Công tác xã hội đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh An Giang - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THU HẰNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành
Mã số

: Công tác xã hội
: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn đảm bảo tin cậy, chính xác,
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn


28

Ch

33

ng 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI

NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
2.1. Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh An Giang ảnh hưởng đến

33

công tác xã hội đối với người nghèo ở tỉnh An Giang
2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với người nghèo ở tỉnh An

35

Giang
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người

57

nghèo tỉnh An Giang
Ch

ng 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

66


Lao động- Thương binh và Xã hội

CTXH

Công tác xã hội

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

ASXH

An sinh xã hội

DVXH

Dịch vụ xã hội

DTTS

Dân tộc thiểu số

MTQG

Mục tiêu quốc gia

XĐGN

Xóa đói giảm nghèo


Bảng 2.5. Số liệu hỗ trợ trợ giúp pháp lý cho người nghèo

47

Bảng 2.6. Số liệu về chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo

50

Bảng 2.7: Hiệu quả hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm

55

Biểu đồ 2.3: Nhận xét của người dân về nhân viên CTXH

56

Bảng 2.8: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người nghèo

57

Bảng 2.9. Một số yếu tố thuộc về bản thân người nghèo

58

Bảng 2.10. Một số yếu tố thuộc về cán bộ làm CTXH

60

Bảng 2.11. Một số yếu tố thuộc về cán bộ lãnh đạo địa phương


động- TBXH, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống
còn 4,25% (năm 2015). Tuy vậy, kết quả giảm nghèo giai đoạn 2010- 2015
chưa bền vững, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa
được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Nhận thức
về trách nhiệm của một bộ phận người nghèo chưa cao, vẫn còn tư tưởng
trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước chưa chủ động vươn lên thoát
nghèo…

1


Trong giai đoạn 2016- 2020 với phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều,
mục tiêu cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo.
Cùng với những chính sách, công tác giảm nghèo đổi mới phương pháp tiếp
cận từ chủ yếu là thực hiện chính sách trợ cấp, bảo trợ cho người nghèo sang
tiếp cận theo phương pháp CTXH với người nghèo, đó là phát huy thế mạnh,
tính chủ động của người nghèo, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội để
giảm nghèo bền vững. Quyết định 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010- 2020 là căn cứ
pháp lý để triển khai các hoạt động trợ giúp cho các đối tượng nói chung,
trong đó có người nghèo. Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện tại tỉnh An
Giang, CTXH với người nghèo đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần
phải nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng, tìm ra những mặt được và chưa
được trong quá trình thực hiện, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo trong những giai đoạn tiếp theo.
Từ những vấn đề đã nêu, trên cở sở lý thuyết, lý luận và những phương
pháp, kỹ năng CTXH đã được trang bị trong Chương trình Cao học CTXH
kết hợp với phân tích thực tiễn, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Công tác xã
hội đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh An Giang” làm đề tài Thạc sĩ công
tác xã hội.

Trong cuốn tài liệu tập huấn “CTXH với những cá nhân có nhu cầu đặc
biệt“- Chương trình đào tạo cán bộ quản lý CTXH cấp cao, Cục Bảo trợ xã
hội, Học viện Xã hội Châu Á (2014). Cuốn sách đã trình bày một cách khái
quát về thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người cao
tuổi, người nghèo… trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, đặc điểm
tâm sinh lý và nhu cầu của các nhóm đối tượng, một số chương trình chính
sách của nhà nước đối với các nhóm đối tượng, một số mô hình chăm sóc hỗ
trợ, các kỹ năng làm việc với các nhóm đối tượng.
Tại An Giang, đã có những công trình, đề tài nghiên cứu liên quan đến
vấn đề giảm nghèo và công tác xã hội như:
3


