Tính tích cực làm việc của người lao động trong các công ty cổ phần khu vực phía bắc nước ta tt - Pdf 43

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ MINH CHÍNH

TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
KHU VỰC PHÍA BẮC NƢỚC TA

Ngành
Mã số

: Tâm lý học
: 62.31.04.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2017


Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Tâm lý học – Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Minh Loan

Phản biện 1: GS.TS. Trần Quốc Thành
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Ngọc Lan
Phản biện 3: PGS.TS. Trƣơng Thị Khánh Hà

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học
viện Khoa học Xã hội, vào hồi

nhà quản lý.
Đối với cá nhân, hoạt động lao động nghề nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, nó không
chỉ đơn thuần là công việc đem lại thu nhập bởi nó ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của người
lao động. Việc lựa chọn được công việc phù hợp với năng lực, khả năng của người lao động sẽ
kích thích được tính tích cực của người lao động, giúp họ tìm thấy niềm đam mê trong công
việc, lạc quan, yêu đời và phát huy được năng lực, khơi dậy được tiềm năng và đưa ra các ý
tưởng sáng tạo khi làm việc.
Thực tế cho thấy, ở nước ta tính tích cực làm việc của người lao động nói chung và đặc
biệt người lao động ở các Công ty Cổ phần nói riêng cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất định. Bên
cạnh những hạn chế về chất lượng lao động, thì một số bộ phận người lao động vẫn chưa nhận
thức đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa, vai trò của mình trong hoạt động lao động tại công ty, ý thức
kỷ luật và tinh thần trách nhiệm với công việc chung còn chưa cao. Thái độ thụ động, ỷ lại, ngại
tiếp cận với đổi mới của công nghệ sản xuất, thiếu sự sáng tạo và say mê với công việc vẫn còn
xuất hiện.
Về khách thể nghiên cứu, các tác giả nước ngoài như T. V. Bogdachikova, I. N.
Piontovxki, F. J. Mayo và E. Roethlisberger, S. K. Parker và cộng sự, V. S. Merlin….đã nghiên
cứu về tính tích cực của các nhóm khách thể khác nhau trong hoạt động lao động. Tại Việt Nam
đã có một số nghiên cứu về tính tích cực của người lao động trên nhóm khách thể là giảng viên,
sinh viên sau khi tốt nghiệp, cán bộ viên chức nhà nước của một số tác giả như Lê Hương,
Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Thị Tình,..và những nghiên cứu về người lao động trong các
doanh nghiệp nói chung của các tác giả Vũ Dũng, Lê Hương, Lê Thị Minh Loan... Trong khi đó
1


những nghiên cứu về người lao động trong các Công ty Cổ phần chưa được quan tâm đúng
mức. Bên cạnh đó, về nội dung nghiên cứu, những nghiên cứu đi trước đã phân tích các thành
phần của tính tích cực của người lao động là nhận thức, cảm xúc, hành vi, hoặc phân tích một
số thành phần của tính tích cực như: động cơ, nhu cầu thành đạt, sự chủ động, sự sáng tạo, sự
hứng thú. Luận án này tiếp cận tính tích cực như là tổ hợp các thành phần của sự chủ động, sự
say mê, sự sáng tạo, và sự nỗ lực vượt khó và bị tác động bởi động cơ, nhu cầu thành tích và


