BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------o0o------
PHẠM THỊ NGÂN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI THÂN MỀM
CHÂN BỤN TRÊN CẠN Ở BỐN XÃ CỦA
HUYỆN LẠC THỦY, HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Đỗ Văn Nhượng
HÀ NỘI, NĂM 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................... 3
3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................... 4
4. Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn ............................. 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 6
1.1. Tình hình nghiên cứu TMCB trên cạn ................................................ 6
1.1.1. Tình hình nghiên cứu TMCB ở các nước lân cận ......................... 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu TMCB ở Việt Nam ...................................... 7
1.2. Cơ sở về chỉ thị sinh học ..................................................................... 13
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Địa điểm các vị trí nghiên cứu ở Lạc Thủy ....................................... 21
Bảng 2: Danh lục các loài Thân mềm Chân bụng trên cạn ở 4 xã thuộc huyện
Lạc Thủy, Hòa Bình ........................................................................................ 27
Bảng 3. Số lượng, tỷ lệ taxon bậc bộ, họ, giống và loài của các phân lớp ở các
khu vực nghiên cứu ......................................................................................... 31
Bảng 4. Số lượng, tỷ lệ taxon bậc họ, giống và loài của các bộ ốc cạn ở khu
vực nghiên cứu ................................................................................................ 32
Bảng 6. Số lượng loài các họ Thân mềm Chân bụng trên cạn ở một số vùng
lân cận ............................................................................................................. 78
Bảng 7. Số lượng loài, số lượng cá thể, chỉ số đa dạng của ốc cạn ở 4 địa điểm
nghiên cứu ....................................................................................................... 80
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Vị trí địa lý của Lạc Thủy trong tỉnh Hòa Bình ................................. 15
Hình 2. Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa trung bình hàng tháng của thị trấn
Chi Nê năm 2016 (theo trạm khí tượng thủy văn Hòa Bình) ......................... 19
Hình 3. Các địa điểm thu mẫu ở Lạc Thủy, Hòa Bình ................................... 22
Hình 4. Cấu tạo ngoài của vỏ ốc nhìn nghiêng theo chiều cao và từ miệng vỏ .....24
Hình 5. Các dạng vỏ của TMCB trên cạn ....................................................... 24
Hình 6. Cấu tạo vành môi của vỏ TMCB trên cạn.......................................... 24
Hình 7. Cách xác định chiều cao, chiều rộng vỏ ốc ........................................ 25
Hình 9. Tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể của 2 phân lớp. ............................... 32
Hình 10. Số lượng họ, giống, loài của 3 bộ TMCB trên cạn ở Lạc Thủy ...... 33
Hình 11. Số lượng giống và loài trong các họ ................................................ 34
Hình 12. Số lượng bộ, họ, giống, loài ốc cạn ở các địa điểm của ................. 73
khu vực nghiên cứu ......................................................................................... 73
đất. Phân ốc thải ra trong quá trình tiêu hóa làm tăng độ phì của đất. Tuy nhiên
nhiều loài ốc cạn là sinh vật gây hại đối với sản xuất nông nghiệp, ốc sên (Achatina
fulica) phá hoại cây trồng mùa màng do ăn lá. Với sức khỏe con người ốc sên chứa
kí sinh trùng Angiostrongylus cantoensis (một loại giun tròn) vào cơ thể con người
gây viêm não cấp tính. Một số loài là vật chủ trung gian truyền giun sán kí sinh cho
người và gia súc (ốc Lymnea).
1
Sinh vật là thành phần chỉ thị của môi trường địa lí tự nhiên, thông qua hình
thái, cấu trúc cũng như số lượng và chất lượng các quần xã sinh vật [5]. TMCB
được coi như là sinh vật chỉ thị cho tình trạng thay đổi của môi trường do có những
đặc tính như ít di chuyển, số lượng cá thể của quần thể lớn, kích thước đa dạng, mẫn
cảm với những thay đổi của môi trường. Một số loài hoàn toàn bị giới hạn trong khu
vực đá vôi do chúng cần đá vôi để tạo vỏ, những loài khác có thể xuất hiện ở nhiều
nơi khác nhau nhưng số lượng không nhiều [Vermeulen, 2003].