-“Giảm nghèo trong 18 năm đầu đời: Những động lực đói nghèo tại
Việt Nam – nghiên cứu tại An Giang và Đồng Tháp” (2013). Đề tài do Viện
Khoa học xã hội vùng Nam Bộ thực hiện. Căn cứ trên cơ sở số liệu khảo sát
mức sống hộ gia đình của Việt Nam và định tính về nghèo tiền tệ, nghèo đa
chiều ở trẻ em tại các địa bàn khảo sát, nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết quả
kiểm chứng giả thuyết là: không nhất thiết trẻ em giàu về tiền tệ là có cuộc
sống tốt; các tác nhân tâm lý xã hội như nhận thức và thái độ của trẻ, thái độ
của cha mẹ các em sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các hệ quả
của nghèo đa chiều ở trẻ em, bất kể trẻ em có nghèo về tài chính hay không;
nguyên nhân nghèo là do cha mẹ đi làm ăn xa hoặc không có việc làm ổn
định, thu nhập thấp, nên không có điều kiện chăm sóc trẻ;… Qua đó, nhóm
cũng đã đề xuất các chính sách giảm nghèo cho trẻ như: phải có bộ công cụ
đo lường đầy đủ về nghèo ở trẻ em; nâng cao thu nhập và đảm bảo nguồn thu
nhập ổn định cho cha mẹ trẻ; thực hiện tốt các chính sách xã hội, cung cấp tốt
các dịch vụ xã hội cho trẻ em…
- Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giảm nghèo bền vững ở An Giang cơ hội
và thách thức”, nhiều tác giả, An Giang (2014), đã phân tích, đánh giá thực

nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020: „„Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng
kinh tế của An Giang bằng mức trung bình của cả nước, đến năm 2020, quy
mô nền kinh tế nằm trong nhóm khá của khu vực đồng bằng Sông Cửu
Long”, theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ X, nhiệm kỳ
2015- 2020 đề ra.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng công tác xã hội đối với
người nghèo trên địa bàn tỉnh An Giang từ đó đề xuất, khuyến nghị các định
hướng, giải pháp tăng cường công tác xã hội đối với người nghèo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5


Nghiên cứu về Công tác xã hội đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh
An Giang. Để đạt được mục tiêu đề ra, khi nghiên cứu đề tài cần thực hiện
những nhiệm vụ như sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người
nghèo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng người nghèo, thực trạng hoạt động
công tác xã hội đối với người nghèo cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả công tác xã hội đối với người nghèo trên địa bàn tỉnh An Giang.
- Đề xuất, khuyến nghị định hướng, các giải pháp tăng cường công tác
xã hội đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh An Giang.
4 Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động công tác xã hội đối với người nghèo ở tỉnh An Giang, bao
gồm các hoạt động: tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức; hoạt động tư
vấn, tham vấn; hỗ trợ cho người nghèo tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như

tâm, sinh lý, đặc điểm, nhu cầu của con người, nhất là người nghèo, cũng như
những yếu tố có liên quan đến các hoạt động hỗ trợ của CTXH đối với người
nghèo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Nghiên cứu và phân tích các tài liệu,
các công trình nghiên cứu đã được công bố về giảm nghèo cũng như công tác
xã hội; Các tài liệu, báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các chính sách, các
báo kết quả thực hiện Đề án 32, Chương trình MTQG giảm nghèo giai đoạn
2011- 2015; Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 20162020.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình
thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều
tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu
hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của
mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên.
Trong phạm vi đề tài này, học viên lựa chọn ngẫu nhiên 100 hộ nghèo
trên 2 huyện đại diện của tỉnh An Giang (huyện đồng bằng và huyện miền núi
7


dân tộc: Thoại Sơn, Tịnh Biên); 25 cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp tỉnh,
huyện, xã để thu thập và phân tích thông tin.
- Phương pháp thảo luận nhóm đối với cán bộ và hộ nghèo: Bên cạnh
việc sử dụng phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi, học viên tiến
hành thảo luận, phỏng vấn với 02 nhóm hộ nghèo và cán bộ làm công tác
giảm nghèo tại Thoại Sơn, Tịnh Biên (mỗi nhóm 15 hộ nghèo và 4 cán bộ) về
kết quả thực hiện của một số hoạt động trợ giúp người nghèo nhằm thu thập
thông tin nhiều chiều hoặc trái chiều để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu về công tác xã hội đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh An

người nghèo từ thực tiễn tỉnh An Giang

9


Ch

ng 1

NH NG VẤN Đ L LUẬN V CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHÈO
1 1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của ng ời nghèo
1.1.1. Một số khái niệm nghèo
Nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội, biểu hiện của nó là có một bộ
phận người dân sống dưới mức trung bình của xã hội về vật chất, tinh thần, khả
năng dễ bị tổn thương, bị ảnh hưởng bởi các vấn đề xã hội, vì vậy, đây là vấn đề
bức xúc cần quan tâm giải quyết. Hiện nay có nhiều khái niệm về nghèo.
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham
gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ
mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để
trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp
cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị
loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị
bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không
được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”. (Tuyên bố Liên Hiệp
Quốc, tháng 6/2008).
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại tổ chức Bangkok, Thái Lan vào
tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng:
"Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn

dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế;
trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà
ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu
hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