Trong phạm vi về nội dung luận án chỉ nghiên cứu biểu hiện tính tích cực làm việc của
người lao động ở 4 thành phần: Sự chủ động trong làm việc; sự say mê trong làm việc; sự sáng
tạo trong làm việc; sự nỗ lực vượt khó trong làm việc và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
tính tích cực làm việc của người lao động.
3.2.2. Phạm vi khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu 318 người lao động, 15 cán bộ quản lý và 5 chuyên gia làm ở một số nghề
thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng như cơ giới chế tạo máy, Hàn, lắp đặt, gia công kết cấu thép,
phun sơn (Công ty Cổ phần Lilama 69-1; Công ty Cổ phần Cơ giới và xây dựng Đặng Gia) và
một số nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ như may mặc, sản xuất giầy dép và đồ gia dụng
(Công ty Cổ phần may Đức Giang; Công ty Cổ phần 26 – Bộ quốc phòng). Chúng tôi lựa chọn
4 công ty này vì các lĩnh vực mà công ty tham gia sản xuất đều là trọng điểm mũi nhọn của
ngành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ của Việt Nam hiện nay và là loại hình Công ty Cổ
phần 100% vốn trong nước. Bên cạnh đó 4 công ty cũng có những đặc thù đặc trưng góp phần
thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, và đang từng
bước có những đổi mới tích cực hướng người lao động nâng cao tính chuyên nghiệp, kỷ luật
lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước.
3.2.3. Phạm vi về địa bàn khảo sát
04 Công ty Cổ phần mà luận án lựa chọn tập trung ở các khu công nghiệp miền Bắc. Đó
là Công ty Cổ phần Lilama 69-1, đóng trên địa bàn Từ Sơn - Bắc Ninh; Công ty Cổ phần Đặng
Gia, đóng trên địa bàn Sóc sơn - Hà Nội; Công ty Cổ phần May Đức Giang và Công ty Cổ phần
26 – Bộ Quốc phòng, đóng trên địa bàn quận Long Biên – Hà Nội.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên ba phương pháp tiếp cận: Phương pháp tiếp cận
chuyên ngành; Phương pháp tiếp cận hệ thống; Phương pháp tiếp cận hoạt động.
4.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương
pháp chuyên gia; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; Phương pháp trắc nghiệm; Phương pháp
phỏng vấn sâu; Phương pháp quan sát; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động; Phương

cực làm việc của người lao động tại các Công ty Cổ phần hiện nay và khẳng định tính tích cực
làm việc của người lao động được tạo bởi bốn thành phần cốt lõi đó là sự chủ động, sự say mê,
sự sáng tạo và sự nỗ lực vượt khó và các thành phần này phải được thể hiện trong suốt quá trình
làm việc của người lao động.

Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã được luận án phân tích cho thấy bức tranh tổng
thể về thực trạng biểu hiện của tính tích cực làm việc của người lao động tại các Công ty
Cổ phần phía Bắc nước ta hiện nay. Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra và lý giải các yếu
tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động. Dựa trên cơ sở của kết quả
nghiên cứu luận án đã đưa ra những nhận định mới mang tính thời sự và đề xuất một số
kiến nghị phù hợp với nhà quản lý, tổ chức nhằm kích thích tính tích cực làm việc của
người lao động.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiến của luận án
4


6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận về tính tích cực
và tính tích cực làm việc của người lao động, các biểu hiện thành phần của tính tích cực làm
việc cho một phân ngành Tâm lý học đó là Tâm lý học quản lý, Tâm lý học lao động, Tâm lý
học công nghiệp-tổ chức.
Kết quả nghiên cứu đưa ra cách nhìn nhận và đánh giá người lao động trên phương diện
tổng quát từ yếu tố của chính chủ thể đến yếu tố của tổ chức. Từ đó, giúp cho các nhà quản lý
có chiến lược trong việc hỗ trợ, thúc đẩy người lao động để họ phát huy được hết nội lực của
mình trong quá trình làm việc tại các doanh nghiệp hiện nay.
6.2.Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Luận án góp phần lý giải nguyên nhân của những hiện tượng người lao động chưa tích
cực trong quá trình làm việc. Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án giúp cho những người
làm công tác quản lý tại các Công ty Cổ phần có cơ sở để đánh giá mức độ tích cực làm việc
của người lao động một cách khoa học và chính xác trên quan điểm của tâm lý học quản lý, tâm

