DĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÀN SINH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ NẾP MỚI
TẠI HUYỆN HOÀNH BỒ, QUẢNG NINH
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Mão
Quảng Ninh, 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu trình bày
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều được ghi
rõ nguồn gốc.
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề.................................................................................................. 1
2. Mục đích của đề tài ................................................................................... 3
3. Yêu cầu của đề tài ..................................................................................... 3
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn...................................................... 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 5
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ...................................................................... 5
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam.............................. 6
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới ................................................... 6
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam .................................................. 10
1.2.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô nếp ở Việt Nam ................... 10
1.3. Tình hình sản xuất ngô ở Quảng Ninh ................................................. 15
1.4. Tình hình sản xuất ngô ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh .............. 16
1.5. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và ở Việt Nam ............................ 20
1.5.1. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới .................... 20
1.5.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam .................... 22
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ............................................................................................................ 28
2.1. Vật liệu nghiên cứu .............................................................................. 28
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu ............................................................ 28
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 28
2.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 29
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.......................................................... 29
2.4.2. Quy trình kỹ thuật ............................................................................. 29
2.4.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, đánh giá ............................... 29
3.4.5. Số hạt/hàng ........................................................................................ 56
3.4.6. Khối lượng 1000 hạt ......................................................................... 56
3.4.7. Năng suất lý thuyết............................................................................ 57
3.4.8. Năng suất thực thu............................................................................. 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ....................................................................... 60
1. Kết luận ................................................................................................... 60
2. Đề nghị .................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
v
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CIMMYT
: International Maize and Wheat Improvement Center
-Trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ quốc tế
CV %
: Coefficient of variation - Hệ số biến động
Đ/c
: Đối chứng
: Năng suất lý thuyết
NSTT
: Năng suất thực thu
WTO
: World Trade Organization-Tổ chức thương mại thế
giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 – 2013 ........................ 6
Bảng 1.2. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2013 .............. 7
Bảng 1.3. Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2013 ................ 8
Bảng 1.4: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 ................................. 9
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 20092014..................................................................................................... 11
Bảng 1.6. Tình hình sản xuất ngô ở các vùng năm 2013 ............................ 12
Bảng 1.7. Sản xuất ngô của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2003 – 2013 ........ 14
Bảng 1.8. Sản xuấ t ngô huyện Hoành Bồ giai đoạn 2007 – 2014 .............. 17
Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô
thí nghiệm vụ Xuân Hè 2016 tại huyện Hoành Bồ Quảng
Ninh ............................................................................................. 33
nuôi sống 1/3 dân số toàn cầu. Một số nước trên thế giới còn coi ngô là cây
lương thực chính như: Modămbich 92%, Vênêzuêla 90,5%, Angola 86%.
Phương thức sử dụng ngô là lương thực rất đa dạng phụ thuộc vào vùng địa
lí và tập quán canh tác. Phần đông người dân của các nước Mỹ - La tinh ăn
ngô dưới dạng bánh đúc như mèn mén của dân tộc vùng cao Việt Nam.
Ngoài vai trò làm lương thực cho người, ngô còn làm thức ăn chăn
nuôi quan trọng nhất hiện nay. Hầu như 70% chất tinh trong thức ăn tổng
hợp của gia súc là từ ngô. Ngoài việc cung cấp chất tinh, ngô còn là thức ăn
xanh và ủ chua lí tưởng cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa.
Trong những năm gần đây, người ta còn dùng bắp ngô non làm rau và
xuất khẩu. Nghề trồng ngô rau phát triển mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế
cao ở Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc và nhiều nước khác.
