BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MINH LỢI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 62 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội - 2017
Công trình được hoàn thành tại Học viện Hành chính Quốc gia.
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Đinh Văn Mậu
2. GS.TS. Nguyễn Viết Tiến
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận văn Thạc sĩ
Quản lý Hành
chính công, Học
viện Hành chính
Quốc gia
2003
2
Một số giải pháp về chính sách đào tạo nhân
lực y tế trong giai đoạn hiện nay.
Tạp chí Quản lý
nhà nước
8/2012
3
Hoàn thiện thể chế đào tạo nguồn nhân lực
điều dưỡng ở Việt Nam theo hướng hội nhập
quốc tế.
Tạp chí Quản lý
nhà nước
7/2016
4
cường chất lượng bảo vệ, CSSK nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác đào tạo
cũng như quản lý nhà nước (QLNN) về đào tạo NNLĐD vẫn còn nhiều bất cập và có những khó khăn, thách
thức. Về lý luận, đường lối chiến lược phát triển kinh tế-xã hội xác định phát triển giáo dục và đào tạo
(GD&ĐT) là một trong những động lực quan trọng, đầu tư cho việc phát triển NNL có chất lượng được coi
là khâu quan trọng nhất so với các loại đầu tư khác cho việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vấn đề
đào tạo NNLĐD đã được nhiều tác giả nghiên cứu nhưng chưa có một nghiên cứu nào được tiếp cận dưới
góc độ khoa học về QLNN, đặc biệt là cấp độ tiến sĩ. Về thực tiễn, công tác điều dưỡng có vai trò quan trọng
trong hoạt động CSSK nhân dân, đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) chiếm tỷ lệ đa số trong cơ cấu NLYT.
Hoạt động đào tạo NNLĐD của nước ta đã đạt được một số thành tựu nhưng cũng bộc lộ những vấn đề bất
cập như chưa xác định rõ cơ cấu nhân lực cần thiết trong hệ thống y tế, số lượng các CSĐT và quy mô đào
tạo tăng nhanh chưa gắn với yêu cầu hoạt động chuyên môn nghề nghiệp và nhu cầu nhân lực của ngành y
tế. Hoạt động QLNN về đào tạo NNLĐD cũng bộc lộ những vấn đề cần phải giải quyết như hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, bộ máy quản lý còn chồng chéo chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ
quan QLNN về giáo dục và đào tạo với cơ quan quản lý ngành. Về hội nhập quốc tế, ngày 31/12/2015 thành
lập Cộng đồng Kinh tế các nước khu vực Đông Nam Á (ASEAN) hình thành thị trường lao động tự do đối
với một số ngành trong đó có điều dưỡng.
Từ những lý do nêu trên cho thấy, việc thực hiện đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân
lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu, rà soát, đánh giá thực trạng và đưa ra những giải
pháp phù hợp trong công tác QLNN về đào tạo NNLĐD ở nước ta hiện nay là rất cần thiết và cấp bách.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là góp phần hoàn thiện QLNN về đào tạo NNLĐD ở Việt
Nam để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án để làm rõ những nội dung luận án có
thể kế thừa, những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
- Nghiên cứu, tổng hợp và bổ sung làm rõ cơ sở khoa học QLNN về đào tạo NNLĐD.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về đào tạo NNLĐD ở nước ta hiện nay, phân tích
những kết quả đã đạt được, hạn chế và xác định các nguyên nhân chủ yếu.
- Tổng hợp các quan điểm, định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về đào tạo NNLĐD
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết một số câu hỏi nghiên cứu chính như sau:
- Đào tạo NNLĐD và QLNN về đào tạo NNLĐD là gì? Có đặc điểm, nội dung như thế nào?
- Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến QLNN về đào tạo NNLĐD?
- Thực trạng NNLĐD và đào tạo NNLĐD hiện nay ở Việt Nam như thế nào?
- Thực trạng QLNN về đào tạo NNLĐD như thế nào? Kết quả, hạn chế và nguyên nhân? Cần được
hoàn thiện theo hướng nào?.
5.2. Giả thuyết khoa học
- Hoạt động điều dưỡng và ĐDV có vai trò không thể thiếu trong hệ thống y tế, có ý nghĩa quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng KB, CB, bảo vệ và CSSK nhân dân. Để hoạt động chuyên môn của
ĐDV đáp ứng được yêu cầu, đào tạo NNLĐD có vai trò đặc biệt quan trọng và ý nghĩa quyết định.
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đào tạo NNLĐD chưa đầy đủ, chưa đồng
bộ và còn nhiều bất cập.
- Tổ chức bộ máy QLNN chưa được kiện toàn, đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giảng viên chưa
đáp ứng được yêu cầu.
- Việc hỗ trợ và huy động các nguồn lực cho đào tạo NNLĐD còn hạn chế; hoạt động thanh tra,
kiểm tra và đánh giá, tổng kết về đào tạo NNLĐD còn nhiều bất cập.
- Cần phải tăng cường QLNN về đào tạo NNLĐD để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng CSSK
nhân dân và hội nhập quốc tế.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, rút ra được các nội dung luận án
cần tiếp tục giải quyết.
3
- Phân tích nội hàm, làm rõ các khái niệm liên quan và đề xuất khái niệm hoàn thiện QLNN về đào
tạo NNLĐD. Xác định được các nội dung QLNN và phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động QLNN
trong lĩnh vực này.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng, xác định được nguyên nhân kết quả đạt được và nguyên nhân hạn
cán bộ y tế tại khu vực Châu Á và Thái Bình dương). Nghiên cứu này nói lên rằng, để cho chương trình ưu
đãi nhân viên y tế được thành công thì cần phải có sự cam kết chính trị lâu dài và phải được duy trì ở tất cả
các cấp, cần phải có sự hiểu biết một cách sâu sắc và toàn diện về văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế.