mạnh bản chất của hành vi là phản ứng của cơ thể đáp ứng lại tác động của môi trường. Với
công thức nổi tiếng S-->R của Watson thì tính chất của kích thích là cái thúc đẩy tính tích cực
hành động của con người.
Thuyết phân tâm học S. Freud, K. Horney, A. Adler, E. Erikson, Fromm cho rằng, bản
năng, mà đặc biệt là bản năng tình dục (trong mô hình của Freud), những “sự lo lắng cơ bản”
(Horney), “hướng tới yêu thương” (Fromm), “hướng tới thành công, sự độc đáo, quyền lực,
hoàn thiện” (Adler) là những kích thích của tính tích cực hoạt động của con người. Họ quan
niệm những cái liên quan đến động lực thúc đẩy con người hoạt động là những cái nằm trong
bản thân mỗi người, những cái được di truyền (dẫn theo [41]).
Tâm lý học nhân văn mà đại diện là C. Rogers (1986), A. Maslow (1987) cho rằng, mô
hình tính tích cực được thể hiện trong công thức ngắn gọn: “Nhu cầu – tính tích cực”.
Trong tâm lý học hoạt động, vấn đề tâm lý về tính tích cực hoạt động của con người đã
được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là các công trình của M. J. Basov, L. S.
Vygotsky, S. L. Rubinstein, V. A. Brushlinsky, K. A. Abulhanova - Slavskaya, D. N. Uznadze.
Các công trình này nhấn mạnh tới vai trò quyết định của hoạt động trong việc hình thành và
phát triển tính tích cực của con người.
Những đóng góp của các công trình nghiên cứu trên đây cho chúng ta thấy tính tích cực
được nhìn dưới nhiều quan điểm, góc độ khác nhau, điều đó thể hiện tính đa chiều, nhiều mặt
của tính tích cực. Tuy nhiên, tính tích cực không thể được nhìn nhận một cách đơn thuần chỉ là
là phản ứng của con vật, sự vật, hiện tượng bên ngoài hay là nhu cầu của bản thân mà cần phải
được nhìn nhận, xem xét dưới nhu cầu của con người và được thể hiện trong hoạt động lao
động.
1.1.2. Nghiên cứu về tính tích cực trong hoạt động lao động
1.1.2.1. Những nghiên cứu về tính tích cực t các thuyết kinh điển về quản lý.
F. W. Taylor cho rằng, cùng với việc thay đổi quy trình lao động, cần quan tâm đến các
khuyến khích vật chất để tăng tính tích cực và hiệu quả làm việc của người lao động. Ông cũng
đã ủng hộ học thuyết “Con người kinh tế” và cho rằng, việc khuyến khích bằng tiền với người
lao động là cần thiết để họ sẵn sàng làm việc.

6

trình làm việc các cá nhân chịu tác động mạnh mẽ bởi 3 nhân tố tác động qua lại với nhau: Nhu
cầu thành đạt; Nhu cầu liên kết; Nhu cầu quyền lực. Lý thuyết này cho rằng, khi một nhu cầu
nào đó được đáp ứng thì sẽ tạo ra cho con người sự hài lòng và con người có xu hướng tích cực
làm việc để thỏa mãn 3 loại nhu cầu này [82].
Học thuyết về sự mong đợi V. Vroom (1964) xoay quanh 3 khái niệm cơ bản: Sự kỳ
vọng; Lợi ích; và Giá trị. [9, tr.211]. Học thuyết đặc điểm công việc của R. Hackman và G.
7


Oldham đề xuất, giả thuyết rằng động cơ được xác định bởi sự phù hợp giữa các đặc điểm nhân
cách của người lao động và đặc điểm bản thân công việc.
Như vậy, các nghiên cứu về tạo động cơ cho người lao động, các nghiên cứu đều cho rằng
dù động cơ bên ngoài hay động cơ bên trong đều có tác dụng nhất định đến TTCLV của người
lao động. Công việc của nhà quản lý là hiểu được các dạng động cơ này của người lao động và
hỗ trợ người lao động đáp ứng các nhu cầu để họ làm việc được tích cực hơn.
1.1.2.4. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của tâm lý tích cực đến tính tích cực tại nơi làm việc.
Trong nghiên cứu của mình các tác giả Ashforth, B. E., & Humphrey, R. H. (1995). Brief,
A. P., & Weiss, H. M. (2002), Parker (2014) đều khẳng định tâm lý có ảnh hưởng đến hành vi.
Liên quan đến tính tích cực, mô hình của B. L. Fredrickson, S. K. Parker đã xác định hai cơ chế
qua đó tâm lý tích cực có thể tạo nên hành vi tích cực bao gồm cơ chế "Lan tỏa" và cơ chế
"Củng cố". Tâm lý tích cực có ảnh hưởng đến các trạng thái nhận thức - động cơ về lâu dài như
(sự tự tin, vai trò định hướng) và ảnh hưởng đến khả năng của cá nhân (khả năng phục hồi và
khả năng đối phó) [65, tr.300-319], [92].
1.1.2.5. Các nghiên cứu quan tâm đến tính tính cực tại nơi làm việc
Từ các quan niệm truyền thống về TTCLV của người lao động như J. M. Crant coi tính
tích cực như một dạng tâm lý ổn định, D. Fay, M. Frese coi tính tích cực làm việc như một dạng
hành vi hoặc như một cách hành xử trong công việc nên S. K. Parker nhận xét rằng mối quan
tâm hiện nay về TTCLV gây ra sự không đầy đủ trong các mô hình làm việc bởi vẫn đi theo mô
hình truyền thống khi giả định rằng người lao động phải tuân theo các hướng dẫn, mô tả công
việc, và mệnh lệnh.

