PHỤ LỤC
PHỤ LỤC....................................................................................................................................1
MỞ ĐẦU.....................................................................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài:....................................................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:......................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu:............................................................................................................3
4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm:............................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu:.......................................................................................................3
- Phương pháp quan sát..............................................................................................................3
- Phương pháp khảo sát..............................................................................................................3
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu............................................................................3
- Phương pháp đàm thoại...........................................................................................................3
- Phương pháp thực hành – trải nghiệm.....................................................................................3
- Phương pháp điều tra...............................................................................................................3
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:...........................................................................................3
NỘI DUNG.................................................................................................................................3
Chương 1. Cơ sở lí luận:.............................................................................................................3
Chương 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:..................................................................................5
Chương 3. Các giải pháp và kết quả thực hiện...........................................................................6
3.1. Các giải pháp:.......................................................................................................................6
3.1.1. Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực hành...........................................6
3.1.2. Trực quan hành động.......................................................................................................10
3.1.3. Hình thành sự tự tin cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi...............................................................11
3.1.4. Phối kết hợp với phụ huynh............................................................................................14
3.2. Kết quả thực hiện:..............................................................................................................15
KẾT LUẬN...............................................................................................................................15
1. Kết luận:................................................................................................................................16
2. Kiến nghị:..............................................................................................................................16
MỞ ĐẦU
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:
a. Mục đích.
Xuất phát từ thực tế việc dạy trẻ tăng cường tiếng việt trong trường mầm
non. Tôi đã nghiên cứu đừa ra 1 số biện pháp tăng cường tiếng việt ở ghép ...
nói riêng và các trường mầm non trong toàn huyện nói chung.
b. Nhiệm vụ.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng vấn đề
- Nghiên cứu các giải pháp để tăng cường tiếng việt cho trẻ.
- Nghiên cứu về khái niệm và toàn quan trọng của việc tăng cường tiếng
viêt.
3. Đối tượng nghiên cứu:
21 Cháu, lớp 3 – 4 tuổi ... trường mầm non ... .
4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm:
Đối tượng khảo sát thực nghiệm “Một số biện pháp giúp trẻ phát triển tăng
cường tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi ... ở Trường mầm non ... ".
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp thực hành – trải nghiệm
- Phương pháp điều tra
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
* Phạm vi:
Vì thời gian có hạn, chỉ nghiên cứu tại lớp ghép ... mà tôi đang chủ nhiệm.
*Kế hoạch:
Tôi bắt đầu nghiên cứu từ 9/2016 đến 4/2017.
NỘI DUNG
chơi, những hoạt động chủ yếu ở trường mầm non. Giống như việc dạy trẻ tiếng
mẹ đẻ, việc phát triển ngôn ngữ thứ hai cho trẻ ở trường mầm non là thực sự là
mục tiêu “kép” giữa phát triển tri thức tư duy tiếng Việt và ngôn ngữ tiếng Việt
cho trẻ. Trẻ biết sử dụng tiếng Việt đồng thời sử dụng nó như một công cụ để
giao tiếp, vui chơi và học tập. Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi và trò
chuyện ở mọi lúc mọi nơi mà dần dần trẻ thành thạo và ngược lại mọi hoạt động
ở trường cũng tạo cơ hội cho ngôn ngữ thứ hai của trẻ phát triển.
a. Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện để trẻ học tập.
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần
thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất. Song với trẻ dân tộc
thiểu số tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ chính để trẻ học tập, vui chơi và
giao tiếp với xã hội. Do đó bắt buộc trẻ phải học ngôn ngữ thứ hai khi bước vào
ngưỡng cửa trường mầm non với một hình thức giống với tiếng mẹ đẻ, nhưng
với một môi trường hẹp hơn là lớp học, là cô giáo và các bạn. Trẻ học ngôn ngữ
tiếng Việt song song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làm chủ ngôn
ngữ thứ 2 để đảm bảo làm chủ tri thức, tư duy của mình…
Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khác nhau
mà người nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nói đến
người nghe; đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên
hoặc truyền bá tri thức…. Mà trong đó ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người dân tộc
thiểu số chỉ phục vụ được một phần nhỏ số người có nhu cầu trong cộng đồng.