Tác giả Churnrurtai Kanchanachitra với chủ đề Human resources for health in Southeast Asia:
shortages, distributional challenges, and international trade in health services (Nguồn nhân lực y tế ở Đông
Nam Á: sự thiếu hụt, những thách thức về phân phối và thương mại quốc tế trong dịch vụ y tế) đã có những
đánh giá về NNLĐD Việt Nam: đã có nhiều ĐDV có trình độ thạc sỹ và bắt đầu có tiến sỹ điều dưỡng được
đào tạo, làm việc ở nước ngoài. Số lượng điều dưỡng trên 10.000 người cũng tăng lên (8,82 năm 2009 so với
9,35 năm 2010).
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với các tài liệu Nursing Midwifery services-Strategic Directions 20112015 (Định hướng chiến lược dịch vụ điều dưỡng-hộ sinh giai đoạn 2011-2015), Strengthening nursing and
midwifery, the sixty-fourth World Health Assembly (Nghị quyết số 64 của Hội đồng Y tế thế giới về tăng
cường điều dưỡng và hộ sinh) đã xác định vai trò của ĐDV trong cơ cấu NLYT và trong hệ thống y tế, giúp
cho người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế, đảm bảo tính phổ cập, công bằng và hiệu quả.
Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam được xây dựng từ năm 2008 và được phê duyệt
vào ngày 24/4/2012 theo Quyết định số 1352/QĐ-BYT của Bộ Y tế gồm 3 lĩnh vực năng lực và 25 tiêu
chuẩn, 110 tiêu chí cần đạt được của người ĐD để đủ năng lực hành nghề.
Bộ Y tế trong báo cáo tại Hội nghị đào tạo nhân lực Điều dưỡng Việt Nam 2010, Chương trình hành
động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng-hộ sinh, giai đoạn từ nay đến năm 2020, Báo cáo tổng
quan ngành y tế 2015, đã có những đánh giá về thực trạng NNLĐD, quản lý và sử dụng NNLĐD của Việt
Nam: đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng trong những năm gần đây thông qua nhiều hình
thức như đào tạo ở nước ngoài, đào tạo liên kết, liên thông, theo địa chỉ sử dụng, cử tuyển và đào tạo liên tục.
Các báo cáo của Bộ Y tế đã chỉ ra rằng, số lượng ĐDV được đào tạo tăng nhanh qua các năm nhưng có sự
mất cân đối về trình độ đào tạo, mất cân đối NNLĐD giữa các vùng miền, lĩnh vực chuyên môn, chưa rõ
ràng về phạm vi hoạt động chuyên môn.
1.1.2. Nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
Báo cáo của Barzansky, B. và Abraham Flexner The Future of Nursing Education: Ten Trends to
Watch (Tương lai của giáo dục điều dưỡng: Mười xu hướng để hướng tới) đã đề cập tới những yếu tố cần
phải đổi mới trong đào tạo ĐDV.
Theo tài liệu Nursing Midwifery services-Strategic Directions 2011-2015 (Định hướng chiến lược
dịch vụ điều dưỡng-hộ sinh giai đoạn 2011-2015) của WHO, mục tiêu đào tạo ĐD ở khu vực Đông Nam Á
Nguyễn Minh Lợi trong bài báo Hoàn thiện thể chế đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam
theo hướng hội nhập quốc tế đã giới thiệu về thực trạng hệ thống thể chế đào tạo NNLĐD Việt Nam hiện
nay chưa đảm bảo tính đồng bộ, chưa thể hiện được tính đặc thù trong đào tạo NNLĐD.
Năm 2013, cơ sở dữ liệu về điều dưỡng và hộ sinh của các nước khu vực Tây Thái bình dương
(Western Pacific Region Nursing/Midwifery Databank) của WHO đưa ra một số thông tin về việc đăng ký và
vai trò của các cơ quan QLNN, các tổ chức trong quản lý và cấp giấy phép hành nghề ĐD.
Tác giả Sun-Joo Kang và In-Sook Kim trong bài báo Development of the Korean Nursing Profession
with Changes in its Legal Basis (Sự phát triển điều dưỡng chuyên nghiệp ở Hàn Quốc với thay đổi về chính
sách pháp luật) đã giới thiệu về sử dụng và đào tạo NNLĐD của Hàn Quốc, những vấn đề cần phải điều
chỉnh trong việc phát triển nghề nghiệp khi có sự thay đổi về Luật Dịch vụ y tế của Hàn Quốc năm 2015.
Trong các tài liệu Cơ chế kỳ thi quốc gia về điều dưỡng và cấp bằng tại Nhật Bản của tác giả
Iwasawa Kazuko, Japan’s Nursing Administration (Quản lý điều dưỡng tại Nhật Bản) của Bộ Y tế, Lao
động và Phúc lợi Nhật Bản đã tập trung giới thiệu về quá trình phát triển ngành điều dưỡng của Nhật Bản.
Hệ thống thể chế và vai trò của nhà nước đối với kỳ thi quốc gia để cấp giấy phép hành nghề.
Bộ GD&ĐT trong Báo cáo tổng kết 03 năm thực hiện Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của
Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 đã nêu lên những thành tựu
đã đạt được về đổi mới và thể chế đối với giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị BCH Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT đã xác định những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân và định hướng về GD&ĐT, trong đó
khẳng định: Đầu tư cho GD&ĐT chưa hiệu quả; chính sách, cơ chế tài chính cho GD&ĐT chưa phù hợp.
6
Báo cáo thường niên của Bộ Y tế và nhóm các nhà tài trợ về y tế năm 2015: hạn chế trong việc đảm
bảo chất lượng được xác định là vấn đề chính trong hệ thống đào tạo NLYT.
Báo cáo đề dẫn Hội nghị đào tạo nhân lực điều dưỡng và Báo cáo phát triển nhân lực y tế: thành
tựu, khó khăn và giải pháp của Bộ Y tế cho thấy mạng lưới các CSĐT và quy mô đào tạo NNLĐD đã có sự
phát triển mạnh mẽ trong 10 năm trở lại đây, mất cân đối cung - cầu.