12


1.1.2. Đặc điểm của người nghèo
Người nghèo là những người có tên trong sổ hộ nghèo. Người nghèo là
những người có cuộc sống bấp bênh vì không được tiếp cận với các chính
sách, dịch vụ. Họ thiếu các điều kiện đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của con
người về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành và chăm sóc sức khoẻ; tiếp cận với các
kết cấu hạ tầng và các nguồn lực xã hội kém; thiếu tự tin và dễ bị tổn thương;
ít có điều kiện tham gia vào các quyết định của địa phương và tăng trưởng,
phát triển kinh tế - xã hội [4, tr.5-6].
Đặc điềm người nghèo, thể hiện cơ bản như sau:
- Đặc điểm về kinh tế: Người nghèo thiếu các điều kiện để tạo ra thu
nhập như đất sản xuất đối với người nghèo ở nông thôn, thiếu vốn, việc làm
không ổn định và thu nhập thấp, nhiều người nghèo rơi vào tình trạng nợ
nần,... Do thu nhập thấp và không ổn định và chuyên môn kỹ thuật thấp,
thường xuyên phải đối mặt với thiếu thốn trong chi tiêu cho cuộc sống tối
thiểu.
- Đặc điểm về đời sống: Người nghèo thường đông con, già yếu, bệnh
tật,… Người nghèo sống thấp hơn mức sống trung bình của xã hội. Người
nghèo khó khăn về nhà ở; phương tiện đi lại; tiếp cận thông tin, y tế, pháp
lý,... hạn chế.
- Đặc điểm về xã hội: Từ những đặc điểm kinh tế và đời sống của người
nghèo dẫn tới vị trí xã hội của người nghèo cũng hạn chế. Người nghèo dễ bị
tổn thương khi có thiên tai hay những tác động về kinh tế như khủng hoảng,

Chính vì vậy, họ cũng có nhu cầu được tiếp cận các thông tin về các loại hình
thiên tai, hiểm họa tự nhiên, thảm họa, biến đổi khí hậu; thông tin, kiến thức
và kỹ năng sản xuất, chăm sóc sức khỏe; thông tin về kinh tế, chính trị, xã
hội; thông tin về chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính và các loại hồ sơ
giấy tờ cần thiết để được nhận hỗ trợ, bảo trợ từ Nhà nước và các tổ chức xã
hội…; nhu cầu hỗ trợ các phương tiện thông tin như sách, báo, đài radio…

14


- Nhu cầu được chăm sóc y tế: Đây là nhu cầu có thể nói là rất cần thiết
và được đa số người nghèo quan tâm. Bởi đa số họ, do sống trong điều kiện
thiếu thốn về vật chất nên dễ ốm đau, bệnh tật, hơn nữa lại thu nhập thấp nên
khi mắc bệnh lại không có tiền để chi trả chi phí khám chữa bệnh.
- Nhu cầu được sống trong môi trường an toàn, vệ sinh: phần lớn người
nghèo sống trong tình trạng thiếu thốn mọi mặt cơ sở vật chất thiết yếu cho
cuộc sống. Chính vì vậy, họ đều mong muốn được sống, sinh hoạt và sản xuất
trong một môi trường an toàn, đảm bảo những nhu cầu căn bản như nhà ở,
điện, nước sạch và thức ăn hợp vệ sinh để có thể đảm bảo cho sức khỏe, có
khả năng tái sản xuất sức lao động, tránh bị bệnh tật.
1.2. Khái niệm, các nguyên tắc và nội dung của công tác xã hội đối
với ng ời nghèo
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm về công tác xã hội
Có nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở các góc độ khác nhau:
Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH (1995): “CTXH là một khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những
chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”. [22, tr.12].
Hiệp hội quốc gia nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW – 1970):
“Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm, hoặc cộng

trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia
đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm
bảo an sinh xã hội” [29, tr.19].
1.2.1.2. Khái niệm về công tác xã hội đối với người nghèo
CTXH với người nghèo là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
cá nhân, gia đình và cộng đồng nghèo nâng cao năng lực, đáp ứng những nhu
cầu thiết yếu về sức khỏe, tinh thần, vật chất và những nhu cầu xã hội cơ bản
khác. Đồng thời, CTXH cũng có vai trò thúc đẩy môi trường xã hội, kết nối
nguồn lực nhằm giúp người nghèo có khả năng tiếp cận các chính sách giảm
16