Các nghiên cứu này đã chỉ ra bản chất của tính tích cực làm việc không còn là quan niệm,
là sự nhìn nhận hay những mong muốn mà là mức chi phí thời gian và sức lực của con người
trên thực tế cho hoạt động nghề nghiệp (Lê Hương). Hay nói đến tính tích cực lao động là nói
đến tính tích cực của chủ thể trong quá trình hoạt động lao động được thể hiện tính sẵn sàng của
con người đối với hoạt động lao động; Khả năng lao động của con người trong việc cải tạo thế
giới; Sự năng động của con người (Trần Hương Thanh).
Tính tích cực giảng dạy được nhìn nhận ở ý thức tự giác của giảng viên về mục đích của
hoạt động giảng dạy, thể hiện ở lòng say mê với hoạt động giảng dạy, sự chủ động, sáng tạo và
nỗ lực vượt khó khăn, nhằm tổ chức và thực hiện tốt hoạt động giảng dạy (Nguyễn Thị Tình).
Tính tích cực được xem xét ở góc độ hứng thú và chủ động. Sự chủ động của người lao
động là hiện tượng tâm lý phản ánh ý thức của người lao động thể hiện ở việc thực hiện công
việc mà không cần sự đôn đốc, giám sát của người quản lý, chủ động hợp tác với đồng nghiệp,
làm cho công việc diễn ra theo kế hoạch đã định sẵn và tự kiểm tra đánh giá để rút kinh nghiệm,
hoàn thành công việc tốt hơn (Lê Thị Minh Loan).
Bên cạnh đó các nghiên cứu còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp nâng cao
tính tích cực làm việc của người lao động. Người lao động chỉ hứng thú và phát huy nỗ lực của
mình trong khi làm việc nếu như họ có sự thỏa mãn về tâm lý (Mai Hữu Khuê).
Tiểu kết chƣơng 1
Qua việc tổng quan một số công trình nghiên cứu có thể nhận thấy có nhiều nghiên cứu
theo các trường phái và ở các cấp độ khác nhau, trên các đối tượng khác nhau đã đề cập đến
9


nhiều khía cạnh của tính tích cực. Song trên thực tế cho chúng ta thấy tính tích cực làm việc của
người lao động chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố thuộc về tổ
chức, yếu tố kinh tế xã hội, chính vì vậy ở mỗi giai đoạn, điều kiện lịch sử xã hội khác nhau
TTCLV vẫn cần nghiên cứu thêm, nhất là dưới góc độ lý luận. Các nghiên cứu về tính tích cực
của người lao động ở Việt Nam mới chủ yếu tập trung vào nhóm khách thể là giảng viên, cán
bộ hành chính nhà nước còn với nhóm khách thể là người lao động trong các Công ty Cổ phần
còn rất khiêm tốn.