1.2. Kết quả nghiên cứu tổng quan và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1. Kết quả nghiên cứu tổng quan từ các công trình liên quan
công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở Việt Nam mới tiếp cận đến vấn đề NNLĐD, đào tạo NNLĐD
mà chưa có nghiên cứu nào tiếp cận ở góc độ QLNN về đào tạo NNLĐD. Mặt khác, nhiều công trình đã nêu
được thực trạng đào tạo và sử dụng NNLĐD ở Việt Nam, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng NNLĐD nhưng chưa nêu ra được các khuyến nghị về mô hình đào tạo, chính sách thu hút và đặc biệt
là mô hình QLNN về đào tạo NNLĐD theo các nội dung quy định của Luật Giáo dục và mô hình của các
nước để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
7
Chương 2
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG
2.1. Điều dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm nguồn nhân lực điều dưỡng
- Khái niệm nguồn nhân lực điều dưỡng
Điều dưỡng là sự chủ động và hợp tác trong hoạt động chăm sóc, tăng cường sức khỏe, phục hồi
chức năng, quản lý, tư vấn sức khỏe cho người khỏe, người ốm và người hấp hối ở cơ sở y tế, gia đình và
cộng đồng.
Nguồn nhân lực điều dưỡng là lực lượng lao động xã hội có đủ năng lực chuyên môn nghề nghiệp
điều dưỡng, chủ động thực hiện được đầy đủ chức năng, vai trò và nhiệm vụ của người điều dưỡng trong
hoạt động chuyên môn y tế.
- Đặc điểm nguồn nhân lực điều dưỡng
Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định: Nghề y là một nghề đặc
biệt, cần được đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Như vậy, NNLĐD có những đặc điểm
riêng: (i) người điều dưỡng phải giỏi chuyên môn và luôn đề cao đạo đức nghề nghiệp vì quá trình hành nghề
liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người; (ii) hoạt động chăm sóc y tế đòi hỏi nhiều đối tượng
tham gia, làm việc theo nhóm, đồng bộ và cần kiến thức, kỹ năng cao; (iii) NNLĐD đòi hỏi tính ổn định về
cơ cấu với nhiều trình độ đào tạo, với những vị trí việc làm, điều kiện và môi trường làm việc khác nhau và
có tính tổ chức cao, đào tạo NNLĐD cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và cơ sở y tế.
NNLĐD và giảng viên trong hệ thống đào tạo NNLĐD là rất cần thiết; (v) Tính hiệu lực, hiệu quả: Lấy hiệu
quả của hoạt động chuyên môn-nghiệp vụ để đánh giá cán bộ công chức, viên chức liên quan đến QLNN và
hoạt động đào tạo NNLĐD.
- Một số đặc điểm của QLNN về đào tạo NNLĐD: (i) QLNN về đào tạo NNLĐD là một hoạt động
của QLNN, vì thế nó cũng mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức rất cao và tính mệnh lệnh đơn phương
của cơ quan có thẩm quyền QLNN, phải tuôn thủ thứ bậc chặt chẽ, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương
phục tùng trung ương; (ii) QLNN về đào tạo NNLĐD vừa QLNN về hành chính, chuyên môn nghiệp vụ đào
tạo của cơ quan QLNN về GD&ĐT ở Trung ương vừa quản lý hành chính ở địa phương; (iii) QLNN về đào
tạo NNLĐD mang tính xã hội, bản chất của ngành y tế là nhân đạo, nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa
nên QLNN về đào tạo NNLĐD không có sự cách biệt giữa người quản lý và người bị quản lý, nhân đạo và
không vì lợi nhuận; (iv) QLNN về đào tạo NNLĐD cần hướng tới tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và giải
trình xã hội của các cơ sở đào tạo và sử dụng NNLĐD; (v) QLNN về đào tạo NNLĐD phải đảm bảo sự
thống nhất, phù hợp với yêu cầu của hệ thống y tế cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng.
2.2.2. Sự cần thiết và vai trò quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
- Định hướng mục tiêu đào tạo NNLĐD đáp ứng yêu cầu của hệ thống y tế và nhu cầu xã hội:
Cơ quan QLNN ban hành các tiêu chuẩn, tiêu chí đối với NNLĐD là những nội dung để đảm bảo tính minh
bạch và công khai trong quá trình sử dụng NNLĐD, công bố cho toàn thể xã hội biết về yêu cầu sử dụng
nhân lực, có ý nghĩa định hướng để xác định mục tiêu đào tạo NNLĐD cho các cơ sở đào tạo và sử dụng
NNLĐD thực hiện, là cơ sở để kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo và sử dụng NNLĐD.
- Hỗ trợ và tạo điều kiện cho hoạt động đào tạo NNLĐD: QLNN về đào tạo NNLĐD có tính xã hội,
Nhà nước cần có các chủ trương, chính sách để hỗ trợ và tạo điều kiện cho hoạt động đào tạo NNLĐD như
cơ chế phối hợp giữa cơ sở đào tạo với cơ sở thực hành, hỗ trợ nguồn lực đầu tư, chính sách xã hội hóa để
tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có điều kiện đầu tư cho đào tạo NNLĐD.
- Nâng cao chất lượng và phát huy vai trò của NNLĐD: Thông qua hoạt động QLNN, Nhà nước cần
có những chính sách cần thiết để việc đào tạo NNLĐD có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của hệ thống y tế và
tạo cơ hội cho người điều dưỡng sau khi được đào tạo được thể hiện đầy đủ năng lực và vai trò của mình
trong hoạt động CSSK nhân dân.