Do có vai trò quan trọng, có khả năng thích nghi cao và có tính đa
dạng sinh học rất rộng, cho nên ngô là cây trồng có địa bàn phân bố vào loại
rộng nhất thế giới. Bên cạnh đó ngô là cây có khả năng cho năng suất cao lại
chứa một hàm lượng chất dinh dưỡng lớn cho nên cây ngô có giá trị sử dụng
và kinh tế cao. Trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai nhu cầu
sử dụng ngô trên thế giới ngày càng tăng, đặc biệt là các nước châu Á, dự
đoán đến năm 2020 nếu các nước này không tăng cường nghiên cứu và sản
xuất ngô thì sẽ phải nhập khẩu khoảng 44 triệu tấn ngô phục vụ cho nhu cầu
làm thức ăn cho gia súc và lương thực cho người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
Mặc dù sản xuất ngô nước ta có nhiều cố gắng nhưng năng suất ngô của
nước ta vẫn thấp hơn trung bình thế giới, năm 2014 chỉ đạt 44,10/56,64 tạ/ha
3
cần tiến hành quá trình nghiên cứu, đánh giá, lựa chọn các giống nếp phù
hợp với điều kiện sinh thái của huyện Hoành Bồ là việc làm cần thiết.
Xuất phát từ lợi ích và nhu cầu thực tế hiện nay, chúng tôi đã tiến hành
đề tài: “nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô
nếp mới tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh”.
2. Mục đích của đề tài
Chọn được những giống ngô nếp mới có triển vọng, cho năng suất cao,
phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng
Ninh.
3. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi khả năng sinh trưởng của các giống ngô nếp mới.
- Theo dõi đặc điểm hình thái của các giống ngô nếp mới.
- Đánh giá khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh của các
giống ngô tham gia thí nghiệm.
- Đánh giá tiềm năng năng suất của các giống ngô tham gia thí nghiệm.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài bổ sung thêm dữ liệu khoa học về các giống ngô nếp mới ở điều
kiện miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
- Xác định được đặc tính nông học, khả năng chống chịu với một số loại
sâu, bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, tiềm năng năng suất của các
giống ngô nếp mới chọn tạo.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
cây trồng phát triển trong điều kiện thuận lợi nhất để phát huy hết tiềm năng
của giống là hết sức cần thiết.
Ngô nếp là cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, là cây có
thể trồng trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, thiếu nước, đồi, bãi hoặc có thể
trồng trong cơ cấu cây vụ đông trên đất lúa mà không ảnh hưởng đến 2 vụ
lúa.
Trên cơ sở yêu cầu sinh thái của cây ngô, với điều kiện đất đai và khí
hậu của tỉnh Quảng Ninh, những giống ngô nếp mới có thể sinh trưởng phát
triển tốt và cho năng suất cao.
Hiện nay, một số giống ngô mới cho năng suất và chất lượng cao đã
được công nhận và đang phát triển phổ biến trong sản xuất như:
- Giống ngô nếp khá nổi bật MX2, MX4, MX6, MX10 do công ty cổ
phần cây trồng Miền nam cung cấp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
- Giống ngô nếp lai F1 HN88 do Công ty cổ phần giống cây trồng
Trung ương cung cấp;
- Ngô nếp lai HN68, HN90 do Công ty cổ phần giống cây trồng Trung
Ương cung cấp…;
- NL555, NL556, NL557, NL558, MC6805, Mc9a68, MC6891 do
Viện nghiên cứu ngô chọn tạo…
Huyện Hoành Bồ là huyện Miền núi gồm 12 xã và một Thị Trấn,
trong những năm qua việc chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội luôn được huyện
quan tâm, đặc biệt hỗ trợ phát triển sản xuất trong chương trình xây dựng
nông thôn mới để nâng cao thu nhập cho người dân, đời sống nhân dân đã
Ngô là cây ngũ cốc lâu đời và phổ biến trên thế giới, không cây nào
sánh kịp với cây ngô về tiềm năng năng suất hạt, về quy mô, hiệu quả ưu thế
lai.. Từ cuối thế kỉ 20, nghề trồng ngô thế giới đã có nhiều bước phát triển
kỳ diệu nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai. Hiện nay trên thế giới có khoảng
140 nước trồng ngô trong đó có 38 nước là các nước phát triển còn lại là các
nước đang phát triển.