Làm việc là hoạt động lao động của con người trong đó họ sử dụng sức lực, trí tuệ tác
động đến một đối tượng nào đó để tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân và phục
vụ cho xã hội.
2.2.2. Khái niệm người lao động trong các Công ty Cổ phần
2.2.2.1. Khái niệm người lao động
Theo Bộ luật lao động, người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động
và có giao kết hợp đồng lao động. Trong đó người lao động trực tiếp (người công nhân trực tiếp
tham gia sản xuất). Người lao động gián tiếp (người sử dụng lao động: nhà lãnh đạo, quản lý,
những người làm việc tại các phòng, ban của một đơn vị, không trực tiếp sản xuất) [28].
Người lao động trong các công ty là những người đã đủ điều kiện về mặt pháp lý để có
thể tham gia làm việc trong các công ty bao gồm những người quản lý, người làm công tác văn
phòng và công nhân trực tiếp sản xuất tại các phân xưởng.
2.2.2.2. Khái niệm Công ty Cổ phần
Điều 77 luật doanh nghiệp 2005 quy định về CTCP theo đó: “Công ty Cổ phần là một
loại hình đặc trưng của loại hình công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của Công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà mình đang sở hữu trong
công ty” [24].
2.2.2.3. Đặc điểm người lao động trong các Công ty Cổ phần
Đa số người lao động làm việc trong các CTCP hiện nay là những người lao động trẻ
trong độ tuổi 18 – 35, trình độ học vấn nghề nghiệp thấp (chủ yếu mới tốt nghiệp THPT và qua
đào tạo nghề), có gần 77% người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc
được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành
phố cao hơn so với ở khu vực nông thôn. Chính vì lẽ đó mà người lao động chỉ thích ứng được
với từng khâu kỹ năng đơn giản và lặp đi lặp lại trong sản xuất, với những công việc đòi hỏi kỹ
năng khó, chỉ có số ít lao động được đánh giá là có tay nghề cao mới đáp ứng được [45].
2.2.3. Tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần
Tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần là ý thức tự giác
của người lao động thể hiện sự chủ động, say mê, sáng tạo và nỗ lực vượt qua mọi khó khăn trở

động; động cơ làm việc của người lao động; nhu cầu thành tích của người lao động; thuộc tính
nhân cách của người lao động.
Thứ hai, nhóm các yếu tố khách quan như: tính chất công việc; lương thưởng và các chế
độ đãi ngộ; yếu tố phúc lợi, bảo hiểm xã hội; yếu tố đào tạo người lao động; yếu tố người quản
lý; yếu tố đồng nghiệp; yếu tố bầu không khí tâm lý làm việc.
Tiểu kết chƣơng 2
Đề tài luận án đã xác định một số vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu
thực trạng. Xây dựng 2 khái niệm công cụ cốt lõi đó là khái niệm tính tích cực và tính tích cực
làm việc của người lao động.
Luận án cũng chỉ ra tính tích cực của con người nảy sinh trong hoạt động của cá nhân và
thúc đẩy hoạt động đạt tới mục đích, nhằm để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Tính tích cực được
tạo nên từ cái gốc nhu cầu, động cơ của cá nhân. Nhu cầu là nguồn gốc động cơ của mọi hoạt
động, là nhân tố kích thích tính tích cực hoạt động của nhân cách, là cơ sở để các nhà quản lý sử
12


dụng vào việc động viên, khuyến khích tinh thần làm việc hăng say, tích cực của người lao
động.
Luận án cũng chỉ ra hệ thống các biểu hiện của TTCLV của người lao động trong các
CTCP khu vực phía Bắc nước ta bao gồm 4 yếu tố thành phần đó là: sự chủ động; sự say mê; sự
sáng tạo; sự nỗ lực vượt khó trong làm việc. Các thành phần này có mối liên quan mật thiết với
nhau và là yếu tố cần và đủ để tạo nên TTCLV của người lao động.
Ngoài ra trong luận án của chúng tôi cũng chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến TTCLV
của người lao động bao gồm các yếu tố chủ quan như: trình độ văn hóa chuyên môn của người
lao động; động cơ làm việc của người lao động; các thuộc tính tâm lý cá nhân; nhu cầu thành
tích của người lao động; Các yếu tố khách quan như: tính chất công việc; lương thưởng và các
chế độ đãi ngộ; yếu tố phúc lợi, bảo hiểm xã hội; yếu tố đào tạo người lao động; yếu tố người
quản lý; yếu tố đồng nghiệp; yếu tố bầu không khí tâm lý làm việc. Kết quả nghiên cứu cơ sở lý
luận đã giúp người nghiên cứu định hình phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu thực
tiến.