2.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đào tạo NNLĐD, bao gồm: (i)
Xây dựng khung cơ cấu NNLĐD trong cơ cấu nhân lực của hệ thống y tế; (ii) Xác định, đánh giá đúng thực
- Hỗ trợ và huy động các nguồn lực cho đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
Các nguồn lực đầu tư cho đào tạo NNLĐD phải phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu để đảm bảo
chất lượng đào tạo. Việc huy động các nguồn lực thông qua nhiều phương thức khác nhau như: ngân sách
nhà nước, chế độ học phí phù hợp, các chương trình, dự án và huy động các nguồn lực thông qua xã hội hóa.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát và tổng kết, đánh giá về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý, nhằm mục đích đảm bảo bộ máy
quản lý vận hành theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN. Thanh
tra, kiểm tra hoạt động đào tạo NNLĐD được tiến hành thường xuyên ở các cấp độ khác nhau, với nhiều
hình thức khác nhau. Tổng kết, đánh giá phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, đồng bộ của toàn bộ hệ
thống đào tạo NNLĐD để rà soát việc thực hiện và điều chỉnh chính sách.
2.3. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
2.3.1. Môi trường chính trị-hành chính và các chính sách của nhà nước
Hoạt động QLNN về đào tạo NNLĐD của Việt Nam phải phù hợp với các chủ trương, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với hệ thống thể chế, chính sách của Nhà nước. Các chính sách liên quan
bao gồm các quy định về các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, hoạt động đào tạo và các chế độ đãi ngộ cho
ĐDV, các chính sách về khung trình độ, nội dung CTĐT. Nhà nước cần có chính sách phù hợp để đào tạo
phù hợp quy luật cung-cầu, thúc đẩy các CSĐT phải thường xuyên đổi mới để đảm bảo chất lượng đào tạo,
chính sách sử dụng đãi ngộ hợp lý để khuyến khích, thu hút ĐDV khi tham gia thị trường lao động.
2.3.2. Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
Quá trình toàn cầu hóa về kinh tế và xã hội đã mang lại sự giao thoa và thậm chí không còn ranh giới
giữa các quốc gia ở nhiều góc độ, đặc biệt là vấn đề phát triển kinh tế, tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công
nghệ thông tin và truyền thông, du lịch quốc tế và thương mại, sự tăng trưởng của các tập đoàn đa quốc gia
và dịch chuyển dân số, hình thành thị trường lao động tự do ở từng khu vực, mất đi ranh giới và khoảng cách
khi lây lan dịch bệnh và việc cung cấp các dịch vụ CSSK. Nhà nước có vị trí đặc biệt với vai trò vừa tạo ra
thách thức khi thay mặt nhân dân ký kết thỏa thuận với một nước khác hoặc một nhóm các nước, vừa xác
10
định được những yếu tố thuận lợi và khó khăn của xu hướng toàn cầu hóa, trên cơ sở đó tạo ra các chính
sách, thể chế phù hợp để NNL của nước mình có thể sẵn sàng và thậm chí là chủ động tham gia vào quá trình
2.4.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của một số nước
trên thế giới
- Nhật Bản
Nghề điều dưỡng và đào tạo điều dưỡng tại Nhật Bản hình thành ngay từ những năm cuối của thế kỷ
XIX. Ngay từ năm 1948, Nhật Bản đã ban hành Đạo luật về ĐD, ĐD cộng đồng và ĐD sản phụ khoa (Act on
Public Health Nurses, Midwives and Nurses). Năm 1951, Nhật Bản đã ban hành quy định về CSĐT ĐD.
Quy định này được ban hành bởi Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá và Bộ Y tế và Phúc lợi và đã qua nhiều
lần chỉnh sửa, cập nhật, bổ sung. Năm 1992, Nhật Bản đã ban hành Đạo luật về Đảm bảo NNL về ĐD và các
cán bộ y tế khác (Act on Assurance of Work Forces of Nurses and other Medical Personnel).
Luật về ĐD, ĐD cộng đồng và hộ sinh đã có những quy định để tạo điều kiện tối đa các cơ hội cho
người có nhu cầu để học và có thể hành nghề ngành ĐD. Nhật Bản đề ra chương trình và mô hình đào tạo ở
11
nhiều cấp độ khác nhau, kể cả qua hành nghề trợ lý ĐD/nhân viên chăm sóc với nhiều chương trình và
CSĐT khác nhau: cử nhân 3 hoặc 4 năm, thạc sĩ hoặc tiến sĩ.
2.1. Sơ đồ đào tạo và hành nghề ĐD Nhật Bản (nguồn: Bộ Y tế Nhật Bản)
Nguồn: Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản
Ngoài các chương trình đào tạo chính quy, Hội ĐD Nhật Bản có vai trò quan trọng trong việc quy
định các chương trình đào tạo ngắn hạn, người học phải có giấy chứng nhận để phục vụ cho các lĩnh vực
khác nhau như: ĐD phẫu thuật, ĐD trẻ em, ĐD ung thư, ĐD tâm thần, chăm sóc giảm đau,...
- Hàn Quốc
Từ năm 1951 Hàn Quốc đã ban hành Đạo luật về dịch vụ y tế nhân dân (People’s Medical Service
Act) và Nghị định thi hành Đạo luật này (Enforcement decree of People’s Medical Service Act). Ngoài các
quy định về tiêu chuẩn, tiêu chí của các cơ sở y tế, hệ thống y tế. Đạo luật này đã được cập nhật và chỉnh sửa
nhiều lần với gọi mới là Medical Service Act (1962) và mới được cập nhật vào năm 2015. Theo quy định của
Luật năm 2015, kiểm định chất lượng giáo dục và hành nghề ĐD thuộc thẩm quyền của Hội đồng kiểm định
giáo dục ĐD thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Hàn Quốc. Chỉ những người tốt nghiệp và được cấp bằng cử nhân
cả hai, có giá trị và được tái cấp trong 5 năm nếu trải qua khóa đào tạo chuyên môn liên tục tối thiểu 50 giờ.
Sơ đồ 2.2. Quy định về đào tạo và hành nghề điều dưỡng Thái Lan
Nguồn: Nujjaree Chaimongkol và Hội đồng Điều dưỡng Thái Lan
Hiện nay, ĐD của Thái Lan có trình độ tối thiểu là đại học với các loại văn bằng cử nhân, thạc sĩ và
tiến sĩ. Chỉ những người tốt nghiệp và được cấp bằng cử nhân mới đủ điều kiện để thi và cấp GPHN.
