các quan niệm này là đều khẳng định chủ thể,
đối tượng quản lý, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lý.

giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Ở các cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã cũng đã có những cách
diễn đạt khác nhau về quản lý giáo dục, song các tác giả cũng đều thống nhất
đề cập đến chủ thể, khách thể của quản lý giáo dục, mục tiêu, cách thức và
công cụ quản lý giáo dục. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý nâng
cao được hiệu quả quản lý của mình tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống
giáo dục quốc dân.
1.1.3. Hoạt động giáo dục quốc phòng- an ninh


16

Đảng và Nhà nước ta đã xác định “giáo dục và đào tạo cùng với khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” “Đầu tư cho giáo dục cũng là đầu tư
cho phát triển”. Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề
nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng nhu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong hơn 20 năm qua, giáo dục
đại học đã đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
phát triển cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đổi
mới, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố QP - AN bảo vệ Tổ quốc. Bước vào
giai đoạn mới, công tác giáo dục - đào tạo có nhiều thời cơ thuận lợi mới.
Trước hết là chúng ta có điều kiện tiếp cận với những nguồn tri thức và thông
tin phong phú, phục vụ cho nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu và học
tập; tiếp thu kinh nghiệm quản lý, phát triển giáo dục đại học của các nước
tiên tiến, từ đó vận dụng phù hợp với điều kiện của nước ta để phát triển hệ
thống giáo dục theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”; đồng thời
tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng, tiếp cận các chuẩn quốc tế,

phải điều chỉnh lại nội dung huấn luyện quân sự phổ thông cho phù hợp với
giai đoạn phát triển mới nhằm tăng cường nhận thức của học sinh về nền quốc
phòng toàn dân.
Năm 1991, chương trình giáo dục quốc phòng chính khoá được ban
hành theo Quyết định 2732/QĐ ngày 28/10/1991 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
đã đánh dấu bước phát triển của môn học với những thay đổi lớn cả về tên
gọi, kết cấu chương trình và nội dung giáo dục. Theo đó, thời lượng của các
phần thực hành kĩ năng được giảm bớt, tăng thời lượng cho giáo dục truyền
thống và nhận thức về nền QPTD cho phù hợp với điều kiện phát triển mới
của đất nước. Cùng với những thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội của đất


18

nước, nội dung chương trình GDQP cho các bậc học ban hành theo Quyết
định 12/2000/QĐ - BGD&ĐT ngày 9/5/2000 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã
có sự thay đổi về chất, đáp ứng sát thực hơn trước yêu cầu phát triển.
Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã kí ban hành Quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT về Chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có môn
học GDQP-AN. Như vậy, tên môn học GDQP-AN đã được hình thành.
Điều 2, Nghị định số 116/2007/NĐ - CP ngày 10 tháng 7 năm 2007 của
Chính phủ về GDQP-AN chỉ rõ “GDQP và AN là bộ phận của nền giáo dục
quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân;
là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục, đào tạo Trung học phổ
thông đến Đại học và các Trường Chính trị, Hành chính, Đoàn thể”.
Ngày 24/12/2007 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số
81/2007/QĐ-BGDĐT về chương trình GDQP-AN cho sinh viên các trường
đại học, cao đẳng nhằm cập nhật kiến thức quốc phòng và bổ sung những nội
dung về an ninh.
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:

ưu tú của thế hệ trẻ Việt Nam được Đảng, Nhà nước rất quan tâm đào tạo, bồi
dưỡng thành nguồn nhân lực "vừa hồng, vừa chuyên" không chỉ đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội mà còn trở thành những người có ý chí,
bản lĩnh, quyết tâm chiến đấu, có đủ khả năng đóng góp vào sự nghiệp củng
cố, tăng cường tiềm lực QP-AN bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Thực tiễn những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khẳng định
những đóng góp to lớn của môn huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh,
sinh viên vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, trong nước diễn biến
hết sức mau lẹ, khó lường. Hoà bình, hợp tác vẫn là xu thế lớn, nhưng xung
đột dân tộc, sắc tộc, chạy đua vũ trang, chiến tranh cục bộ, khủng bố vẫn xảy


20

ra ở nhiều nơi, đặc biệt là những diễn biến gần đây trên biển Đông đang đặt ra
yêu cầu mới cao hơn trong xây dựng nền QPTD, xây dựng, củng cố sức mạnh
QP-AN, bảo vệ Tổ quốc, trong đó việc giáo dục làm cho thế hệ trẻ, trước hết
là học sinh, sinh viên hiểu rõ trọng trách nặng nề, nhưng vinh quang trước vận
mệnh dân tộc; thiếu rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù; nắm vững đường lối,
quan điểm của Đảng và có trình độ, năng lực để góp sức mình vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, GDQP-AN cho sinh viên là một
yêu cầu không thể thiếu trong chương trình, nội dung đào tạo của các trường
đại học, cao đẳng để hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con
người Việt Nam mới, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng mà ông cha ta
đã đổ xương máu xây dựng nên.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: "Tăng
cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm

