Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động đầu tư vốn tại tập đoàn công nghiệp cao su việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
..................................

Nguyễn Thị Anh Thuyên

Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
hoạt động đầu tư vốn tại Tập đoàn Công nghiệp
Cao Su Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HÀ NỘI – 2010


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác.
Tác giả của luận văn

Nguyễn Thị Anh Thuyên

4


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1

Nguồn vốn chủ sở hữu của Tập đoàn công nghiệp cao su

nước
Bảng 6

Tổng hợp các vốn đầu tư ra bên ngoài của Công ty mẹ

57

Bảng 7

Danh mục đầu tư vốn của công ty mẹ lớn hơn số vốn cam kết

58

Bảng 8

Đầu tư vốn của các công ty con 100% vốn nhà nước

61

Bảng 9

Tổng hợp góp vốn thành lập mới các doanh nghiệp của các

62

công ty con
Bảng 10

Kế hoạch đầu tư vốn của Tập đoàn giai đoạn 2011 – 2015


37

Hình 5

Sơ đồ tổ chức Tập đoàn công nghiệp cao su Việt nam trách

78

nhiệm hữu hạn một thành viên
Biểu đồ 1 Nguồn vốn Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam

6

55


LỜI NÓI ĐẦU
Ngành cao su Việt Nam được hình thành từ đầu thế kỷ XX chủ yếu ở Miền
đông Nam bộ dưới thời Pháp thuộc. Sau tháng 4/1975, Nhà nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa đã thành lập Tổng cục Cao su. Trong quá trình đổi mới kinh tế của
đất nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cao su được tổ chức sắp xếp lại.
Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 29/4/1995 thành lập
Tổng công ty Cao su Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam được hình
thành theo Quyết định số 248/2006/QĐ-TTg ngày 30/10/2006 của Thủ tướng Chính
phủ trên cơ sở chuyển đổi hoạt động Tổng công ty Cao su Việt Nam.
Cùng với các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, từ năm 2006 Tập đoàn tập
trung đầu tư phát triển trong và ngoài ngành cao su. Các hoạt động đầu tư mang đến
cho Tập đoàn những cơ sở vật chất mới, những bài học thành công, chưa thành
công. Kết quả đầu tư của các Tập đoàn kinh tế nhà nước đang đặt ra cho Chính phủ,
nhất là vấn đề sử dụng hiệu quả vốn nhà nước đối với dư luận xã hội. Đây là vấn đề

trong đó ngành nông nghiệp đóng góp 16% giá trị GDP, với tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân toàn ngành là 3,3 – 3,5% năm. Trong ngành nông nghiệp, các tổng
công ty nhà nước có vị trí, vai trò quan trọng là nòng cốt trong việc thực hiện các
chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, giải quyết việc làm tăng
thu nhập cho nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng sâu vùng
xa, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng.
Tính đến 31/12/2008, vốn chủ sở hữu của các Tập đoàn, tổng công ty nhà
nước ngành nông nghiệp đạt 26.568 tỷ đồng, trong đó Tập đoàn công nghiệp Cao su
Việt Nam có vốn chủ sở hữu 14. 953 tỷ đồng chiếm 56.3%.
Hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước nói chung, tại
các Tập đoàn, tổng công ty nói riêng còn thấp, chưa xứng với quy mô, nguồn lực tài
chính nắm giữ trong nền kinh tế quốc dân.
8


Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng có hiệu quả vốn tại
các doanh nghiệp nhà nước nói chung, tại các Tập đoàn, tổng công ty nói riêng; làm
thế nào để đưa các Tập đoàn, tổng công ty hoạt động tương xứng với quy mô,
nguồn lực tài chính, vị trí và vai trò trong nền kinh tế? Hoạt động đầu tư vốn của
nhà nước tại các doanh nghiệp hiện nay đang là vấn đề thời sự nóng, là đề tài tranh
luận sôi nổi cả về mặt lý luận cũng như trên thực tiễn. Đề tài: Phân tích và đề xuất
một số giải pháp hoàn thiện hoạt động đầu tư vốn tại Tập đoàn công nghiệp
Cao Su Việt Nam có ý nghĩa thực tiễn đối với quản lý vốn của nhà nước đầu tư cho
doanh nghiệp cũng như thực hiện một số nhiệm vụ chính trị của Đảng và nhà nước
giao cho các doanh nghiệp nhà nước và cho ngành Nông nghiệp nói riêng.
2- MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Từ thực tiễn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về cơ chế quản lý
vốn, đầu tư vốn trong Tập đoàn kinh tế thông qua hoạt động của Tập đoàn Công
nghiệp Cao su Việt Nam.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động đầu tư vốn tại Tập đoàn
công nghiệp cao su Việt Nam.