Chương trình đào tạo cử nhân gồm 4 năm. Sau tốt nghiệp được cấp bằng với chức danh cử nhân khoa học
ĐD (Bacherlor of Nursing Science). Chương trình đào tạo thạc sĩ ĐD gồm 2 năm. Sau tốt nghiệp được cấp
bằng thạc sĩ khoa học ĐD (Master of Nursing Science). Chương trình đào tạo thạc sĩ được đào tạo có các chủ
đề khác nhau. Chương trình đào tạo tiến sĩ được thực hiện trong 3 năm. Có 2 loại chương trình đào tạo để
được cấp 2 loại bằng khác nhau (tạm dịch): tiến sĩ nghiên cứu (Doctor of Philosophy) hoặc tiến sĩ thực hành
(Doctor of Nursing Practice - DNP). Ngoài ra, Thái Lan còn có các chương trình đào tạo chuyên khoa và
được cấp chứng chỉ với thời gian từ vài tháng đến một năm về các lĩnh vực: ĐD cộng đồng (Community
Nursing), ĐD người già (Elderly Nursing), ĐD nhi khoa (Pediatric Nursing), ĐD người lớn (Adult Nursing).
2.4.2. Những giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Một là, nghề ĐD là một nghề độc lập có những đặc thù rất riêng biệt, quá trình hoạt động chuyên
môn thường xuyên tiếp xúc với con người mà trong đó đại đa số là những người có vấn đề về sức khỏe, cần
13
được quan tâm chăm sóc. Chính vì vậy, với tính đặc thù cao của đào tạo NNLĐD cần phải có những quy
định, tiêu chuẩn, tiêu chí rất khắt khe, chặt chẽ, quá trình đào tạo phải gắn liền với quá trình thực hành nghề
nghiệp và là một quá trình liên tục, bao gồm từ đào tạo cơ bản đến đào tạo chuyên sâu.
Hai là, cần phải có hệ thống thể chế riêng cho nghề ĐD nói chung và đào tạo NNLĐD nói riêng. Hệ
thống thể chế xác định rõ các yêu cầu về NNLĐD bao gồm: cơ cấu nhân lực và các trình độ đào tạo, tiêu
chuẩn năng lực chuyên môn nghề nghiệp của người ĐD; các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, tiêu
chuẩn, tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo dựa trên nguyên tắc hướng tới đánh giá kết quả đầu ra; quy định
về kỳ thi quốc gia và cấp CCHN, các điều kiện về hành nghề và các chế độ, chính sách sử dụng NNLĐD.
Ba là, hệ thống bộ máy quản lý được thiết kế đồng bộ, xác định rõ vai trò của từng cơ quan QLNN
Sau Cách mạng tháng Tám, lớp y tá đầu tiên được đào tạo 6 tháng do Giáo sư Đỗ Xuân Hợp làm Hiệu
trưởng được tổ chức tại Quân khu Việt Bắc. Tại miền Bắc, năm 1954 Bộ Y tế đã xây dựng CTĐT y tá sơ cấp
hoàn chỉnh để bổ túc cho số y tá đào tạo cấp tốc trong chiến tranh. Ở miền Nam, năm 1970 Hội Điều dưỡng
Việt Nam được thành lập. Về đào tạo, năm 1985 Bộ Y tế được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
đồng ý cho mở khoá đào tạo đại học ĐD đầu tiên tại Trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược thành
phố Hồ Chí Minh nhưng mới chỉ là hệ tại chức. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực đào tạo ĐD ở
nước ta. Năm 1995, khóa đào tạo trình độ đại học ĐD hệ chính quy được chính thức tuyển sinh tại Trường
Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 26/10/1990 Hội Y tá-Điều dưỡng Việt
Nam (nay là Hội Điều dưỡng Việt Nam) được thành lập với người Chủ tịch Hội đầu tiên là bà Vi Thị Nguyệt
Hồ. Trải qua hơn 25 năm xây dựng và phát triển, Hội Điều dưỡng Việt Nam luôn gắn bó và đồng hành với
sự phát triển của ngành ĐD, đã trở thành một tổ chức đại diện cho tiếng nói của hội viên là đông đảo ĐDV
trên cả nước.
3.2. Khái quát thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡn ở Việt Nam
3.2.1. Thực trạng xây dựng và triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo nguồn nhân
lực điều dưỡng
- Thực trạng xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo NNLĐD
Trong thời gian qua, nhiều chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được xây dựng, ban hành để hướng
dẫn và triển khai thực hiện về GD&ĐT và y tế nói chung, về đào tạo NNLĐD nói riêng.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã được Đại hội Toàn quốc lần thứ XI của
Đảng thông qua trong đó xác định một trong ba khâu đột phá là phát triển nhanh NNL, nhất là NNL chất lượng
cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển NNL với
phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Chiến lược phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020 đã xác định mục tiêu: mục tiêu tổng quát phát
triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan
trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội.
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã xác định mục tiêu: đổi mới căn bản và toàn diện theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng
cao một cách toàn diện. Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học; điều chỉnh cơ cấu
ngành nghề và trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực, nâng cao chất lượng
đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
trình độ đào tạo hiện nay có 4 trình độ: trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ hoặc chuyên khoa 1. Với mô
hình đào tạo hiện nay của Việt Nam, chưa phân biệt được sự cần thiết và khác biệt giữa các trình độ, loại
hình đào tạo khi chỉ có một tên gọi chung là “điều dưỡng” cho tất cả các chương trình và trình độ đào tạo.
Để có cơ sở cho các CSĐT xác định chuẩn đầu ra, Bộ Y tế đã ban hành chuẩn năng lực cơ bản người
ĐD Việt Nam theo Quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 21/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Tuy nhiên, hiện
nay chưa có bộ tiêu chí đánh giá chuẩn năng lực ĐD.