Vai trò to lớn của TMCB đối với con người được thể hiện trong nhiều lĩnh
vực. Ốc cạn gắn bó mật thiết với đời sống con người, được cư dân nhiều nơi khai
thác như một nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng. Trong 100g thịt ốc sên
(Achatina fulica) có chứa 11g đạm (cao hơn ốc vặn, ốc bươu) 6,2g đường, 150mg
Ca, 71mg P [2]. Đây còn được coi là món ăn rất thích hợp dành cho người béo phì
muốn giảm cân. Nhiều loài trở thành thực phẩm đặc sản như hai loài ốc cạn
Cyclophorus anamiticus và Cyclophorus martensianus có hàm lượng protein lên tới
57,94% và 34,34% [2].
Ở Pháp ốc sên cũng được dùng như một món ăn quý để chữa bệnh phổi. Việc
nuôi ốc sên (Helix aspera) theo quy mô công nghiệp không chỉ có ở Pháp mà còn ở
Mỹ, Ý, Tây Ban Nha... đem lại nguồn lợi kinh tế lớn. Nhu cầu thịt ốc sên hàng năm
toàn cầu lên tới 400.000 tấn. Giá xuất xưởng thịt ốc sên đông lạnh ở New York là
57.222 USD/tấn, ốc sên tươi nhập vào Mỹ giá 18.430 USD/tấn.
tài là:‘‘Nghiên cứu thành phần loài thân mềm chân bụn trên cạn ở bốn xã của
huyện Lạc Thủy, Hòa Bình”. Đề tài được tiến hành ở: xã Lạc Long, thị trấn Chi Nê,
xã Đồng Tâm, xã Phú Thành của huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được thành phần loài, tính chất khu hệ của khu vực nghiên cứu và
lập khóa định loại các loài ốc cạn đã phát hiện.
- Tìm hiểu đặc điểm phân bố Thân mềm Chân bụng sống trên cạn đã thu
được ở vùng núi đá vôi của Lạc Thủy, Hòa Bình.
- Bước đầu sử dụng TMCB trên cạn đánh giá tính chất chỉ thị ở các địa điểm
nghiên cứu
3
3. Nội dung nghiên cứu
- Phân loại các loài Thân mềm Chân bụng trên cạn ở các địa điểm nghiên
cứu.
- Đánh giá độ đa dạng các bậc phân loại Thân mềm Chân Bụng trên cạn đã
phát hiện (số loài, nhóm loài đặc trưng cho vùng nghiên cứu)
- Mô tả tóm tắt các đặc điểm hình thái của các loài phát hiện được ở khu vực
nghiên cứu
- Nhận xét về hình thái và sinh thái so với mô tả gốc, soạn khóa phân loại
cho các loài của khu vực nghiên cứu
- So sánh các loài ốc cạn của khu vực nghiên cứu với khu vực lân cận
- Đề xuất tính chất chỉ thị môi trường của Thân mềm Chân bụng trên cạn.
4. Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
4.1. Các luận điểm cơ bản
- Thân mềm Chân bụng ở cạn là một nhóm có tính chất đặc trưng cùng với
các động vật khác khi chuyển từ nước lên cạn. Khi lên cạn chúng đã thích nghi cao
với các điều kiện trên cạn. Vùng núi đá vôi với thảm thực vật dầy là nơi thích hợp
Các nghiên cứu về TMCB ở cạn được thực hiện khá sớm và rộng rãi ở nhiều
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Theo Barker (2001), có khoảng 35.000 loài
ốc cạn đã được ghi nhận, đây là nhóm động vật đa dạng và thành công trong các hệ
sinh thái trên cạn. Trong các châu lục châu Âu, châu Mỹ và châu Úc được nghiên
cứu đầy đủ nhất tiếp đến là châu Á và châu Phi.
Ốc cạn ở các nước lân cận Việt Nam được nghiên cứu ở các mức độ khác
nhau. Ở Trung Quốc, ốc cạn được nghiên cứu sớm, các tác giả Gledler (1881),
Heude (1885), Möllendorff (1885, 1901), Fischer & Dautzenberg (1904), Yen
(1939), Nordsieck (2007), Palls – Gergely (2013). Trong các công trình đã công bố,
nghiên cứu của Yen (1939) [63] có ý nghĩa tổng kết, đã ghi nhận danh sách gồm
949 loài, thuộc 126 giống, 25 họ bao gồm cả ốc nước và ốc cạn.
Ốc cạn ở Ấn Độ, Xri-lan-ca và Nê-pan được nghiên cứu khá đầy đủ. Công
trình khái quát về đa dạng ốc cạn ở Ấn Độ, Sen et al. (2012) đã ghi nhận có 1.129
loài, thuộc 140 giống, 26 họ. Cùng với số loài đa dạng, ở đây còn thể hiện số loài
đặc hữu cao.
