B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--- ---
NGUYN KIM OANH
Quản lý hoạt động dạy học
theo hướng tích hợp ở các trường tiểu học
huyện phú xuyên, thành phố hà nội
LUN VN THC S QUN Lí GIO DC
H NI - 2017
B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--- ---
NGUYN KIM OANH
Quản lý hoạt động dạy học
theo hướng tích hợp ở các trường tiểu học
huyện phú xuyên, thành phố hà nội
CHUYấN NGNH: QUN Lí GIO DC
M S
: 60 14 01 14
NGI HNG DN KHOA HC: PGS, TS NGUYN VN PHN
Nguyễn Kim Oanh
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Cán bộ quản lý
Cơ sở vật chất
Giáo dục và Đào tạo
Hoạt động dạy học
Nhà xuất bản
Quản lý giáo dục
Chữ viết tắt
CBQL
CSVC
GD&ĐT
HĐDH
Nxb
QLGD
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP Ở CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan của vấn đề nghiên cứu
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.3. Đặc điểm của dạy học tích hợp
6
6
17
27
30
34
38
38
42
50
73
73
75
92
100
104
108
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Trang
TT
Tên bảng, biểu đồ, hình và sơ đồ
1. Bảng 2.1. Quy mô trường, lớp, học sinh tiểu học huyện Phú Xuyên
42
2. Bảng 2.2. Trình độ của đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Phú Xuyên
14. Bảng 2.14. Đánh giá xếp loại học sinh tiểu học theo 5 nhiệm vụ
quy định ở Điều lệ trường tiểu học
65
15. Bảng 2.15. Xếp loại học lực học sinh tiểu học huyện Phú Xuyên
66
16 Bảng 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp
93
17 Bảng 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp
95
18 Bảng 3.3. Tương quan giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
97
19 Biểu đồ 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp
95
20 Biểu đồ 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp
96
21 Biểu đồ 3.3. Tương quan giữa mức độ cần thiết và khả thi của
các biện pháp
99
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước những biến đổi, xu thế phát triển hiện nay, không chỉ có Việt
Nam mà rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện việc đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp dạy học để nâng cao dạy học nguồn nhân lực,
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong chiến lược
phát triển nguồn nhân lực của quốc gia thì giáo dục, đào tạo con người phát
triển một cách toàn diện về trí tuệ, phẩm chất, năng lực được coi là vấn đề
quan trọng nhằm tạo ra lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, có kỹ
năng lao động, kiến thức ngoại ngữ và thái độ nghề nghiệp phù hợp yêu
học tập của học sinh có nội dung còn đơn giản và hình thức.
Những hạn chế ấy do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân từ công
tác quản lý HĐDH tích hợp của cán bộ quản lý nhà trường có ảnh hưởng nhất
định. Về mặt lý luận, hiện nay vấn đề dạy học tích hợp và quản lý dạy học tích
hợp cho ở một số cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân nói
chung, đã được các nhà khoa học nghiên cứu, luận giải dưới góc độ, chuyên
ngành khác nhau, song chưa có đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nào đề
cập đến nội dung quản lý HĐDH tích hợp ở các trường tiểu học huyện Phú
Xuyên. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Quản lý HĐDH theo hướng
tích hợp ở các trường tiểu học huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”, để
nghiên cứu, làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp quản lý HĐDH theo hướng tích hợp, góp phần đổi
mới và nâng cao chất lượng dạy học ở các trường tiểu học huyện Phú Xuyên,
thành phố Hà Nội hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý HĐDH ở trường tiểu học huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐDH theo hướng tích hợp ở các trường tiểu học huyện Phú
Xuyên, thành phố Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Hiệu quả HĐDH theo hướng tích hợp ở trường tiểu học phụ thuộc vào
nhiều yếu tố. Nếu chủ thể quản lý xây dựng và thực hiện tốt các biện pháp
như: bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho
giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy tích hợp; xây dựng và tổ chức thực hiện kế
7. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài người nghiên cứu lựa chọn các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập và đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu: các văn
bản, sách báo, tài liệu, báo cáo của nhà trường, các công trình nghiên cứu
khoa học liên quan đến đề tài.
Phân tích, tổng hợp và kết luận tài liệu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra ý kiến CBQL và giáo
viên ở 10 trường tiểu học huyện Phú Xuyên để làm rõ thực trạng và các biện
pháp quản lý HĐDH theo hướng tích hợp góp phần nâng cao chất lượng dạy
học ở bậc tiểu học của huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay.
Phương pháp quan sát: Tham dự một số tiết dạy của giáo viên, các
hoạt động của các tổ chuyên môn và các hoạt động học tập của học sinh.
Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn: Tiến hành gặp gỡ Ban Giám hiệu
nhà trường, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên để trao đổi, mạn đàm về HĐDH
theo hướng tích hợp đang diễn ra ở nhà trường.