Thứ hai, về quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo điều dưỡng ở Việt Nam
Như trên đã nêu, quy hoạch đào tạo và phát triển NNLĐD đã được xác định trong nhiều văn bản của
Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Bộ Y tế và các cơ quan liên quan. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chưa có sự
thống nhất về quan điểm và cách tiếp cận giữa cơ quan QLNN về GD&ĐT với cơ quan QLNN chuyên
ngành dẫn đến thực trạng mất cân đối rất lớn cả về phát triển mạng lưới các CSĐT và quy mô đào tạo điều
dưỡng theo trình độ, vùng miền, không phù hợp với nhu cầu sử dụng NNLĐD của ngành.
Hiện nay cả nước có 119 cơ sở tham gia đào tạo ĐD trình độ trung cấp, sự gia tăng chỉ tập trung vào
các CSĐT ngoài công lập với 57 CSĐT; có 62 cơ sở tham gia đào tạo trình độ cao đẳng với 22 CSĐT ngoài
công lập; có 24 cơ sở tham gia đào tạo trình độ đại học với 10 CSĐT ngoài công lập. Sự phát triển nhanh của
các CSĐT ngoài công lập là kết quả của việc thực hiện chủ trương xã hội hóa trong GD&ĐT. Chính vì vậy,
các trường ngoài công lập đào tạo ĐD tập trung chủ yếu ở các khu vực có các đô thị lớn là Đồng bằng sông
Hồng (có thành phố Hà Nội) với 21 CSĐT, miền Trung (có thành phố Đà Nẵng) với 19 CSĐT và Đông Nam
Bộ (có thành phố Hồ Chí Minh) với 32 CSĐT. Về đào tạo sau đại học, đến nay mới chỉ có 3 CSĐT là
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Trường Đại học Y Dược Huế và Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
Thứ ba, về quy mô đào tạo điều dưỡng ở Việt Nam
Quy mô đào tạo NNLĐD có sự gia tăng nhanh chóng với khoảng 210000 chỉ tiêu giai đoạn 20102015. Quy mô đào tạo NNLĐD có sự mất cân đối giữa các trình độ, trong đó trình độ trung cấp vẫn chiếm tỷ
16
lệ cao (khoảng 50%). Theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 giữa Bộ Y tế
và Bộ Nội vụ từ 01/01/2021 sẽ không tuyển mới ĐDV trình độ trung cấp, từ 01/01/2025 sẽ không còn chức
danh ĐDV trình độ trung cấp. Theo Quy hoạch hệ thống khám bệnh, chữa bệnh, đến năm 2020 Việt Nam dự
kiến cần khoảng 225.000 ĐDV, cần tuyển mới khoảng 100.000 ĐDV. Nếu thực hiện theo Thông tư liên tịch
nói trên, trường hợp số ĐD tốt nghiệp trình độ đại học và cao đẳng được tuyển hết (khoảng 84.000), thì số
điều dưỡng ở Việt Nam
3.2.2.1. Thể chế về hoạt động nghề nghiệp, sử dụng và đãi ngộ
Luật KB, CB thông qua năm 2009 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Một trong những điểm đặc
biệt quan trọng trong quy định của Luật là vấn đề quy định về cấp chứng chỉ hành nghề đối với nhân lực hệ
KB, CB trong đó có ĐD (Điều 17), văn bằng để cấp chứng chỉ hành nghề (Điều 18). Sau khi tốt nghiệp và
được cấp bằng, người ĐDV muốn được cấp chứng chỉ hành nghề phải trải qua thời gian 9 tháng thực hành
tại cơ sở y tế và được xác nhận của thủ trưởng cơ sở y tế (Điều 24).
17
Thông tư số 07/2011/TT- BYT ngày 26/01/2011 đã quy định rõ 12 nhiệm vụ của ĐD trong công tác
chăm sóc người bệnh tại bệnh viện (Chương II). Đây là những nội dung cốt lõi của hoạt động ĐD trong cơ
sở y tế, làm cơ sở xác định những năng lực cần có của người ĐD, là cơ sở để các CSĐT xác định xem sản
phẩm đào tạo đã đáp ứng được yêu cầu của hệ thống y tế hay chưa. Thông tư cũng quy định rõ cơ sở KB, CB
phải xác định rõ nhu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ đối với người ĐD theo quy định tại Thông tư liên
tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Nội vụ và đáp
ứng yêu cầu Thỏa thuận công nhận dịch vụ chăm sóc đã được Chính phủ ký kết với các nước ASEAN ngày
08/12/2006 (Điều 17 và Điều 18).
Ngày 15/11/2010 Luật Viên chức ra đời. Một trong những quy định của Luật Viên chức là các tổ
chức sử dụng viên chức phải mô tả và xác định vị trí việc làm (Điều 7) và quy định về hạng viên chức và tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp của hạng viên chức (Điều 9). Ngày 07/10/2015, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban
hành Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y. Thông tư đã quy định từ ngày 01/01/2021 sẽ không tuyển mới ĐDV có trình
độ trung cấp và từ ngày 01/01/2025 sẽ chuẩn hóa tối thiểu là trình độ cao đẳng đối với ĐDV.
3.2.2.2. Thể chế về hoạt động và tổ chức đào tạo
Luật Giáo dục 1998 đã được chỉnh sửa, bổ sung vào các năm 2005 và 2009, Luật Giáo dục đại học
ban hành năm 2012 và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn đã có những quy
định về về hoạt động đào tạo. Tuy nhiên, các quy định về đào tạo NNLĐD vẫn còn nhiều bất cập.