Bảng 1.1: Sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2010 - 2014
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
2010
164,05
51,89
851,27
2011
171,38
Nguồn: FAOSTAT, 9/2016[18]
Qua bảng 1.1 cho thấy, từ năm 2010 đến nay, năng suất ngô trung bình
của thế giới tương đối ổn định và đạt từ 48,89 đến 56,64 tạ/ha. Năm 2010,
diện tích trồng ngô gieo trồng với 164,05 triệu ha, năng suất đạt 51,89 tạ/ha
và sản lượng đạt 851,27 triệu tấn. Năm 2014 diện tích ngô đã tăng lên và đạt
183.32 triệu ha, năng suất đạt cao nhất từ trước tới nay với 56,64 tạ/ha. Có
được kết quả trên, trước hết là nhờ việc sử dụng giống mới và ứng dụng rộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện
các biện pháp kỹ thuật canh tác.
Bảng 1.2. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2014
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
104,09
Khu vực
Nguồn: FAOSTAT, 9/2016[18]
Qua bảng 1.2 ta thấy châu Á là khu vực có diện tích trồng ngô lớn thứ
2 sau Châu Mỹ với 59,09 ha, năng suất ngô đạt 51,47 tạ/ha, sản lượng đạt
304,14 triệu tấn và thấp hơn châu Mỹ 218 triệu tấn. Năm 2014, châu Mỹ có
năng suất ngô đạt 82,79 tạ/ha, đạt cao nhất thế giới. Châu Âu đứng thứ 2 trên
thế giới về năng suất đạt 69,07 tạ/ha nhưng lại là khu vực có diện tích trồng
ngô thấp nhất (chỉ 18,76 triệu ha), châu Phi vừa có diện tích thấp nhất đứng
thứ 4 trên thế giới (18,38 triệu ha), vừa có năng suất ngô gần như thấp nhất
thế giới, chỉ trước châu Á và đạt 56,63 tạ/ha thấp hơn gần 3 lần so với năng
suất bình quân của thế giới, do đó sản lượng ngô của khu vực này cũng thấp
nhất với 104,09 triệu tấn. Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều
giữa các châu lục trên thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa
học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế chính trị … Ở châu Mỹ có
trình độ khoa học phát triển cao trong khi châu Phi nền kinh tế kém phát triển
cộng thêm tinh hình chính trị an ninh không đảm bảo đã làm cho sản xuất
nông nghiệp ở khu vực này tụt hậu so với nhiều khu vực trên thế giới
(FAOSTAT, 9/2016)[18].
Hiện nay, tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới cũng
đã có nhiều thay đổi, thể hiện cụ thể qua bảng 1.3.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
Bảng 1.3. Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2014
32,96
23,27
Ấn Độ
8,60
27,52
23,67
Ý
86,99
106,21
92,39
Đức
48,13
106,83
51,42
Hy Lạp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
ta trước đây rất thấp so với năng suất ngô thế giới, do sử dụng giống ngô địa
phương và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế.
Qua nghiên cứu thực tiễn ở nước ta, sản xuất lương thực luôn là một
nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài, được ưu tiên hàng đầu trong chiến
lược sản xuất nông nghiệp. Với điều kiện tự nhiên phong phú, cây ngô sinh
trưởng phát triển và phổ biến khắp các vùng trên cả nước. Lịch sử trồng ngô
của nước ta qua các thời kỳ là một quá trình phát triển không đồng đều và
bền vững thậm chí có giai đoạn rất trì trệ và không tương xứng với tiềm năng
sẵn có của cây ngô và điền kiện tự nhiên của nước ta. Thế nhưng, trong
những năm gần đây do giá trị kinh tế và nhu cầu về ngô trong nước cũng như
trên thế giới có xu hướng tăng lên, sản xuất ngô đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm của Đảng và Nhà nước nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô
có những bước tiến đáng kể.