nghèo và các dịch vụ xã hội cần thiết từ đó thoát nghèo nhanh và bền vững
góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
1.2.2. Các nguyên tắc của công tác xã hội làm việc với người nghèo
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của
ngành CTXH tác giả xin đưa ra một số nguyên tắc trong quá trình làm việc
của CTXH đối với người nghèo như sau:
- Nguyên tắc đầu tiên là cần chấp nhận người nghèo: NVCTXH không
được có thái độ mặc cảm, định kiến đối với người nghèo trong bất kể tình
huống nào, phải luôn tôn trọng và thấu hiểu họ, không phê phán hay áp đặt ý
kiến của mình lên họ.
- Nguyên tắc thứ hai là phải để người nghèo cùng tham gia giải quyết vấn
đề: NVCTXH chú ý tới các năng lực tiềm ẩn trong mỗi người nghèo để họ có
thể phát huy, tự quyết định hành động, tự giải quyết vấn đề, chúng ta không
làm hộ, làm thay cho họ. Đây là một trong những nguyên tắc vô cùng quan
trọng bởi lẽ không ai có thể tự giải quyết được vấn đề cho người nghèo mà
chính người nghèo cần phải được tham gia vào và tự giải quyêt vấn đề của họ.
- Nguyên tắc thứ 3 là tôn trọng quyền tự quyết của người nghèo:
NVCTXH chỉ là nhân tố tác động, còn chính người nghèo mới là nhân tố

CTXH được xem là một lĩnh vực hoạt động nhằm giúp đỡ các cá nhân,
gia đình và cộng đồng gặp khó khăn để họ có thể thực hiện tốt các chức năng
xã hội. CTXH triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ cho con người, một
mặt giúp đỡ những người gặp khó khăn, nâng cao năng lực, khả năng ứng phó
và giải quyết các vấn đề khó khăn của họ. Mặt khác, hoạt động CTXH giúp
những người khó khăn tiếp cận các nguồn lực xã hội để đáp ứng các nhu cầu
cá nhân, ngăn ngừa, phòng chống các vấn đề xã hội có thể xảy ra. Trong đề
tài này tác giả xin trình bày 5 hoạt động chính của CTXH đối với người
nghèo bao gồm:

18


1.2.3.1. Hoạt động tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức
Tuyên truyền, vận động nhằm mục đích giúp cho người dân, người
nghèo, cán bộ và cộng đồng nghèo nắm bắt được các chính sách giảm nghèo
của Nhà nước, các chương trình, dự án, các mô hình, điển hình trong công tác
giảm nghèo thông qua nhiều hình thức phong phú, đa dạng của hoạt động
truyền thông tại cộng đồng như truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp,
hoạt động tư vấn, tham vấn… Nhân viên CTXH tại cộng đồng vận dụng các
kiến thức, kỹ năng trong hoạt đông truyền thông để tuyên truyền, vận động
người dân nhất là người nghèo nâng cao nhận thức từ đó thay đổi thái độ,
hành vi để có những hành động phù hợp với bản thân mình nhằm vươn lên
thoát nghèo bền vững.
1.2.3.2. Thực hiện tư vấn, tham vấn về giảm nghèo
Hoạt động tư vấn, tham vấn cho người nghèo tại cộng đồng là hết sức
cần thiết vì bản thân người nghèo gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống,
thiếu thông tin, trình độ thấp. Do đó nhân viên CTXH đóng vai trò là người
tham vấn, tư vấn cho người nghèo, cộng đồng nghèo các giải pháp phù hợp
nhất trong việc lập kế hoạch sản xuất, chăn nuôi, tạo việc làm… và đưa ra các

cần phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể để hỗ trợ
người nghèo trong độ tuổi lao động được tham gia học nghề miễn phí và tạo
việc làm sau khi học xong nghề. Để người dân thoát nghèo bền vững thì việc
dạy nghề đi đôi với giải quyết việc làm là hoạt động mang tính cốt lõi, do đó
nhân viên CTXH cần nắm rõ xu hướng nghề nghiệp và thị trường lao động để
từ đó có giải pháp hỗ trợ cho người nghèo một cách phù hợp theo từng nhóm
đối tượng nghèo khác nhau tại công đồng.
1.2.4. Lý thuyết và phương pháp tiếp cận trong công tác xã hội đối
với người nghèo
1.2.4.1. Lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội đối với người nghèo
Ngành CTXH tiếp cận và sử dụng một số lý thuyết khoa học về xã hội
thuộc ngành tâm lý học như: Thuyết vai trò, thuyết nhận thức - hành vi,
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status