Thể chế về mở ngành đào tạo
Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17/02/2011 của Bộ GD&ĐT quy định về điều kiện, hồ sơ,
- Về tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý
Tổ chức bộ máy quản lý đào tạo NNLĐD đã được thiết kế đồng bộ từ các cơ quan QLNN đến các
CSĐT, từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn một số những vấn đề bất cập: (i) Có những vấn đề
còn đan xen, chồng chéo do chịu sự tác động về chỉ đạo điều hành trong hoạt động đào tạo của cả Bộ
GD&ĐT và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; (ii) Thẩm quyền quản lý về đào tạo NNLĐD của Bộ Y tế
và ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn hạn chế, chưa có sự đồng thuận giữa cơ quan QLNN chuyên ngành với cơ
quan QLNN về GD&ĐT; (iii) Đội ngũ cán bộ quản lý tại các cơ quan QLNN ở trung ương chưa được quan
tâm, phát triển; (iv) Tổ chức bộ máy quản lý tại các CSĐT vẫn chưa hoàn thiện, hầu hết các CSĐT công lập
chưa thành lập hội đồng trường, các cán bộ quản lý tại các CSĐT chưa được đào tạo và tập huấn về quản lý.
- Về đội ngũ giảng viên giảng dạy điều dưỡng
Giảng viên điều dưỡng là bác sĩ vẫn chiếm tỷ lệ cao tới 52,15%. Giảng viên chuyên ngành khác của
các trường ngoài công lập là 44,54% là quá cao khi tỷ lệ khối kiến thức chung của CTĐT chỉ chiếm khoảng
22-25%. Tỷ lệ giảng viên có độ tuổi ≤ 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó các trường công lập (45,93%)
cao hơn các trường ngoài công lập (34,76%); tỷ lệ độ tuổi >51 ở các trường công lập (6,89%) thấp hơn các
trường ngoài công lập (16,87%). Các số liệu trên cho thấy, các CSĐT đã chú trọng tuyển mới để đảm bảo
tính kế thừa.
3.2.4. Thực trạng hỗ trợ và huy động các nguồn lực cho đào tạo NNLĐD ở Việt Nam
Trong điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, các nguồn lực đầu tư từ nguồn ngân sách nhà
nước còn nhiều hạn chế, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ và huy động nguồn lực trong và ngoài
nước đầu tư cho đào tạo NNLĐD. Đối với các CSĐT công lập, Chính phủ đã có sự phân cấp quản lý và đầu
tư để huy động cả kinh phí trung ương và địa phương. Ở cấp trung ương, Chính phủ đã ký kết các chương
trình, dự án cho đào tạo NNLĐD như: Dự án Nâng cao năng lực giảng dạy đại học ĐD giai đoạn 2006-2010
từ nguồn kinh phí của tổ chức Nuffic; Dự án hỗ trợ đào tạo ĐD dạy-học theo năng lực do AP và QUT tài
trợ; Chương trình nâng cao năng lực nguồn nhân lực y tế giai đoạn 2006-2010 do Chính phủ Hà Lan tài trợ...
Các địa phương cũng đã huy động đầu tư để nâng cấp 35 trường trung cấp thành trường cao đẳng y
tế. Thành phố Hồ Chí Minh đầu tư 100 tỷ đồng cho Bệnh viện mô phỏng và Trung tâm huấn luyện kỹ năng.
Bên cạnh đó, Nhà nước đã có nhiều chính sách để thu hút đầu tư từ các nguồn lực của xã hội theo
chủ trương xã hội hóa, từ năm 2005 đến nay nhiều CSĐT ngoài công lập đã tham gia đào tạo NNLĐD.
Về chế độ đãi ngộ cho ĐDV vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp và khó
thu hút ĐDV về làm việc ở y tế cơ sở, vùng sâu, vùng xa.
từng vị trí việc làm trong hệ thống sẽ góp phần củng cố và gia tăng sức mạnh của hệ thống y tế.
Thứ tư, để đảm bảo cơ cấu NNL, việc đầu tư phát triển cho các CSĐT để có đủ năng lực và mở rộng
quy mô đào tạo điều dưỡng trình độ cao đẳng, đại học đã góp phần nâng cao chất lượng NNLĐD, từ đó đã
góp phần nâng cao chất lượng CSSK nhân dân.
Thứ năm, nhân lực điều dưỡng đã được xác định rõ chức năng, vai trò và nhiệm vụ trong hoạt động
CSSK, vị trí việc làm ở tất cả các tuyến chuyên môn y tế. Tiêu chuẩn chức danh viên chức nghề nghiệp điều
dưỡng đã được xác định, tạo động lực cho người điều dưỡng có động cơ làm việc và phấn đấu vươn lên.
- Nguyên nhân đạt được các kết quả
+ Những quan điểm đúng đắn và sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ GD&ĐT,
các bộ, ngành liên quan cũng như sự đồng thuận của các CSĐT.
+ Các nguồn ngân sách đầu tư cho đào tạo và phát triển NNLĐD từng bước được tăng lên, đa dạng
hoá các nguồn đầu tư, từ đó tạo điều kiện cho các CSĐT được tăng cường về cơ sở vật chất và trang thiết bị.
+ Với những chính sách, chương trình, dự án để định hướng về đào tạo NNLĐD của Việt Nam tiếp
cận được với những xu hướng, mô hình đào tạo mới của thế giới.
3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
- Những hạn chế của quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
Thứ nhất, việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch vẫn còn thiếu tính kịp thời và có sự
chưa đồng bộ. Khung cơ cấu nhân lực điều dưỡng chưa được xây dựng và ban hành, chưa xác định rõ nhu
cầu nhân lực điều dưỡng theo từng trình độ và chuyên ngành đào tạo. Mô hình đào tạo chưa đảm bảo tính hội
nhập và có một số bất cập. Việc triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo và quy mô đào
tạo chưa có sự kiểm soát dẫn đến mất cân đối về cơ cấu, chưa phù hợp nhu cầu sử dụng và chất lượng NNL.