Ở Đông Nam Á, ốc cạn ở Thái Lan được nghiên cứu sớm và đầy đủ nhất, các
tác giả Pfeiffer (1856, 1862), Gould (1858), Panha (1996), Sutcharit et al. (2010).
Công trình có tính tổng kết cho khu hệ Thái Lan được Panha et al. (2010) công bố
đã xác định được 816 loài, thuộc 133 giống, 30 họ.
Ốc cạn ở Ma-lai-xi-a được tiến hành khảo sát khoảng giữu thế kỉ XIX,
nghiên cứu của Blanford (1864), Maassen (2001), Schilthuizen et al. (2002, 2005)
và Van Benthem Jutting (1949). Hiện nay chưa có đánh giá tổng kết cho khu hệ ốc
cạn Ma-lai-xi-a, công trình của Maassen (2001) chỉ mới ghi nhận 535 loài. Năm
2015, Schilthuizen et al. khảo sát ở vùng Bô-nê-ô đã công bố 48 loài mới cho khoa
học, kết quả này cho thấy đa dạng sinh học cao ở quốc qua này.
6
Cùng với Thân mềm Chân bụng ở nước, Thân mềm Chân bụng trên cạn
beniti,
Geotrochus
saigonensis, Cyclophosus annamiticus và Cyclotus gasiesianus) nâng tổng số loài
đã biết lên 44 loài. Danh sách loài ở Nam Bộ còn được bổ sung về sau bởi Mabille
& Mesle (1866), Wattebled (1884), Dautzenberg và Hamonville (1887) [20].
Giai đoạn 1884-1892, Morlet tiến hành các cuộc khảo sát ở Đông Dương,
trong đó có Bắc Bộ nước ta, kết quả đã bổ sung nhiều loài cho Việt Nam. Năm
1886, Morlet công bố 87 loài ốc cạn, chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, trong đó phát
hiện 11 loài mới. Từ 1891-1892, Morlet mở rộng phạm vi khảo sát trên toàn bộ
7
lãnh thổ nước ta, phát hiện 20 loài mới thuộc các họ: Cyclophoridae, Subulinidae,
Pupinidae, Clausiliidae, Camaenidae và Streptaxidae. Những dẫn liệu của Morlet
được đánh giá như tổng kết sơ bộ về thành phần loài ở Việt Nam thời điểm đó, số
loài đã biết lên tới 118 loài. Cũng trong thời gian 1887-1889, Mabille tiến hành
khảo sát ở Nam Bộ và cả Bắc Bộ, trong đó đã bổ sung 38 loài mới cho khoa học
(Aegista baphica, Bradybaena dectica, Neocepolis merarcha, Macrochlamys
rejectella,
Tropidauchenia
proctostama,
Plectotropis
subinflexa,
(1904) như những tài liệu cơ bản nhất về khu hệ ốc cạn Việt Nam. Các năm tiếp
theo, Dautzenberg & Fischer (1905-1908) có thêm các nghiên cứu mới đã bổ sung
nhiều loài cho khu hệ nước ta và mô tả 25 loài mới cho khoa học.
Giai đoạn từ năm 1916-1945 có rất ít công trình nghiên cứu về ốc cạn Việt
Nam, chỉ có Lindholm (1924) phát hiện loài mới Tropidautchenia bavayi ở Ba Bể
(Bắc Cạn).
Như vậy, giai đoạn từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1945 đã phát hiện 579 loài ốc
cạn tại Việt Nam. Trong đó có 118 loài thuộc phân lớp Mang trước và 461 loài
thuộc phân lớp Có phổi
1.1.2.2. Các nghiên cứu sau năm 1945
Trong giai đoạn 1945-1975, việc nghiên cứu ốc cạn bị gián đoạn bởi chiến
tranh. Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu không nhiều, nhưng trong giai đoạn
này cũng phát hiện được 12 loài mới, các nghiên cứu tiêu biểu như Saurin (1953)
khảo sát ở khu vực đảo Hoàng Sa; Szekeres (1969-1970) phát hiện 4 loài mới thuộc
họ Clausiliidae ở Ninh Bình và Nghệ An, Varga (1972) phát hiện 4 loài mới ở Ninh
Bình và Vĩnh Phúc, Loosjes (1973) phát hiện loài mới Oospira miranda ở Hòa Bình
và Tropidauchenia proctostoma forceps gặp ở Ninh Bình.