khách quan ảnh hưởng đến TTCLV của người lao động.
3.2.5. Phương pháp quan sát
Mục đích: Thu thập dữ liệu định tính một cách khách quan thực trạng những biểu hiện và yếu
tố ảnh hưởng đến biểu hiện TTCLV của người lao động trong các CTCP khu vực phía Bắc
nước ta hiện nay.
3.2.6. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích: Thu thập, bổ sung, kiểm tra và làm rõ hơn những thông tin đã thu được từ khảo sát
thực tế trên diện rộng.
3.2.7. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu các sản phẩm của người lao động làm ra thông
qua việc người lao động tự đánh giá về kết quả làm việc của mình qua việc hoàn thành định
mức công việc và qua sự thành thạo làm chủ các phương tiện sản xuất làm việc nhằm thu thập
các số liệu phản ánh kết quả làm việc, làm cơ sở đánh giá sự tích cực của người lao động.
3.2.8. Phương pháp phân tích trường hợp điển hình
Mục đích: Nhằm minh họa cho kết quả nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Để có thông tin đa dạng, chúng tôi phân tích sâu 02 CTCP từ kết quả
thực trạng TTCLV chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa
TTCLV của các công ty.
Nội dung nghiên cứu: Phân tích sâu 02 CTCP mà chúng tôi điều tra gồm: Lịch sử phát triển
của công ty, đặc điểm ngành nghề, truyền thống văn hóa công ty và thực trạng các biểu hiện
TTCLV của người lao động trong công ty và các yếu tố ảnh hưởng đến TTCLV của người lao
động trong công ty.
Ngoài ra luận án cũng phân tích 03 chân dung tâm lý điển hình của người lao động: Việc
phân tích được tiến hành nhằm tìm hiểu: Một số đặc điểm cá nhân như giới tính, độ tuổi, thâm
niên làm việc, trình độ đào tạo, những biểu hiện của TTCLV được thể hiện trong quá trình làm
việc và các yếu tố nào ảnh hưởng đến các biểu hiện đó.
3.2.9. Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Xử lý các số liệu thu được ở phần điều tra chính thức để phục vụ cho việc phân tích
kết quả chương 4.
14



Bảng 3-1: Bảng tổng hợp mức độ biểu hiện tính tích cực làm việc
Mức độ biểu
hiện TTCLV

Định lƣợng

Mức 3- TTCLV
biểu hiện ở mức
độ cao

3,80 ≤ ĐTB ≤ 4,37

Mức 2- TTCLV
biểu hiện ở mức
độ trung bình

3,08 ≤ ĐTB < 3,80

Mức 1- TTCLV
biểu hiện ở mức
độ thấp

2,29 ≤ ĐTB < 3,08

Định tính
Các biểu hiện tính tích cực làm việc của người lao động
thể hiện trong việc tích cực chủ động, say mê với công
việc ở mức độ cao. Trong khi làm việc luôn tìm tòi sáng

Chƣơng 4.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƢỜI
LAO ĐỘNG TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN KHU VỰC PHÍA BẮC NƢỚC TA
4.1. Thực trạng tính tích cực làm việc của ngƣời lao động trong các Công ty Cổ phần
4.1.1. Thực trạng chung về tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ
phần
Kết quả khảo sát được mô tả ở Biểu đồ 4-1
16


80

67.9

60
40
16.4

15.7

20
0

Mức độ thấp

Mức độ trung bình

Mức độ cao

Biểu đồ 4-1 Mức độ tính tích cực làm việc của người lao động trong các Công ty Cổ phần


Mức độ (%)
Trung bình

Cao

1
2
3
4

Sự chủ động trong làm việc
Sự say mê trong làm việc
Sự sáng tạo trong làm việc
Sự nỗ lực vượt khó trong làm việc

3,60
3,56
3,09
3,58

0,42
0,41
0,59
0,45

17,0
15,1
17,3
8,8

Khối lượng hoàn thành

(3) Mức độ TTCLV cao

F, p (sig)
F = 14,031; p = 0,000
(1) < (2); p = 0,000
(1) < (3; p = 0,000
(2) < (3); p = 0,000