- Lực lượng trực tiếp GDQP-AN cho sinh viên là đội ngũ giảng viên ở
Khoa GDQP và cán bộ quản lý lớp học. Khoa GDQP có chức năng nghiên
cứu, giảng dạy môn GDQP-AN cho sinh viên theo kế hoạch. Để thực hiện
chức năng, Khoa GDQP xây dựng chương trình chi tiết, điều hành và tổ chức
thực hiện kế hoạch giảng dạy đã được phê duyệt, bố trí giảng viên giảng dạy
phù hợp với khả năng chuyên môn của từng người, thực hiện kế hoạch kiểm
tra, thi và đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Tổng hợp kết quả học tập và
rèn luyện của sinh viên báo cáo với cơ quan chức năng. Đội ngũ giảng viên
GDQP-AN cho sinh viên ở Trường ĐHSPHN hiện nay là những sĩ quan quân
đội biệt phái, giảng viên của các học viện, nhà trường quân đội đang công tác
hoặc đã nghỉ hưu giảng dạy theo chế độ hợp đồng, thỉnh giảng. Nhiệm vụ của
họ là chuẩn bị tốt bài giảng được phân công và trực tiếp giảng dạy; chịu trách
nhiệm cá nhân về nội dung giảng dạy. Cán bộ phụ trách lớp, cán bộ quản lý
sinh viên chịu trách nhiệm quản lý, rèn luyện sinh viên ngoài giờ và tổ chức
các hoạt động ngoại khoá trong giai đoạn huấn luyện thực hành.


23

- Nội dung GDQP-AN cho sinh viên: Xuất phát từ vị trí, vai trò và mục
tiêu GDQP-AN cho sinh viên, nội dung GDQP-AN cho sinh viên Trường
ĐHSPHN bao gồm ba khối kiến thức lớn. Đó là những vấn đề chủ yếu về
đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; những tri thức, tư duy quân sự,
quốc phòng cần thiết và một số kỹ năng hoạt động quân sự cơ bản. Khối kiến
thức đó bao gồm: những nội dung cơ bản về quốc phòng; truyền thống đấu
tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc; trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân
về bảo vệ Tổ quốc; nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có ý thức
cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kiến thức cơ bản
về đường lối quốc phòng và công tác quản lý nhà nước về quốc phòng, về lực
lượng vũ trang nhân dân; những kỹ năng quân sự cần thiết để tham gia vào sự

GDQP-AN phải hết sức đa dạng, phong phú. GDQP-AN cho sinh viên bao
gồm cả lý thuyết và thực hành. Các nội dung lý thuyết được tổ chức với hình
thức học tập trung trên giảng đường như các môn học khác, với phương pháp
thuyết trình có sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin, tranh vẽ là chủ
yếu. Các nội dung thực hành thường tổ chức luyện tập trên thao trường, bãi tập,
phòng tập điện tử. Cùng với những hình thức cơ bản trên, GDQP-AN cho sinh
viên còn được tổ chức bằng các hình thức khác như: thảo luận, toạ đàm, diễn
đàn, hội thao quốc phòng, tự nghiên cứu, nghiên cứu thực tế, thi tìm hiểu lịch
sử, truyền thống, tham quan các di tích lịch sử trên địa bàn, thăm Bảo tàng lịch
sử quân sự, bảo tàng của một số quân, binh chủng, giao lưu với cán bộ, chiến sĩ
các đơn vị quân đội, rèn luyện thông qua các hoạt động quân sự có trong
chương trình, tham gia các câu lạc bộ thể thao mang tính quốc phòng…
GDQP-AN cho sinh viên còn được thực hiện thông qua các môn học khác,
nhất là những môn khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật – công
nghệ gần với chuyên môn quân sự và qua các phương tiện thông tin đại chúng
1.1.5. Sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và giáo dục quốc
phòng và an ninh cho sinh viên ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
* Một số nét về Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


25

Trường ĐHSPHN được thành lập ngày 11/10/1951 theo Nghị định số
276 của Bộ Quốc gia Giáo dục . Ngày 10 tháng 12 năm 1993 theo Nghị định
số 97/CP của Chính phủ, Trường ĐHSPHN I là một thành viên thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội. Theo Quyết định số 201/QĐTTg ngày 12 tháng 10 năm
1999 của Thủ tướng Chính phủ, Trường ĐHSPHN tách khỏi Đại học Quốc
gia Hà Nội thành trường độc lập, trực thuộc Bộ GD&ĐT.
Hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, Trường ĐHSPHN đã không
ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Nhà trường là nơi đào tạo nguồn nhân lực và bồi




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status