Chỉ có ngôn ngữ tiếng Việt mới giúp họ hoà chung vào sự phát triển của xã hội.
Chương 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
2.1. Thuận lợi:
- Được sự chỉ đạo sát sao, quan tâm giúp đỡ của ngành và trường.
- Giáo viên tham gia bồi dưỡng chuyên đề tăng cường Tiếng việt
- 100% trẻ là con em dân tộc Pa cô nên việc giao tiếp rất thuận lợi giữa cô
và trò.
1
Trẻ nói thành thạo Tiếng việt
4
19
17
81
2
Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt
6
28
15
72
động và trò chuyện cùng cô
3
Trẻ biết một số từ đơn giản
thứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếp
thu kiến thức bằng tiếng Việt. Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều
thật khó đối với trẻ. Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển
khả năng nghe hiểu lời nói của cô.
Với mục đích trẻ hiểu nghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt. Yêu
cầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà
không hiểu nghĩa. Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành
động với đồ vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu
nhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề.
Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Mai Chi, đây là bạn Mai
Trang… cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp.
Cho trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là
viên gạch, đây là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối
với các trẻ. Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi
xuống, đi ra ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu,
nhất là những từ trừu tượng, khó hiểu. Tôi thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ
nhàng để khen ngợi trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe
cô nói.
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi
được vấn đề hơn:
Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là
con gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó
trẻ tự trả lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật. Vì vậy khi cho trẻ
tiếp súc đối tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại
quả, các đồ chơi...
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn,
dễ hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với
trẻ: Ví dụ: Khi trẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực
cô cần truyền đạt. Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng,
mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng.
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ.
Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ,
ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội
dung.
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp,
chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm. Đặc biệt khi lựa chọn
đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo
tính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền.
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm
giúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không
gượng ép. Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách
riêng trong học tập và sử dụng tiếng Việt. Phong cách riêng chính là nền tảng của
chất lượng và hiệu quả học tập tiếng Việt cho trẻ em. Nắm bắt được đặc điểm này
tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin
đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng
chủ điểm.
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to. Để 3 cái
hộp rỗng vào. Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác. Cô nói
với Trẻ: “Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé. Để cho tàu ra khơi, cần có gió
đẩy thuyền đi. Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!”. Điều quan trọng là theo dõi
việc thở ra và khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô.Để kích thích khẩu
ngữ của bé, cô đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”, “Con
thấy mặt nước trông như thế nào?”…cô cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ
khác quan sát và nhận xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạn
nêu tên tất cả những đồ vật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên
cô, tên các đồ dùng đồ chơi.
Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng sung quanh để trò chuyện và
mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khác
thường chẳng hạn: Cây đào sân trường ra hoa, trời mưa rất to, bạn Lan có váy
mới…
3.1.2. Trực quan hành động.
Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới
(ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ
dàng và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng. Phương
pháp này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau. Với
phương pháp này, người học được sử dụng tích cực các giác quan và vận động
của cơ thể trong suốt quá trình tham gia vào hoạt động học tập và thực hành
ngôn ngữ mới. Các kỹ năng nghe - quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ
thể) được sử dụng hiệu quả trong quá trình học tập. Phương pháp này giúp giáo
viên và trẻ có thể áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học
để đạt được những giờ học thực sự tích cực. Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt
mắt đó cũng là cách làm trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạt
động với đồ dùng đó.
Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấp kiến
thức cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ một cách rất hiệu
quả. Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được sờ, được nếm, được
ngửi, được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc cô cung cấp kiến thức và từ
mới cho trẻ: Với hoạt động làm quen các loại quả trẻ biết tên quả, quả có màu
gì, ăn có vị gì, con thích quả gì. Cô nhắc lại những đặc điểm rồi cho trẻ nhắc lại
cứ như vậy trẻ học từ mới một cách tự nhiên theo nhiều hướng khác nhau. Với
chương trình giáo dục mầm non thực hiện chủ đề nhánh theo tuần vậy nên trong
tuần trẻ được tiếp súc làm quen nhiều loại quả với nhiều hình thức khác nhau
3.1.3. Hình thành sự tự tin cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Tôi lựa chọn phương pháp này mong rằng trẻ sẽ mạnh dạn hơn, tự tin hơn
trong việc sử dụng tiếng việt trong giao tiếp cũng như trẻ dám thể hiện bày tỏ
quan điểm của mình về những gì xung quanh, qua đó giữa cô và trẻ có sự trao
đổi thường xuên các thông tin và đây cũng là cách giúp trẻ thực hành tiếng Việt
một cách có hiệu quả nhất.