Như vậy, nghiên cứu về ốc cạn Việt Nam tới năm 1975 vẫn do các nhà khoa
học nước ngoài thực hiện. Địa bàn khảo sát tập trung vào cảnh quan vùng núi, một
phần ở vùng ven biển và đảo ven bờ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đa dạng loài còn
có những vấn đề trong phân loại, nhiều loài mới khi công bố chưa đầy đủ dẫn liệu.
Từ tình hình trên cho thấy danh mục thành phần loài ở Việt Nam chưa được đánh
giá đúng, số loài ốc cạn ghi nhận được ít nhiều có sai khác giữa các tác giả.
Trong thời gian từ năm 1976 đến năm 2000, có rất ít các nghiên cứu về ốc
cạn Việt Nam, ngoại trừ Kuzminykh (1999). Trong công trình này giống Laocaia
được thiết lập với 2 loài mới (Laocaia attenuat, L. obesa) phát hiện ở Sa Pa, Lào
Cai.
9
Museum Wienvà Museum and Austria Academy of Sciences) [46] và kết quả các
công trình nghiên cứu gần đây, Schileyko (2011) đã tu chỉnh và công bố danh mục
10
gồm 477 loài và phân loài, thuộc 96 giống, 20 họ trong phân lớp Có phổi
(Pulmonata) [46]. Mặc dù, còn thiếu danh mục của các loài ốc thuộc nhóm Mang
trước, nhưng đây là công trình có giá trị tổng kết đầy đủ nhất thành phần loài ốc cạn
Có phổi. Bước đầu có thể sử dụng tài liệu này cho danh lục các loài ốc Có phổi ở
Việt Nam.
Giai đoạn 2011 đến nay, các đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống nhờ vào
tài liệu tu chỉnh của Schileyko (2011) về nhóm phân lớp Có phổi (Pulmonata) ở
Việt Nam.
Giai đoạn này, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm
nghiên cứu Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạt công bố
phát hiện về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: 36 loài ở
núi Voi, An Lão (Hải Phòng) thuộc 28 giống, 14 họ và 4 bộ (2011) [9]; 48 loài ở
thôn Rẫy, xã Quyết Thắng, Hữu Lũng (Lạng Sơn) thuộc 26 giống, 15 họ, 3
bộ(2011) [11]; 54 loài và phân loài ở khu vực Tây Trang (Điện Biên) thuộc 35
giống, 15 họ, 3 bộ (2012) [6]; 73 loài thu thập ở thành phố Sơn La thuộc 49 giống,
19 họ(2012) [10]; 52 loài và phân loài ở vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) thuộc
31 giống, 13 họ (2012) [8]; 58 loài ở Thúc Thủy (Tuyên Quang) thuộc 18 họ
(2011); 62 loài, 42 giống, 20 họ, 4 bộ ở khu vực núi đá vôi Quốc Oai (Hà Nội)
(2012); 32 loài ốc cạn thuộc 20 giống, 17 họ, 3 bộ ở khu vực núi đá vôi, xã Hương
Sơn, Mỹ Đức (Hà Nội) (2013); 62 loài ốc cạn ở khu Bảo tồn thiên nhiên Copia, tỉnh
Sơn La thuộc 41 giống, 16 họ, 3 bộ (2013) [19]. Cùng thời gian này, Đỗ Văn
Nhượng và cộng sự mở rộng nghiên cứu thành phần loài ốc cạn ở một số VQG ở
khu vực miền Bắc như: VQG Xuân Sơn (Phú Thọ) [7], VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc)
một số rất ít đảo ven bờ và vùng khơi; vùng đồng bằng và vùng ven biển còn ít được
khảo sát, vì vậy số loài hiện biết chưa phản ánh đầy đủ thành phần loài có ở nước ta.
Tổng hợp các kết quả điều tra thống kê về thành phần loài ốc cạn cho thấy, ở Việt Nam
đã ghi nhận được 791 loài và phân loài.
Các dẫn liệu về thành phần loài và đặc điểm phân bố của TMCB trên cạn ở Hòa
Bình đến nay chưa nhiều. Một số nơi đã được khảo sát: Đà Bắc, Mai Châu và Lương
Sơn. Đặc biệt, Lạc Thủy là huyện hoàn toàn chưa có dẫn liệu về TMCB trên cạn. Vì
vậy, nghiên cứu này sẽ cung cấp dẫn liệu về thành phần loài và đặc điểm phân bố của
nhóm ốc cạn.