F=21.46; p = 0,000
(1) < (2); p = 0,000
Chất lượng công việc
(1) < (3); p = 0,000
(3) Mức độ TTCLV cao
(2) < (3); p = 0,000
Thực tế này cho thấy hành vi tích cực gắn liền với hiệu quả làm việc cả về mặt lý luận
(1) Mức TTCLV độ thấp
(2) Mức độ TTCLV trung bình

cũng như thực tiễn. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan thuận, có ý nghĩa
thống kê giữa việc chủ động tìm các giải pháp khi gặp sự cố và hiệu quả làm việc (r=0.236,
p=0.00) với khối lượng công việc và chất lượng công việc. Số liệu này phù hợp với quan điểm
của M.A.Griffin và cộng sự cho rằng trong bối cảnh không chắc chắn, việc chịu trách nhiệm xử
lý tình huống thay vì thụ động chờ đợi để được hướng dẫn sẽ đem lại hiệu quả làm việc tổt hơn
Griffin et al. (2007), [71].
Kết quả nghiên cứu trên cũng có sự trùng hợp với một số nghiên cứu của các tác giả S. J.
Ashford, E. W. Morrison khi cho rằng tính tích cực góp phần nâng cao năng xuất, chất lượng và
hiệu quả của hoạt động, những người lao động tích cực đều thực hiện công việc hiệu quả hơn
[19],[48, tr.199-124], [87, tr.173-183].

3,54
0,33
(2) < (3); p > 0,05
Thông qua nghiên cứu cho thấy độ tuổi có ảnh hưởng nhất định đến TTCLV, độ tuổi của
người lao động càng cao (trên 35 tuổi) thì càng tích cực làm việc hơn. Nhận xét này cũng tương
đồng với P. Warr và các công sự trong nghiên cứu của mình các tác giả cũng có kết luận cho
rằng càng có tuổi thì lại càng tích cực” [111, tr.343-353]. Tuy nhiên, lại có phần khác biệt so
với các kết quả nghiên cứu của các tác giả Morrison & Phelps [85], cho rằng tính tích cực nhằm
tăng cường hiệu quả làm việc không có mối liên hệ nào với tuổi tác.
4.2.3. So sánh tính tích cực làm việc của người lao động giữa các Công ty Cổ phần
Tổng hợp kết quả so sánh về TTCLV của người lao động trong các CTCP cho thấy.
Trong 4 CTCP mà chúng tôi tiến hành khảo sát thì CTCP 26 - BQP được đánh giá có TTCLV
cao nhất, tiếp đó là CTCP Đặng Gia, CTCP Lilama 69 – 1 và thấp nhất là CTCP May Đức
giang với điểm trung bình lần lượt là (3,51, 3,46, 3,44, 3,33). Sự khác biệt này có ý nghĩa về
mặt thống kê, với p < 0,05. Đặc biệt sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê thể hiện rất rõ qua
biểu hiện “say mê làm việc”, “sáng tạo trong làm việc”.
4.3. Những yếu tố ảnh hƣởng đến tính tích cực làm việc của ngƣời lao động trong các
Công ty Cổ phần
TTCLV của người lao động chịu ảnh hưởng bởi tất cả các yếu tố chủ quan và khách quan
với các mức độ ảnh hưởng khác nhau. Trong đó các yếu tố ảnh hưởng như động cơ làm việc
của người lao động; nhu cầu thành tích; tính chất công việc; lương, thưởng và các chế độ đãi
ngộ; công tác đào tạo cho người lao động; bầu không khí tâm lý có mối tương quan thuận, chặt
với TTCLV. Bên cạnh đó các yếu tố ảnh hưởng chủ quan, khách quan cũng có mối tương quan
và ảnh hưởng đến từng mặt biểu hiện của TTCLV. Trong đó yếu tố động cơ nội tại, động cơ vị
kỷ cá nhân; yếu tố lương thưởng và chế độ đãi ngộ; yếu tố nhu cầu thành tích có mối tương
quan, thuận chặt hơn cả tới các mặt biểu hiện của TTCLV. (Xem bảng 11-1)
4.3.3. Dự báo về các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động
Dự báo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến TTCLV của người lao động qua
phép phân tích hồi quy bội, cho thấy các mức độ ảnh hưởng của những yếu tố theo xu hướng
giảm dần xác định theo hệ số beta () sau: yếu tố động cơ nội tại được dự báo có ảnh hưởng

,062
,022
,065
,019
,042
,018

Standardized
Coefficients
Beta
,400
,305
,168
,106
,137
,096

t

Sig.