Chắc chắn là trẻ cũng rất thích khi được cô giáo và bạn bè động viên.
Nhưng những lời động viên, khen ngợi đó sẽ có tác dụng lớn hơn khi chúng
được nói ra dựa trên những việc trẻ đã làm tốt hoặc đã nỗ lực để thực hiện. Một
khi trẻ đã đạt được một mục tiêu nào đó thì cô giáo khen ngợi chúng cả về thành
quả lẫn quá trình nỗ lực để đạt được thành quả đó.
Ví dụ: Sau khi trẻ nặn được một quả cam cô nói với trẻ rằng “ Con nặn đẹp
rồi con hãy vuốt cho quả mịn hơn nữa đi” hoặc khi trẻ đọc thơ cô khen trẻ và
khuyết khích các bạn động viên trẻ. Cô chú ý động viên khen ngợi trẻ kịp thời
và hướng cho trẻ đến với sự chính xác của vần đề.
Ví dụ: Khi cô hỏi trẻ màu sắc của bông hoa hồng màu đỏ “ Bông hoa có
màu gì?” nếu trẻ trả lời màu xanh tôi thường cho trẻ khác nhận xét và cô khẳng
định lại và khuyến khích trẻ trả lời lại cho thật chính xác và cũng không quên
động viên trẻ tạo tâm lý thoải mãi ngay cả khi trẻ biết mình trả lời sai.
Tuy nhiên, cần phải chọn thời gian thích hợp để trẻ học làm những việc này.
Thời gian vui chơi, hoạt động khám phá là thích hợp nhất vì trẻ có thể làm từ từ
và ít căng thẳng hơn.
Ví dụ: Các hoạt động: Ngoài trời, hoạt động góc, các hoạt động khám phá
hay các tiết biểu diễn văn nghệ…
Sự tự tin ở trẻ sẽ tăng lên mỗi khi chúng học được một kĩ năng mới hay
vượt qua một mốc quan trọng nào đó. Vì vậy cô giáo thường xuyên có thể giúp
trẻ gây dựng sự tự tin bằng cách tạo cho chúng thật nhiều cơ hội để rèn luyện và
tập thành thục các kĩ năng mới. Tôi để cho trẻ tự do thể hiện và luôn ở bên để
Cô giáo luôn gần gũi với trẻ và cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bầy tỏ
nhu cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay. Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên
một chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng
máy móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.
Ví dụ: Cô luôn chú ý đến những thái độ khác biệt của trẻ và gợi hỏi: con
cần gì nào, con thích gì, con đang tìm gì vậy, con cần cô giúp gì không? nhiều
trẻ chưa thể hiện mong muốn nhu cầu của mình tôi thường hỏi những trẻ khá
hơn “ Bạn muốn gì vậy con” trẻ tự hỏi bạn và đưa ra yêu cầu giúp bạn từ đó tôi
cho trẻ nhắc lại mong muốn của mình, đây là một hình thức rất cần thiết vì trẻ
biết phải đưa ra những mong muốn bằng tiếng Việt thì mới có thể chủ động
trong những lần sau
- Giúp trẻ tham gia các hoạt động Tâm vận Động:
Trong một ngày tôi luôn quan tâm đến nội dung hoạt động ngoài trời đây là
khoảng thời gian trẻ sẽ vừa chơi vừa học, bằng những hoạt động vui thú như leo
trèo, chạy nhảy vui chơi cùng cô và các bạn… trẻ được reo vui hò hét một cách
thoải mái. Tôi luôn bày các trò chơi cho trẻ cùng tham gia bằng những hình thức
đơn giản nhưng trẻ lại được chơi và trải nghiệm những từ ngữ tiếng Việt mới.