12
1.2. Cơ sở về chỉ thị sinh học
Môi trường và sinh vật luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau.
Trên cơ sở những hiểu biết về tác động của các yếu tố vật lý, hóa học của môi
trường lên những cơ thể sống, có thể xác định sự có mặt hay các mức độ tác động
của các chất có trong môi trường. Những sinh vật bị các chất gây ô nhiễm hoặc các
chất tự nhiên có trong môi trường tác động và biểu hiện của chúng sẽ là chỉ thị cho
bản chất và mức độ ô nhiễm. Sự tác động và biến đổi này có thể quan sát bằng mắt
hoặc các biểu hiện sau:
- Những thay đổi về thành phần loài hoặc nhóm ưu thế trong quần xã sinh vật.
- Những thay đổi về đa dạng loài trong quần xã.
- Tỷ lệ chết trong quần thể gia tăng, đặc biệt ở giai đoạn non mẫn cảm như
trứng hay ấu trùng.
- Thay đổi sinh lý và tập tính trong các cá thể.
- Những khiếm khuyết về hình thái và tế bào trong các cá thể.
- Sự tích lũy dần các chất gây ô nhiễm hoặc sự trao đổi chất của chúng trong
mô của cá thể [4].
Sinh vật ghi nhận những biến đổi về cấu trúc, chức năng của các thành phần
trường như lớp thảm thực vật, canxi, nhiệt độ, độ ẩm. Ngoài ra, yếu tố con người là
nhân tố trực tiếp tác động tới chúng thông qua các hoạt động sống.
Nhiều năm qua, tầm quan trọng của Thân mềm Chân bụng trên cạn đến trật tự
của các sinh vật bậc cao hơn bị bỏ qua. Ốc cạn đã được coi như sinh vật mong manh
trong hệ sinh thái trên cạn. Ốc cạn sống hoặc vỏ của chúng cung cấp nguồn thức ăn
hoặc caxi cacbonat cho nhiều loài Động vật có vú nhỏ (Reid, 2006). Nhiều loài Bọ
cánh cứng (Carabidae) thức ăn chủ yếu là ốc sên (Symondson, 2004), một số loài chim
(Graveland và cộng sự, 1994; Graveland, 1996; Tilgar và cộng sự,1999; Mand và cộng
sự, 2000) và một số loài rắn của giống Sibon được biết ở Belize chủ yếu ăn ốc trên cạn.
Những con ốc sên đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa vi chất dinh dưỡng
trong các hệ sinh thái trên cạn (Dallinger Et al, 2001). Không có ốc cạn có thể ảnh
hưởng đến các hệ sinh thái xung quanh. Ví dụ, quần thể chim bạc má lớn (Parus
major) ở Hà Lan giảm mạnh khi giảm ốc sên do mưa acid (Graveland và cộng sự,
1994; Graveland, 1996). Thiếu vỏ ốc trong chế độ ăn của chim, vỏ trứng mỏng và dễ
vỡ, do đó giảm tỷ lệ thành công sinh sản của chim.
14
Ở miền Bắc Mỹ, Hames và cộng sự (2002) đã ghi nhận sự tương quan giữa
số lượng Chim ưng giảm (thường trú ở rừng nhiệt đới Belize) và mưa acid, câu hỏi
đặt ra liệu đây có phải là liên quan đến giảm số lượng ốc sên. Các loài chỉ thị sinh
học như ốc sên có thể được sử dụng để biểu thị điều kiện hoặc trạng thái của môi
trường nơi chúng sinh sống. Các sinh vật chỉ thị dựa trên cấu trúc của chúng tích tụ
một số chất ô nhiễm môi trường ở mức độ đủ cao để có khả năng gây nguy hiểm
cho sinh vật địa phương. Ốc cạn đóng góp đáng kể cho quá trình chuyển hóa các
chất ô nhiễm từ thực vật mà ốc cạn sử dụng làm nguồn thức ăn sang sinh vật tiêu
thụ ốc cạn (Martin và Coughtrey, 1976; Reichardt và cộng sự, 1985). Ý tưởng sử
dụng ốc sên để đánh giá môi trường không phải là mới, nhưng có rất ít nghiên cứu
thành công trong vấn đề này. Dallinger và cộng sự, 2001 đã nghiên cứu sự chuyển
và ngắn. Mùa hè mưa nhiều, mực nước sông suối lên cao, chảy xiết, mùa đông thiếu
nước do lượng nước ở các sông suối giảm mạnh [63].