10,887
9,662
7,219
4,346
2,825
3,350
2,365

,000

Unstandardized
Standardized
Coefficients
Coefficients
B
Std. Error
Beta
,881
,187
,215
,035
,330
,185
,035
,227
,101
,025
,184
,156
,040
,163
,077
,032
,132

20

t

4,712

(12) Lương
(13) Yếu tố bảo hiểm
(14) Yếu tố đào tạo
(15) Yếu tố người quản lý
(16) Yếu tố đồng nghiệp
(17) Bầu không khí tâm lý

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

.370

**

.280

**

.234

**

.206

**

.573

**

.331

**

.439

**

.372



.479

**

.586

**

.433

**

.240

**

.220

**

.175

**

1
.565

**


**

.214

**

.334

**

.542

**

.415

**

.301

**

.305

**

.357

**



*

.344

**

.461

**

.413

**

1
.481

**

.269

**

.232

**

.213


.054

.412

**

.802

**

.325

**

.709

**

.288

**

.139

*

.129

.482


.427

**

.198

**

.267

**

.179

**

.104

**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).
*. Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

21

.301

**

1
.186



1

.261

**

.135

.633

**

.208

**

.341

**

.230

**

.049

.135

*


-.064

**

.226

**

**

.272

**

.089
.025
.310

**

.211

**

.227

-.041

1

**

.103

1
.269

**

.431

**

.226

**

1
.430

**

1

*

.095

.139


.024
.305
7.430
.000
Người quản lý
.121
.031
.149
3.861
.000
8
Bầu không khí TL
.099
.036
.103
2.757
.006
Lương, thưởng
.080
.022
.146
3.692
.000
Bảo hiểm, phúc lợi
.077
.028
.104
2.757
.006
Nhu cầu thành tích

bật ở anh Trần X. L được đồng nghiệp và cấp quản lý đánh giá là người thợ giỏi có nhiều sáng
kiến, sáng tạo rút ngắn thời gian làm việc và tích kiệm chi phí cho sản xuất. Trong công việc
luôn chủ động, gương mẫu và nỗ lực không ngừng để kết quả làm việc của mình luôn đạt hiệu
quả cao. Bản thân anh là người cầu tiến, ham học hỏi luôn cố gắng để hoàn thiện bản thân. Hơn
22


thế nữa anh cũng được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, được tạo điều kiện tham gia
học tập nâng cao trình độ và được hưởng các chế độ lương thưởng theo như bản thân anh đánh
giá là hợp lý và có sự khích lệ người lao động.
- Trường hợp chị Đỗ T.T.M, là người lao động có biểu hiện TTCLV ở mức độ trung bình.
Điểm nổi bật ở chị đó là thể hiện của người lao động luôn chấp hành nghiêm chỉnh mọi nội quy,
quy định của công ty, luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao, nhưng thiếu sự chủ động
trong công việc và bản thân cũng chưa chú trọng đến việc học tập nâng cao tay nghề.
- Trường hợp anh Nguyễn V.T được đánh giá là người lao động có TTCLV ở mức độ
thấp ở tất cả các biểu hiện của TTCLV, trong đó điểm mà nghiên cứu nhận thấy đó là bản thân
người lao động không có sự say mê, gắn bó với nghề, ý thức kỷ luật lao động thấp, không được
tư vấn định hướng nghề nghiệp trước khi lựa chọn nghề.
Tiểu kết chƣơng 4
Trên cơ sở điều tra thực trạng TTCLV của người lao động cho thấy đa số người lao động
trong các CTCP khu vực phía Bắc nước ta, TTCLV ở mức độ trung bình.
So sánh giữa các nhóm người lao động khác nhau như: Độ tuổi; trình độ học vấn, nghề
nghiệp cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở các biểu hiện tính tích cực làm
việc cụ thể: biểu hiện tính tích cực làm việc của những người lao động lớn tuổi có biểu hiện
mức độ tính tích cực làm việc cao hơn người lao động trẻ tuổi được thể hiện rất rõ qua “Sự say
mê làm việc” “Nỗ lực vượt khó trong công việc”; biểu hiện tính tích cực làm việc của người lao
động có trình độ học vấn, nghề nghiệp cao có biểu hiện mức độ tính tích cực làm việc cao hơn
người lao động có trình độ học vấn, nghề nghiệp thấp, sự khác biệt ý nghĩa này được thể hiên
rất rõ qua “Sự chủ đông trong làm việc”,“ Sự say mê làm việc” “Nỗ lực vượt khó trong công
việc”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status