Ví dụ: Với trò các trò chơi dấu dép cô cho trẻ đi tìm và chỉ hoặc nói địa
điểm cô dấu “ dép cô dấu ở đâu nhỉ?” “ Cô dấu dép ở gốc cây đào” … đây là
cách hướng dẫn trẻ chơi mà học từ mới trẻ cũng hiểu luôn ý nghĩa của những từ
mới học và chỉ những lần sau trẻ tự tìm và nói địa điểm cô dấu một cách rõ dàng
và tương đối đầy đủ.
- Giúp trẻ biết trả lời các câu hỏi :
Giúp trẻ phát triển khả năng hình dung và tưởng tượng thông qua các câu
hỏi gợi ý : Cái gì, ở đâu, thế nào, để làm gì, khi nào …
Nếu trẻ trả lời đúng phải khen ngợi, động viên – Nếu trẻ trả lời sai thì nhẹ
nhàng nhắc trẻ nghe thêm ý kiến của các bạn và cô nhắc lại câu hỏi và khuyến
khích bạn khác trả lời và cho trẻ yếu nhắc lại .
Việt ở nhà:
Vì dụ: Tôi hướng dẫn cho phụ huynh khi ăn cơm anh chị hãy chỉ cho các
cháu biết những món ăn trong gia đình, khi tắm cho cháu chỉ cho các cháu các
bộ phận trên cơ thể, khi trẻ đi học về nhắc con chào ông bà….
Tuy trẻ đến lớp với cô hàng ngày nhưng cô không thể tập chung và mỗi cá
nhân và hiểu trẻ bằng bố mẹ. Vì vậy phối hợp với gia đình trong việc cung cấp
vốn tiếng việt cho trẻ lại càng tốt hơn. Qua các cuộc họp phụ huynh giáo viên
thông báo kết quả học của mỗi cháu cho phụ huynh nắm và đặc biệt không quên
cho phụ huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài học bằng ngôn ngữ Tiếng
việt của mỗi cháu ra sao và từ đó thống nhất với phụ huynh xây dựng nội quy
của trường mầm non là “Tất cả mọi người khi đến trường, lớp đều phải nói bằng
Tiếng việt” và nhà trường rất mong phụ huynh hợp tác trong việc cung cấp
Tiếng việt cho trẻ thường xuyên ở nhà.
Ví dụ: Khi phụ đón trẻ cô chao đổi về nội dung bài học và gợi ý cho bố mẹ
về kiểm tra trẻ: Hôm nay cháu học làm quen với các con vật, anh chị hãy về nhà
hỏi cháu bằng tiếng Mông và cho cháu dịch tiếng Việt xem cháu biết nhiều
không nhé, yêu cầu phụ huynh dạy thêm cho trẻ...Từ những lời nói ấy đã thúc
đẩy phụ huynh quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt
ở nhà cho trẻ nhiều hơn. Cho nên trẻ trong lớp tôi có nhiều cháu hiện giờ nói
tiếng Việt rất thành thạo loát ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt
điều trẻ muốn nói, không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị
ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh.
3.2. Kết quả thực hiện:
Với sự cố gắng của bản thân cùng với sự giúp đỡ của lãnh đạo và đồng nghệp
trong khi thực hiện đề tài bản thân tôi đã thu được những kết quả như sau:
* Về bản thân:
- Qua quá trình nghiên cứu nắm bắt đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 3 – 4 tuổi
tại vùng dân tộc thiểu số.
10
47
11
43
2
Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt
động và trò chuyện cùng cô
15
71
6
29
3
Trẻ biết một số từ đơn giản
trong giao tiếp diễn đạt của
mình
21
100
TÊN TÀI LIỆU
TÁC GIẢ ( NHÀ XUẤT
BẢN)
1
Lý luận và phương pháp phát triển ngôn Nhà xuất bản Đại học Huế
ngữ cho trẻ em
năm 2013
2
Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của Đại học Sư phạm Hà Nội
trẻ từ 0 – 6 tuổi
2008
3
Nghiên cứu khoa học công nghệ giáo dục Bộ giáo dục và đào tạo
mầm non
4
Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho Nhà xuất bản Đại học quốc
trẻ mầm non
gia Hà Nội.
5