Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại việt nam - Pdf 42

MỤC LỤC

1


LỜI MỞ ĐẦU
Ở nước ta, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ rất lâu và thực sự phát triển
mạnh mẽ cùng quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp. Sự phát triển của
kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang them
diện tích đất trống đồi trọc, đất hoang đá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và
ven biển, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xóa
đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nông nghiệp, nông thôn. Chính vị vậy, phát triển kinh tế trang trại là xu
hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay.
Mô hình kinh tế trang trại trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã hình
thành và không ngừng được mở rộng, phát triển trong thời gian qua. Sự phát triển
của kinh tế trang trại đã góp phần giúp người dân phát huy được lợi thế so sánh,
mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả và
sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các biện pháp
phát triển kinh tế trang trại ở nước ta là cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và giá trị thực
tế. Vì vậy em lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp để
phát triển kinh tế trang trại trong điểu kiện nước ta hiện nay” là đề tài của bài
tập lớn.
Kết cấu của bài tập lớn gồm ba chương:
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận
CHƯƠNG II: Thực trạng về kinh tế trang trại tại Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG III: Đề xuất các biện pháp để phát triển kinh tế trang trại trong
điều kiện nước ta hiện nay
Do trình độ còn hạn chế nên bài tập lớn chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu
sót. Em rất mong được sự góp ý của thầy để đề tài hoàn thiện hơn!

còn xuất khẩu ra nước ngoài.
1.2.2 Hoạt động của trang trại
Hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại được tiến hành trên cơ sở các
yếu tố sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất
định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.
1.2.3 Tổ chức và quản lý sản xuất
Tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ trên cơ sở chuyên môn hoá, thâm canh,
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hạch toán kinh doanh và thường xuyên tiếp
cận thị trường. Mô hình sản xuất rất đa dạng và phong phú, phản ánh những đặc
thù, kinh nghiệm và những truyền thống canh tác của địa phương.
1.2.4 Nguồn nhân lực
1.1

3


Nguồn nhân lực chủ yếu là nhân lực của gia đình hoặc nhân lực đi thuê (Thuê
theo thời vụ và thuê thường xuyên). Nguyên tắc thuê dựa trên thoả thuận giữa chủ
trang trại và người lao động làm thuê. Số lượng lao động thuê mướn phụ thuộc vào
loại hình, quy mô và năng lực sản xuất của trang trại.
1.2.5 Loại hình trang trại
Có các loại hình trang trại sau: Nông trại, lâm trại và ngư trại.
1.3 Vai trò của kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại đã đóng một vai trò quan trọng về cả mặt kinh tế cũng như
về mặt xã hội và môi trường.
Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng phân
tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt công
nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát triển

từ đời nhà Đường. Với nước ta, trang trại hình thành và phát triển dưới thời nhà
Trần với tên gọi chung là các “thái ấp”. Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển
mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời. Năm 1802 ở Pháp có 5.672.000 trang
trại, năm 1882 ở Tây Đức có 5.278.000, năm 1990 ở Mỹ có 5.737.000, năm 1963
Thái Lan có 3.214.000 và Ấn Độ có hơn 44 triệu trang trại.
Quá trình phát triền công nghiệp, số lượng các trang trại giảm, nhưng quy mô về
diện tích và quy mô về doanh thu tăng lên. Hiện nay ở Mỹ có 2,2 triệu trang trại,
sản xuất mỗi năm 50% sản lượng đậu tương và ngô trên thế giới; ở Pháp có 0,98
triệu trang trại, sản xuất một lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước; 1.500
trang trại của Hà Lan mỗi năm sản xuất 7 tỷ bông hoa, 600 triệu chậu hoa; 4 triệu
lao động trong các trang trại của Nhật Bản (chiếm 3,7% dân số cả nước) nhưng bảo
đảm lương thực, thực phẩm cho hơn 100 triệu người. Như vậy, trang trại là một mô
hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp, xu thế tất yếu của sản xuất nông
nghiệp hàng hoá.
2.2 Thực trạng hoạt động của kinh tế trang trại tại Việt Nam hiện nay
Ở nước ta, trang trại đã hình thành và phát triển từ rất sớm nhưng có những
giai đoạn việc phát triển loại hình kinh tế này không được coi trọng. Tuy nhiên từ
khi có chủ trương đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp theo nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách khuyến
khích phát triển nên số lương trang trại tăng lên nhanh chóng, hình thức tổ chức
sản xuất và cơ cấu thành phần chủ trang trại cũng ngày càng đa dạng.
Những năm vừa qua, loại hình kinh tế trang trại đã phát triển nhanh, sử dụng
nhiều đất đai, tạo việc làm và tạo ra một lượng giá trị hàng hóa, sản phẩm nông,
lâm nghiệp và thủy sản khá lớn cho xã hội.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến cuối năm
2016, cả nước có khoảng 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang trại (67,2%) so với
năm 2011. Số liệu điều tra do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2016 công bố kết
quả sơ bộ cho thấy, từ năm 2011-2016, bình quân mỗi năm số trang trại của cả
nước tăng trên 13%. Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng trang trại phát triển
mạnh nhất (tăng 6.435 trang trại), chiếm gần một nửa số trang trại tăng thêm trong