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm giáo dục: nghiên cứu hồ sơ bài
dạy tích hợp, kết quả dạy học của giáo viên; và kết quả học tập của học sinh.
4
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các văn bản tổng kết,
đánh giá kết quả dạy học của một số trường tiểu học có dạy học tích hợp.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý kết quả điều tra.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
Các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học, có thể thấy các công
trình nghiên cứu tiêu biểu như tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987) viết
giáo trình “Giáo dục học” gồm tập 1, tập 2; Đặng Vũ Hoạt (2009), viết giáo
trình “Lý luận dạy học hiện đại”; Bùi Văn Quân (2005), viết tài liệu dạy học
“Một số vấn đề về lý luận dạy học hiện đại”; Bùi Minh Hiền và cộng sự
(2006), viết giáo trình “Quản lý giáo dục”; Nguyễn Xuân Thức (2012), nghiên
cứu viết giáo trình về “Đại cương khoa học quản lý và quản lý giáo dục”...
6
Hướng nghiên cứu về quản lý dạy học có các tác giả Nguyễn Ngọc
Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành. Với việc nghiên cứu về quản lý
nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy của giáo viên, các tác giả đã nêu lên
nguyên tắc chung về nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên như xác định
đầy đủ nội dung hoạt động chuyên môn; tổ chức đánh giá xây dựng hoàn
thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn của giáo viên.
Các bài viết của các tác giả liên quan đến quản lý hoạt động giảng dạy
của đội ngũ giáo viên như bài viết: “Những bài giảng về quản lý trường học”,
tác giả Hà Sĩ Hồ cho rằng trong thực hiện mục tiêu đào tạo việc quản lý hoạt
động dạy và học (theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường.
Trong cuốn sách “Khoa học Quản lý giáo dục”, tác giả Trần Kiểm chỉ rõ:
“...hoạt động quản lý nhà trường bao gồm nhiều loại quản lý như: quản lý các
hoạt động giáo dục, HĐDH, hoạt động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt
động giáo dục hướng nghiệp, quản lý các đội tượng khác nhau; quản lý giáo
viên, học sinh, tài chính, cơ sở vật chất..., quản lý nhiều khách thể khác nhau:
quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục, điều chỉnh các hoạt động ảnh hưởng từ
bên ngoài trường, tham mưu với ban đại diện cho mẹ học sinh...” [14].
Các tác giả đi sâu nghiên cứu ở các góc độ khác nhau của HĐDH chỉ
ra những yêu cầu và biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động giảng dạy của giáo
học cơ sở và đánh giá chính xác thực trạng của hoạt động giảng dạy, quản lý
họt động giảng dạy theo chương trình sách giáo khoa mới dang diễn ra ở các
trường trung học cơ sở huyện Thuận Thành, trên cơ sở làm rõ lý luận, đánh
giá đúng thực trạng tác giả luận văn đã xây dựng 6 biện pháp quản lý hoạt
động dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới của hiệu trưởng, kết quả
khảo nghiệm đã cho thấy các biện pháp mà tác giả đề xuất đều có tính cần
thiết và khả thi cao.
Trịnh Hùng Cường (2009), đề tài luận văn thạc sĩ về “Thực trạng và
biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên trường trung học phổ thông ở các
8
huyện trong tỉnh Cà Mau”. Qua nghiên cứu lý luận, nêu lên thực trạng công
tác quản lý bồi dưỡng giáo viên trường trung học phổ thông ở các huyện trong
tỉnh Cà Mau và đề xuất các biện pháp cải tiến nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên.
Như vậy, vấn đề quản lý HĐDH của giáo viên đã từ lâu luôn được các
nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước quan tâm; nhất là các công trình
nghiên cứu luận văn cao học những năm gần đây với nhiều cách tiếp cận khác
nhau, ở những địa phương khác nhau, với phạm vi nghiên cứu khác nhau,
song đều đã khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong việc
nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường. Các công trình luận văn
kể trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến HĐDH và đưa ra
những biện pháp giúp nâng cao khả năng quản lý HĐDH của nhà trường. Về
cơ bản các công trình đó đã tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý HĐDH
của các chủ thể đối với giáo viên các trường ở cấp học phổ thông bằng những
cách tiếp cận khác nhau; và đã đề xuất được một số biện pháp cần thiết, khả
thi để nâng cao hiệu quả quản lý. Các biện pháp đề xuất đều hướng vào việc
đảm bảo cho HĐDH có nề nếp và góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Do
cuộc sống hiện đại. Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực
hiện quan điểm tích hợp trong dạy học và cho rằng quan điểm này đã đem lại
hiệu quả nhất định.