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2010- 2015
Chỉ tiêu
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(nghìn ha)
1.170,3
44,35
5.190,9
2014
1.178,5
44,10
5.202,5
2015
1.179,0
44,80
5.281,0
Năm
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2016[9]
Số liệu bảng 1.4. cho thấy sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện
tích, năng suất và sản lượng trong giai đoạn 2010- 2015. Năm 2010 cả nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
lượng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô ở các vùng năm 2015
Diện tích
(nghìn
ha)
1.179,0
Năng
suất
(tạ/ha)
44,8
Sản lượng
(nghìn
tấn)
5.281,0
Đồng bằng sông Hồng
91,3
48,0
61,7
488,9
Đồng bằng sông Cửu Long
38,1
59,1
225,2
Vùng
Cả nước
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2016[9]
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy diện tích sản xuất ngô lớn
nhất (519,3 nghìn ha) nhưng năng suất lại thấp nhất trong cả nước (36,8
tạ/ha). Ngược lại vùng đồng bằng sông Cửu Long diện tích sản xuất nhỏ nhất
(38,1 nghìn ha), nhưng lại cho năng suất cao (59,1 tạ/ha) thứ 2 chỉ sau Đông
Nam Bộ (61,7 tạ/ha). Sự trái ngược này có thể được giải thích do nhiều
nguyên nhân: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy có diện tích lớn song
chủ yếu tập trung ở các vùng miền núi, diện tích rải rác nhỏ lẻ thuộc các vùng
dân tộc ít người. Họ không có đủ điều kiện đầu tư về vốn cũng như các biện
pháp kỹ thuật canh tác phù hợp mà chủ yếu canh tác theo lối truyền thống
lạc hậu. Cộng thêm vào đó là các điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng, khí
hậu khắc nghiệt với hạn hán và rét kéo dài vào mùa đông, lượng mưa phân
bố không đều trong năm dẫn tới năng suất thấp. Tuy nhiên, với ưu thế về
diện tích (chiếm 43,14% diện tích của cả nước) nên sản lượng chung của
vùng vẫn cao hơn các vùng khác, đạt 1.909,7 nghìn tấn chiếm 36,67% sản
sản phẩm chính, thân cây ngô còn là nguồn thức ăn xanh đáng kể cho gia
súc.
Với ngô nếp, nhờ tinh bột có thành phần chủ yếu là Amylopectin, có
giá trị dinh dưỡng cao, giàu Lizin và Triptophan, từ lâu nó đã là nguồn lương
thực quý của đồng bào dân tộc miền núi ở Đông Nam Á và là nguồn nguyên
liệu quý cho công nghiệp, đặc biệt công nghiệp thực phẩm và công nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
dệt. Gần đây, vai trò của ngô nếp càng được nâng lên nhờ những thành tựu
trong việc nghiên cứu chọn tạo và mở rộng những giống lai cho năng suất
khá cao mà vẫn giữ được chất lượng đặc biệt của nó (Phạm Quang Tuân,
2016) [12].
Các giống ngô nếp có tiềm năng năng suất cao đã và đang được phát
triển ở những vùng ngô trọng điểm, vùng thâm canh, có tưới tiêu chủ động,
những vùng đất tốt như: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long,
Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Tuy nhiên, ở các tỉnh miền núi, những vùng
khó khăn, canh tác chủ yếu nhờ nước trời, đất xấu, đầu tư thấp thì giống ngô
thụ phấn tự do chiếm ưu thế và chiếm một diện tích khá lớn.
Có thể thấy, sản xuất ngô của Việt Nam trong giai đoạn này có sự phát
triển vượt bậc, sở dĩ chúng ta đạt được những thành quả to lớn trong phát triển
sản xuất ngô là do Đảng, Nhà nước, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
thấy được vai trò của cây ngô trong nền kinh tế và kịp thời đưa ra những chính
sách, biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích người sản xuất.