Thứ hai, hệ thống thể chế đào tạo NNLĐD chưa thể hiện được đầy đủ và triệt để quan điểm, đường
lối phát triển và hội nhập của Đảng và Nhà nước, chưa đảm bảo đầy đủ tính toàn diện, thống nhất, kịp thời
trong hệ thống pháp luật và chưa thực sự hội nhập quốc tế: (i) Giao cho quyền tự chủ cho các CSĐT nhưng
20
chưa hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra và đặc biệt là kiểm định chất lượng đào tạo NNLĐD; (ii) Không
tổ chức kỳ thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề dẫn đến khó kiểm soát chất lượng, không tạo động lực
để các CSĐT phải đảm bảo chất lượng đào tạo; (iii) Quy định về xây dựng đề án vị trí việc làm chưa tính đến
cần phải giải quyết đó là: (i) việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch vẫn còn thiếu
tính kịp thời và có sự chưa đồng bộ; (ii) hệ thống thể chế đào tạo NNLĐD chưa thể hiện được đầy đủ và triệt
để quan điểm, đường lối phát triển và hội nhập của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo và về y tế; (iii)
chức năng, vai trò của các chủ thể QLNN chưa rõ ràng, chưa có sự thống nhất trong tiếp cận và chỉ đạo điều
hành; (iv) đầu tư của Nhà nước, các nguồn lực và học phí cho đào tạo NNLĐD chưa phù hợp với yêu cầu
đào tạo NNLĐD; (v) hoạt động thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ và
thường xuyên, thống nhất. Chương 3 của luận án đã phân tích những kết quả đạt được và nguyên nhân,
những hạn chế và chỉ rõ những nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN về đào tạo NNLĐD. Các phân
tích nói trên là những căn cứ thực tiễn quan trọng để tác giả luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN
về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam trong thời gian tới.
21
Chương 4
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG VIỆT NAM
4.1. Dự báo nhu cầu và xu hướng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của Việt Nam
4.1.1. Dự báo nhu cầu nhân lực điều dưỡng của Việt Nam
Quyết định số 2992/QĐ-BYT ngày 17/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt kế hoạch phát triển
nhân lực trong hệ thống KB, CB giai đoạn 2015-2020, theo đó Bộ Y tế dự báo nhu cầu NNLĐD đạt chỉ tiêu
20 ĐD cho 10.000 dân; đạt 30% tổng số ĐD có trình độ cao đẳng và đại học. Qua tính toán dựa trên kết quả
khảo sát năm 2015, số lượng ĐD cần bổ sung đến năm 2020 là khoảng 100.752 người cao hơn dự báo của
Bộ Y tế theo Quyết định 2992/QĐ-BYT. Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát năm 2015, có sự khác biệt giữa các
cách xác định nhu cầu nhân lực khác như: quy hoạch phát triển nhân lực y tế là 151.383 người; ước tính theo
tỷ lệ nghỉ hưu là 27.080 người; theo ước tính của lãnh đạo địa phương/đơn vị 18.519 người và theo chuẩn
khu vực ASEAN là 25.407 người. Cơ quan quản lý cần thận trọng khi công bố chính sách phát triển và đào
tạo NNLĐD để tránh việc tăng quy mô đào tạo dẫn đến dư thừa nhân lực và gây lãng phí xã hội.
4.1.2. Xu hướng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của Việt Nam
- Xu hướng hội nhập và công nhận lẫn nhau
hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
Từ những quan điểm đó, công tác QLNN về đào tạo NNLĐD cần được định hướng cụ thể như sau:
(i) Cần xác định rõ yêu cầu về cơ cấu NNLĐD trong hệ thống y tế; (ii) Hệ thống chính sách về đào tạo
NNLĐD phải đảm bảo thống nhất, đồng bộ từ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng và các chế độ đãi ngộ; (iii) Tiếp
tục kiện toàn, củng cố và phát triển hệ thống y tế ở tất cả các tuyến từ trung ương đến địa phương; (iv) Thực
hiện công tác tuyển dụng, sử dụng một cách thỏa đáng, phù hợp theo vùng, miền, lĩnh vực; (v) Hoàn thiện
các chế độ đãi ngộ đối với người ĐD phù hợp với tính chất công việc và hoạt động nghề nghiệp. Có chính
sách đảm bảo an toàn và tạo môi trường làm việc thuận lợi cho người ĐD.
4.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam
4.3.1. Giải pháp thống nhất quy hoạch, kế hoạch, cơ cấu nhân lực, mô hình đào tạo và sử dụng
nguồn nhân lực điều dưỡng
- Đổi mới mô hình đào tạo nhân lực điều dưỡng:
Một số điểm mới trong mô hình: (i) Xác định có chức danh “Trợ lý điều dưỡng” trong cơ cấu
NLYT; (ii) Thời gian đào tạo điều dưỡng tối thiểu: 3 năm; (iii) Đào tạo chuyên khoa là đào tạo ngắn hạn để
cấp chứng chỉ, không phải là một trình độ đào tạo. Cử nhân, Thạc sỹ hay Tiến sỹ điều dưỡng muốn hành
nghề chuyên khoa phải trải qua chương trình đào tạo chuyên khoa.
- Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo nhân lực điều dưỡng: Cần xác định số lượng CSĐT phù
hợp theo từng trình độ, trên cơ sở đó có kế hoạch rà soát để sắp xếp lại mạng lưới, phát triển các CSĐT ĐD
ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
- Quy hoạch cơ cấu và phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng: (i) Xác định cơ cấu NNLĐD chủ yếu
cần có trong hệ thống y tế, số lượng cần tuyển dụng hàng năm và công bố công khai để có quy mô đào tạo
phù hợp; (ii) Xác định lộ trình giảm dần quy mô đào tạo NNLĐD trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học hợp
lý; (iii) Có kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ ĐDV có trình độ trung cấp đang làm việc trong
hệ thống y tế để đáp ứng yêu cầu theo lộ trình đã đặt ra trong Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYTBNV ngày 07/10/2015 của liên tịch Bộ Y tế - Bộ Nội vụ.
4.3.2. Giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
- Chỉnh sửa Nghị định số 115/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm QLNN
về GD&ĐT. Trong đó xác định rõ vai trò của Bộ Y tế đối với việc xác định các tiêu chuẩn, tiêu chí, điều
kiện chuyên môn trong hoạt động đào tạo NNLYT nói chung trên cả nước.
- Chỉnh sửa, bổ sung các nội dung đặc thù đào tạo ngành điều dưỡng trong các quy định về tiêu chí