Tháng 9 năm 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học”
đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna
(Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO. Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao
phải Dạy học tích hợp và tích hợp các khoa học là gì. Theo đó, Dạy học tích
hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm
và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng
khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực
khoa học khác nhau” [47]. Định nghĩa của UNESCO cho thấy dạy học tích
10
hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở học sinh những
năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Quá trình dạy học tích
hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các
kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống. Như vậy, có thể hiểu
tích hợp bao hàm cả nội dung và hoạt động.
Ở Việt Nam, Thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp được thể hiện trong
một số môn ở trường tiểu học như môn “Cách trí”, sau đổi thành môn “Khoa
học thường thức”. Môn học này còn được dạy một số năm ở trường cấp I của
miền Bắc nước ta. Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm
hiểu Tự nhiên và xã hội” theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn
học này được thiết kế để đưa vào dạy học ở trường cấp I từ lớp 1 đến lớp 5.
Chương trình năm 2000 đã được hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích
hợp đã được thể hiện trong chương trình và sách giáo khoa, các HĐDH ở tiểu
học. Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều giáo viên; một số
đã có nhận thức ban đầu nhưng còn hạn chế về kỹ năng vận dụng.
Minh, tổ chức tháng 6 năm 2015, đã khẳng định: dạy học tích hợp và dạy
học phân hóa không phải là những vấn đề mới. Bất cứ một người giáo viên
phổ thông nào cũng đã từng sử dụng các kỹ thuật này ở một chừng mực nào
đó trong quá trình dạy học để hoàn thành mục tiêu giúp cho học sinh biết
được những điều hữu ích và thú vị của cuộc sống, chuẩn bị cho các em hành
trang cần thiết để bước vào đời [36].
Cùng với các báo cáo tham luận trong hội thảo, tác giả Phạm Thị Kim
Anh, với đề tài nghiên cứu: “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên như thế nào để
đáp ứng yêu cầu dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông sau
năm 2015”, tác giả khẳng định: chương trình giáo dục phổ thông sau 2015
triển khai theo tư tưởng tích hợp và phân hóa. Điều này buộc chúng ta phải
tính đến những phương án, điều kiện để thực hiện chương trình mà trước hết
là chuẩn bị đội ngũ giáo viên như thế nào để đủ năng lực dạy được chương
12
trình như thế. Đây là một bài toán đầy khó khăn, thách thức đặt ra cho ngành
giáo dục cũng như các trường Đại học Sư phạm trong việc đào tạo, đào tạo lại
và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên các cấp. Qua nghiên cứu lý luận, thực tiễn, tác
giả khẳng định việc dạy học tích hợp không đơn giản, vì từ lâu các trường sư
phạm chỉ quen đào tạo giáo viên dạy các môn học riêng rẽ. Để thực hiện dạy
học tích hợp đòi hỏi phải thiết kế lại chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo
viên theo hướng tích hợp. Chương trình được cấu trúc theo các nhóm bài học,
các môdun có nội dung gần gũi. Việc sắp xếp như vậy sẽ giúp người học
nhanh chóng hình thành kỹ xảo nhờ việc sớm được tái hiện lại kỹ năng mới
được hình thành ở các môdun, bài học trước đó; phải chuẩn bị chu đáo về đội
ngũ giáo viên giảng dạy theo hướng tích hợp.
Tác giả Ngô Minh Oanh, Trương Công Thanh (2015) với bài viết:
“Thực trạng dạy học tích hợp, phân hóa hiện nay và đề xuất phát triển chương
quản lý HĐDH; nội dung quản lý HĐDH môn Sinh học theo hướng tích hợp
ở trường trung học phổ thông, các yếu tố tác động đến việc quản lý HĐDH
môn Sinh học ở trường trung học phổ thông [17].
Việc nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống cơ sở lý luận đã giúp tác
giả nghiên cứu tương đối đầy đủ về thực trạng HĐDH và quản lý HĐDH môn
Sinh học theo hướng tích hợp ở trường trung học phổ thông Chuyên Thái
Bình, thông qua thu thập dữ liệu, qua phiếu khảo sát ý kiến đối với CBQL,
giáo viên và học sinh về các vấn đề có liên quan, làm rõ những nguyên nhân
thành công và hạn chế của các biện pháp quản lý HĐDH môn học mà nhà
trường đã triển khai và áp dụng. Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực
tiễn, tác giả đã đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH môn Sinh học theo
hướng tích hợp áp dụng tại trường trung học phổ thông Chuyên Thái Bình.