sản phẩm hàng hóa nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tổng cục Thống kê cho biết,
tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại trong năm
2016 ước đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (138,2%) so với giá trị đạt được
cách đây 5 năm (2011). Tính bình quân 1 trang trại có thu nhập đạt 2.780 triệu
đồng, tăng 828 triệu đồng (tăng 42,4%) so với cách đây 5 năm.
2.3 Đánh giá thực trạng kinh tế trang trại của Việt Nam hiện nay
2.3.1 Thành tựu đạt được
Những mặt được của kinh tế trang trại trong những năm qua có thể kể đến
như sau:

6


Thứ nhất, tạo ra sản xuất hàng hóa lớn, sự phát triển của KTTT đã góp phần
mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả và
sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Ví dụ, như ngành chăn nuôi, trước đây
KTTT đóng góp chỉ 30%, 60-70% là đóng góp của nông hộ nhỏ. Tuy nhiên hiện
nay KTTT đóng góp 60% sản lượng cho ngành chăn nuôi lợn. KTTT còn góp phần
đẩy lùi tỷ lệ dịch bệnh; khả năng quản lý dịch bệnh của ngành chăn nuôi được tốt
hơn trong vài năm trở lại đây.
Thứ hai, Đây là một bước phát triển mới của kinh tế hộ gắn với mục tiêu sản
xuất hàng hoá qui mô lớn, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hoá, tạo
ra các vùng sản xuất tập trung làm tiền đề cho công nghiệp chế biến nông lâm sản,
đưa công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ vào nông thôn, tăng tốc độ phủ xanh
đất trống, đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế trang trại
đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất gắn liền với
quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động
nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp
hoá trong nông nghiệp và nông thôn.

công nghệ cao ở Đà Lạt (Lâm Đồng), các mô hình nuôi trồng thủy sản ở Đồng
bằng sông Cửu Long đã rất thành công. Một số trang trại đã sản xuất và cung cấp
giống tốt, làm dịch vụ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng.
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại
Về quy mô và số lượng: Số lượng trang trại hiện nay tăng chậm và phân bố
không đều giữa các vùng trong cả nước. Khu vực Trung du miền núi phía Bắc là
nơi có diện tích đất đai rộng nhưng số lượng trang trại ít, trong khi đó khu vực
Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ lại tập trung nhiều trang trại thì quy mô
diện tích lại thấp, việc phân bố này cũng không đồng đều ở các vùng và các lĩnh
vực.
Về giá trị sản xuất: Mặc dù giá trị sản xuất hàng hóa bình quân một trang trại
tương đối lớn (trung bình 02tỷ đồng/trang trại) nhưng số có thu nhập cao chỉ tập
trung ở một số loại hình trang trại chăn nuôi, thủy sản còn các loại hình trang trại
trồng trọt, lâm nghiệp, kinh doanh tổng hợp giá trị sản xuất thấp, do chất lượng sản
phẩm chưa cao, sản phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua
chế biến nên giá bán thấp, sức cạnh tranh yếu, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt
được nhu cầu thị trường nên sản xuất thụ động.
Về khoa học công nghệ: Số lượng trang trại ứng dụng công nghệ cao trong
sản xuất, chế biến bảo quản còn hạn chế mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực và khu
vực nhất định.
Sản xuất của các trang trại chưa thật sự bền vững, phần lớn chất lượng sản
phẩm chưa được quản lý chặt chẽ. Ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải
không được xử lý. Quy mô sản xuất càng lớn nguy cơ ô nhiễm càng tăng, nhất là
đối với các trang trại chăn nuôi và thủy sản.
Trình độ quản lý và sản xuất của các chủ trang trại: Chủ trang trại chủ yếu là
nông dân, không được đào tạo chuyên môn về quản lý, kỹ thuật nên khả năng quản
lý sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, liên kết tiêu thụ nông sản còn
8



các địa phương không còn quỹ đất mới để giao cho nông hộ làm trang trại. Do đó,
phần lớn các hộ gia đình nông dân phải dồn điền đổi thửa, mua bán, thuê mướn,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nhiều chủ khác nhau với nhiều loại đất khác
nhau để có khu đất tương đối tập trung để làm trang trại. Trung bình ở Đồng bằng
Sông Hồng, muốn đạt quy mô 2,1 ha/trang trại, chủ hộ cũng phải mua bán thuê
9