Đá vôi chiếm khoảng 10% diện tích bề mặt Trái Đất nhưng ở Việt Nam còn
nhiều hơn, tới gần 20% diện tích lãnh thổ đất liền, tức khoảng 60.000 km2. Đặc biệt,
đá vôi tập trung hầu hết ở miền Bắc, nó nơi chiếm tới 50% diện tích toàn tỉnh như
Hòa Bình (53,4%), Cao Bằng (49,47%),... Nhiều thị xã, thị trấn nằm trọn vẹn trên
đá vôi như Mai Châu (Hòa Bình), Mộc Châu, Yên Châu, Sơn La (Sơn La),.. [25].
Rừng trên núi đá vôi có thể coi là dạng tài nguyên không tái tạo vì rất khó phát triển
16
do thiếu cả đất lẫn nước, một khi đã bị hủy hoại thì rất khó phục hồi. Thực tế hầu
như không thể trồng rừng để khai thác ở vùng núi đá vôi. Số liệu thống kê cho thấy
diện tích rừng ở các vùng đá vôi trong vài thập kỉ qua đã liên tục giảm sút, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến môi trường [25].
Trong các thung lũng và cánh đồng được thể hiện tàn tích của đá vôi, có
những con suối tới chân núi và biến mất. Thực vật che phủ trên núi đá vôi ở Lạc
Thủy đang dần bị tàn phá bởi hoạt động của con người. Thực vật ở đây chủ yếu là
cây bụi, cỏ, cây thân gỗ nhỏ mọc rải rác. Do Hòa Bình có nhiều núi đá vôi thấp kiểu
núi sót, độ dốc lớn, thảm thực vật trên núi đá vôi bị tàn phá nên ảnh hưởng đến các
điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu và thảm mục; ảnh hưởng theo hướng tiêu
cực.
Cơ cấu đất của Lạc Thủy gồm: diện tích đất nông nghiệp là 5.455 ha (chiếm
18,6%), đất lâm nghiệp có rừng là 12.766 ha (chiếm 43,51%). Đất feralit đỏ nâu
phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá vôi. Chân núi đá vôi luôn luôn bị ảnh
hưởng của muối cacbonat phát triển loại đất macgalit màu đen thẫm. Về chất lượng,
nhìn chung tầng đất canh tác nơi đây mỏng, có nguồn gốc hình thành từ đá vôi,
granit, sa thạch, trầm tích,… Kết quả phân tích định lượng cho thấy: lớp đất ở Lạc
Thủy có độ phì khá, thuận lợi phát triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả.
lũ từ tháng 6 đến tháng 10. Tháng có lũ lớn nhất vào tháng 7 và tháng 8. Mùa cạn
bắt đầu từ tháng 11 kéo dài đến tháng 5, cạn nhất là tháng 1 và tháng 2.
18
Hình 2. Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa trung bình hàng tháng của thị
trấn Chi Nê năm 2016 (theo trạm khí tượng thủy văn Hòa Bình)
Từ biểu đồ trên cho thấy nhiệt độ và lượng mưa tại Chi Nê thấp nhất vào
tháng 2, nhiệt độ trung bình tháng là 15,5oC, lượng mưa trung bình tháng là 27mm.
Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm rơi vào tháng 6 (30,3oC), lượng mưa trung
bình cao nhất trong năm rơi vào tháng 7 (458,7mm).
1.3.2. Đặc điểm xã hội
Trước kia, kinh tế huyện Lạc Thủy còn mang tính tự cung tự cấp, sản xuất
còn nhiều lạc hậu. Từ khi bước vào công cuộc đổi mới (1986), theo đà phát triển
chung của kinh tế cả nước, nông thôn Lạc Thủy có nhiều thay đổi. Các ngành sản
xuất bước đầu phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, kinh tế của huyện từ
chỗ chậm phát triển đã đạt mức tăng trưởng khá.
Ở huyện Lạc Thủy sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính, chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây tương
đối ổn định và có chiều hướng tăng. Tuy nhiên do sản xuất nông nghiệp là chủ đạo
nên nhìn chung đời sống xã hội còn nhiều khó khăn. Hiệu quả thu được trên 1 ha
trồng cây hàng năm ở Lạc Thủy còn thấp (bình quân chỉ đạt 4,5 – 5 triệu
19