Vài năm trở lại đây do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống
cây trồng, các nhà khoa học Việt Nam đã chọn tạo đựợc rất nhiều giống ngô
Bảng 1.6. Sản xuất ngô của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2015
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(nghìn ha)
(tạ/ha)
(nghìn tấn)
2010
6,6
36,4
24,0
2011
6,3
37,8
23,8
2012
Năm
Nguồn: Chi cục thống kê tỉnh Quảng Ninh 2015[2]
Qua bảng 1.6 cho thấy: Từ năm 2010 đến năm 2015 diện tích ngô của
tỉnh Quảng Ninh giảm từ 6,6 nghìn ha xuống 5,9 nghìn ha. Năng suất ngô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
16
của tỉnh tăng đều từ 36,4 tạ/ha năm 2010 lên 39 tạ/ha vào năm 2015, tăng
2,6 tạ/ha so với năm 2010. Sản lượng giảm từ 24 nghìn tấn năm 2010 xuống
còn 22,5 nghìn tấn vào năm 2014, giảm 1,5 nghìn tấn. Sau đó tăng lên chút
ít và đạt 23 nghìn tấn vào năm 2015. Mặc dù năng suất ngô tăng nhưng do
diện tích trồng ngô giảm nên sản lượng năm 2015 thấp hơn năm 2010. Tuy
nhiên, năng suất ngô trung bình của tỉnh Quảng Ninh vẫn thấp hơn nhiều so
với năng suất ngô của cả nước, năng suất ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng 87%
năng suất ngô của cả nước. Do vậy sản xuất ngô ở Quảng Ninh cần được
quan tâm và đầu tư phát triển nhiều hơn, mạnh hơn nữa như: Tăng diện tích
gieo trồng ngô xuống ruộng một vụ, gieo trồng ngô trên đất đồi, đất bãi ở vụ
hè thu. Sử dụng giống mới, đa dạng giống, thâm canh tăng năng suất nhằm
khai thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của tỉnh đặc biệt là những huyện vùng
thấp.
Ngoài việc trồng thâm canh ngô ở những vùng thuận lợi, cần tăng
cường sử dụng các giống ngô thụ phấn tự do cải tiến ở những vùng khó khăn,
nhằm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng ngô, nâng cao hiệu quả kinh tế,
góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân.
huyện miền núi ven biển nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, bão thường
xuyên xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10, tháng có nhiều bão nhất là tháng 7
và tháng 8 trung bình mỗi năm có từ 3 - 5 cơn bão đi qua, tốc độ gió trung
bình từ 30 - 40 m/s, bão kèm theo mưa lớn nên gây ra lũ lụt làm thiệt hại cho
sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của con người.
Khí hậu phân biệt hai mùa rõ rệt dẫn đến tình trạng hạn hán kéo dài
vào đầu năm, giữa năm mưa lũ làm xói mòn, sạt lở đất, làm hư hại các công
trình giao thông, thuỷ lợi; cuối năm rét đậm, rét hại kéo dài ảnh hưởng không
nhỏ đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Về đất đai: Hoành Bồ có 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi, 1/3 là diện
tích đất dân cư và đất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản... Đất
đai ở đây chủ yếu được bồi đắp từ núi rừng, trải qua quá trình bồi đắp của
hàng trăm năm về trước nên thành phần cơ giới đất không được tốt lắm, ít
chất hữu cơ, chủ yếu là đất cát pha, nhiều xã thì đất sỏi đá. Đất đai ở huyện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
18
Hoành Bồ không bằng phẳng, bị cắt sẻ, nhiều ruộng bậc thang, phần lớn đất
không phù hợp với cây lúa mà phù hợp chủ yếu cho cây lấy gỗ và cây hàng
hoá. Cơ cấu các loại đất của huyện hiện nay gồm: đất nông nghiệp 69169,3
ha (trong đó đất sản xuất nông nghiệp 3661,62 ha, đất lâm nghiệp 64710,27
ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 796,36 ha, đất nông nghiệp khác 1,05 ha); đất phi
nông nghiệp 6374,5 ha (trong đó đất ở 636,64 ha, đất chuyên dùng 2517,82
ha, đất dùng cho tôn giáo tín ngưỡng 3,37 ha, đất sông suối và mặt nước
chuyên dùng 3173,79 ha, đất phi nông nghiệp khác 54.88 ha); đất chưa sử
dụng 8822,79 ha (trong đó đất bằng chưa sử dụng 1852,15 ha, đất đồi núi
chưa sử dụng 6081,19 ha, núi đá không có rừng cây 889,45 ha).
385,6
19,5
752,2
2013
41,2
20,6
85,0
2014
372,5
24
895,0
2015
352,0
25,5
896,0