mướn đất của 5-7 hộ khác. Do có quá nhiều giao dịch, trao đổi, mua bán (nhìn
chung là tự nguyện và hợp pháp) với nhiều loại đất khác nhau nên đa số các chủ
trang trại gặp khó khăn ở việc xác nhận, chứng nhận và cấp sổ đỏ sau trao đổi mua
bán.
Thiếu vốn và khó tiếp cận tín dụng đối với trang trại: Có đến 70% số trang
trại đang kinh doanh bằng vốn tự có hoặc chiếm dụng vốn (mua chịu vật tư, phân
bón, thức ăn). Tuy có không ít các chủ trang trại thường xuyên vay vốn của các tổ
chức tín dụng, nhưng chủ yếu là các khoản vay nhỏ và ngắn hạn do không có thế
chấp. Khi cần đầu tư mua sắm để khởi nghiệp trang trại thường muốn vay vốn lãi
suất thấp và dài hạn hơn.
Hạ tầng, công nghệ sản xuất yếu kém làm giảm sức cạnh tranh của trang
trại: Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư, cải tạo, chưa đáp ứng yêu cầu đi lại,
vận chuyển, cấp, tiêu thoát nước phục vụ sản xuất của trang trại. Chi phí cho mua
thuê và cải tạo đất, chi phí mua cây con giống và các chi phí sản xuất trong điều
kiện tiếp cận tín dụng khó khăn khiến cho trang trại không còn vốn để đầu tư hạ
tầng và công nghệ. Đa số các trang trại chỉ là các “hộ sản xuất lớn”, không có sự
biến đổi về chất trong sản xuất, khả năng cạnh tranh khó khăn. Nếu sớm được hỗ
trợ về hạ tầng và công nghệ sản xuất, sẽ giúp trang trại bứt phá ngay từ đầu.
Thông tin thị trường, quảng bá, xúc tiến thương mại và kết nối thị trường:
Phần lớn chủ trang trại gặp khó khăn về tiêu thụ nông sản vì đa số còn thiếu hiểu
biết về thị trường, lúng túng và chịu thua thiệt khi giá nông sản biến động. Ngoài
ra, do các trang trại thường nằm ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nên khả

phương pháp tưới tiêu khoa học, tiết kiệm nước. Đầu tư xây dựng các cơ sở ươm,
nhân giống cây trồng, vật nuôi, cây giống lâm nghiệp. Hỗ trợ các trang trại áp dụng
các tiến bộ kỹ thuật về bảo quản sản phẩm: áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến có
quy mô vừa và nhỏ; sử dụng máy móc phù hợp để làm đất, vận chuyển, bơm
nước…
Tổ chức tốt công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư để hỗ trợ các
trang trại áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đồng thời khuyến
khích các chủ trang trại tham gia chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tới hộ nông dân
trong vùng. Các viện và trung tâm nghiên cứu khoa học theo doi sát nhu cầu của
trang trại, liên kết với các trang trại để xác định các mô hình chuyển giao kỹ thuật
mới cho nông dân.
11


Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông
nghiệp, xử lý kịp thời những trường hợp buôn bán hàng giả, hàng chất lượng xấu,
để giúp nông dân và các chủ trang trại phát triển sản xuất có hiệu quả, hạn chế rủi
ro.
3.3

Hỗ trợ đầu ra cho các sản phẩm, hàng hóa của trang trại

Hiện nay, phần lớn các hộ nông nghiệp, trang trại vẫn còn sản xuất hàng hóa
theo kiểu tràn lan, không có định hướng đầu ra. Chính vì vậy, năm nào cũng có
tình trạng nông sản giá rẻ và không bán được phải đổ bỏ. Vì vậy, cần thiết phải có
liên kết giữa các trang trại với các doanh nghiệp Nhà nước để phát triển sản xuất,
chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ
trang trại có khả năng tham gia xuất khẩu sản phẩm trực tiếp. Quy hoạch và đầu tư
phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn ở các địa bàn tập trung phát triển kinh
tế trang trại. Cần tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, hướng dẫn các

cho chủ trang trại khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng sản
xuất, trồng cây lâu năm, thuê diện tích đất ở các vùng nước tự nhiên chưa có đầu
tư, cải tạo để sản xuất kinh doanh.

13


KẾT LUẬN

Trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, kinh tế trang trại ngày càng đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Nó
cho phép khai thác, sử dụng triệt để những tiềm năng về đất đai để mang lại khối
lượng sản phẩm hàng hóa lớn cho xã hội.
Cũng như các loại hình kinh tế khác, kinh tế trang trại cũng cần một môi
trường chính sách, thể chế, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển ổn định, bền vững.
Vai trò của công tác truyền thông, nâng cao năng lực của chủ trang trại, hỗ trợ thị
trường, ... trong phát triển kinh tế trang trại đang là những vấn đề mà các cấp chính
quyền cần phải quan tâm, và đưa ra những định hướng để kinh tế trang trại có thể
phát triển toàn diện hơn, đóng góp cao hơn vào kinh tế nước nhà!

14


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status