Tác giả Lý Siều Hải (2015) nghiên cứu đề tài: “Quản lý HĐDH theo
hướng tích hợp tại trường Cao đẳng nghề thành phố Hồ Chí Minh”, trong luận
văn của mình tác giả đã phân tích làm rõ những khái niệm công cụ của đề tài
như dạy học tích hợp, quản lý dạy học tích hợp, chỉ ra những nội dung quản lý
14
hoạt động dạy học tích hợp và các yếu tố tác động tới quản lý dạy học tích
hợp ở trường Cao đẳng nghề thành phố Hồ Chí Minh, cùng với nghiên cứu lý
luận tác giả đã đi sâu phân tích làm rõ thực trạng của HĐDH theo hướng tích
hợp, quản lý HĐDH theo hướng tích hợp. Từ nghiên cứu lý luận, đánh giá
thực trạng, tác giả đề xuất 7 biện pháp nhằm quản lý có hiệu quả HĐDH theo
hướng tích hợp ở trường Cao đẳng nghề thành phố Hồ Chí Minh [11].
Cùng với các đề tài luận văn, còn có các bài báo khoa học viết về dạy
học tích hợp, quản lý đạy học tích hợp, như tác giả: Đỗ Hương Trà (2015), với
bài viết “Nghiên cứu dạy học tích hợp liên môn: những yêu cầu đặt ra trong
việc xây dựng, lựa chọn nội dung và tổ chức dạy học”, đăng trên Tạp chí Khoa
tích hợp liên môn bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên trung
học phổ thông”, đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 126/tháng 3 năm
2016. Bài báo khẳng định dạy học tích hợp là một trong những xu hướng dạy
học tất yếu và phù hợp với định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
theo hướng phát triển năng lực người học. Thông qua việc nghiên cứu lí luận
về dạy học tích hợp, tác giả đã đề xuất quy trình xây dựng nội dung chủ đề
tích hợp liên môn và thiết kế kế hoạch dạy học chủ đề tích hợp. Quy trình này
đã được giáo viên áp dụng xây dựng và thử nghiệm dạy học ở trường phổ
thông. Kết quả thực nghiệm đã khẳng định hướng đi đúng đắn trong công tác
bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên trung học phổ thông.
Tác giả Nguyễn Phương Chi - Nguyễn Thị Hồng Phương (2017), với
bài viết “Quy trình xây dựng và tổ chức dạy học tích hợp theo chủ đề Toán
học - Hóa học - Sinh học ở trường trung học phổ thông”, đăng trên Tạp chí
Giáo dục, Số 389/tháng 1/2017. Bài báo khẳng định: dạy học tích hợp tạo ra
sự kết hợp có ý nghĩa các nội dung trong cùng một môn học hoặc giữa các
môn học. Bài báo đã giới thiệu những vấn đề cơ bản của dạy học tích hợp, và
đưa ra một số ví dụ dạy học tích hợp trong chương trình Toán phổ thông đáp
ứng nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
16
Tuy nhiên, hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động theo hướng tích hợp
ở các trường tiểu học nói riêng, các trường phổ thông nói chung còn ít công
trình nghiên cứu. Vì vậy, tác giả nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động dạy
học theo hướng tích hợp ở các trường tiểu học huyện Phú Xuyên, thành phố
Hà Nội”, là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, đồng thời đề tài không trùng lặp
với các công trình khoa học, luận văn thạc sĩ đã được nghiên cứu trước đây.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm dạy học và dạy học tích hợp
loại hình nhà trường vốn có.
1.2.1.2. Khái niệm dạy học tích hợp
* Dạy học
Dạy, là hoạt động của giáo viên nhằm định hướng, tổ chức điều khiển
giúp cho người học tự mình tìm kiếm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và hình
thành hoặc biến đổi tình cảm thái độ. Dạy không chỉ truyền thụ, cung cấp kiến
thức, thông tin đơn thuần mà chủ yếu giúp người học tự tìm kiếm, chiếm lĩnh
kiến thức kỹ năng thay đổi tình cảm và hình thành thái độ.
Học, là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách
chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh. Học được hiểu
theo nghĩa rộng, nó bao gồm các yếu tố thông tin môi trường xung quanh, biết
thu thập, xử lý, tự biến đổi bản thân.
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Dạy học: là dạy học trò theo
chương trình và theo cấp học” [38].
Từ những quan niệm về dạy học trình bày ở trên, tác giả cho rằng: Dạy
học là một bộ phận của quá trình sư phạm, là sự phối hợp thống nhất giữa
hoạt động của người dạy và hoạt động của người học nhằm truyền thụ và lĩnh
hội những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển khả
năng tư duy sáng tạo, giáo dục những phẩm chất nhân cách cần thiết cho
người học.
18
Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học: người giáo viên đóng vai
trò là người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh,
giúp học sinh tìm tòi và khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức
năng học của bản thân; điều này được thể hiện: đề ra mục đích, yêu cầu nhận
thức; vạch ra kế hoạch hoạt động của mình và dự tính hoạt động tương ứng của
người học; tổ chức thực hiện hoạt động dạy của mình và hoạt động học của trò;