10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN, ĐẦU TƯ VỐN CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1. Khái niệm cơ bản về vốn
1.1.1. Khái niệm vốn
Trong nền kinh tế, vốn là điều kiện tiên quyết để khởi sự kinh doanh, mọi
doanh nghiệp đều cần có vốn để tồn tại và phát triển. Các doanh nghiệp đều bắt đầu
bằng các yếu tố đầu vào và kết thúc là các yếu tố đầu ra. Đầu vào gồm nguyên
nhiên vật liệu, các sản phầm dịch vụ, sức lao động, máy móc thiết bị… tất cả những
yếu tố đầu vào đó phải được thuê, mua sắm bằng tiền.
Trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp, tiền được luân chuyển dưới
những hình thái tài sản khác nhau: tài sản lưu động và tài sản cố định. Khi kết thúc
một quá trình sản xuất kinh doanh, đầu ra của doanh nghiệp là những sản phẩm lại
được thu về bằng tiền với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu bỏ ra. Trong quá trình
đó, tiền được gọi là vốn. Vốn là một trong những yếu tố đầu vào để sản xuất kinh
doanh (đất đai, lao động…), vốn cũng là các sản phẩm được xuất ra để phục vụ cho
sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…).
Vốn là một loại hàng hoá, bởi nó có đầy đủ hai thuộc tính là giá trị và giá trị
sử dụng. Nét đặc biệt của hàng hóa vốn là quyền sở hữu vốn có thể tách rời quyền
sử dụng vốn. Xét về bản chất, vốn chính là tiền, nhưng tiền chỉ được coi là vốn khi
được đưa vào lưu thông để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích
sinh lời.
1.1.2. Đặc trưng của vốn
Vốn là yếu tố quan trọng bậc nhấc đối với mọi loại hình doanh nghiệp, mọi
mô hình kinh tế. Vốn có nhiều đặc trưng và nhiều hình thái biểu hiện khác nhau.

Thứ ba, vốn càng lớn thì sức mạnh càng lớn
Sức mạnh của vốn được tạo ra chỉ khi vốn được tích tụ, tập trung đến một
lượng nhất định. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự ra đời của
Tập đoàn kinh tế. Ngược lại, sự hình thành của Tập đoàn kinh tế cũng giúp tận dụng
đặc trưng này bởi chỉ có Tập đoàn kinh tế với khả năng tích tụ, tập trung vốn một

12


cách mạnh mẽ để có đủ sức mạnh về vốn nhằm thực hiện những kế hoạch lớn, chiến
lược kinh doanh dài hạn.
Thứ tư, vốn là một loại hàng hoá
Nói vốn là một loại hàng hoá vì vốn có giá trị và giá trị sử dụng vốn như mọi
hàng hoá khác. Vốn được mua bán trên thị trường dưới hình thức mua, bán quyền
sử dụng vốn. Giá mua quyền sử dụng vốn chính là lãi suất mà người đi vay vốn
phải trả cho người cho vay vốn (chủ sở hữu) để có được quyền sử dụng lượng
vốn đó. Giá cả này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là quan hệ cung cầu vốn
trên thị trường.
Thứ năm, vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền giá trị của các tài sản hữu hình
mà nó còn là biểu hiện bằng tiền giá trị của các tài sản vô hình như vị trí địa lý kinh
doanh, nhãn mác sản phẩm, bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, uy
tín của doanh nghiệp trên thị trường… Vốn biểu hiện bằng tài sản vô hình ngày
càng đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp. Một công ty con của Tập
đoàn sẽ có nhiều ưu thế hơn hẳn so với một công ty độc lập có cùng quy mô và
lĩnh vực hoạt động. Tập đoàn có thể tiến hành hoạt động nghiên cứu phát triển dài
hạn, chi phí lớn nhưng mang lại hiệu quả cao nhờ tạo ra những phát minh, sáng chế
có giá trị lớn độc quyền của Tập đoàn mang tính đột phá cho hoạt động kinh doanh
của Tập đoàn.
1.1.3. Phân loại vốn
Phân loại vốn là yêu cầu cơ bản của công tác quản lý, sử dụng vốn. Phân loại

sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái, các quỹ hình thành từ lợi nhuận sau thuế.
+ Nợ phải trả: Nợ phải trả là số tiền doanh nghiệp đi vay của các đơn vị, tổ
chức, cá nhân để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có
trách nhiệm phải trả cả gốc và lãi vay (chi phí sử dụng vốn). Nợ phải trả bao gồm:
vay từ các tổ chức tín dụng, nguồn vốn tín dụng thương mại và vay thông qua phát
hành trái phiếu.
- Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, nguồn vốn được chia thành nguồn bên
trong và nguồn bên ngoài doanh nghiệp. Cách phân loại này chủ yếu giúp cho Tập
đoàn kinh tế xem xét tính hợp lý của cơ cấu huy động nguồn vốn hoạt động.

14


- Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn, nguồn vốn của doanh nghiệp
được chia thành hai loại:
+ Nguồn vốn dài hạn: là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, bao gồm vốn, chủ sở hữu và các khoản vay nợ trung và
dài hạn.
+ Nguồn vốn ngắn hạn: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng
thời gian dưới một năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: các khoản nợ
ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác.
1.2. Đầu tư
1.2.1. Khái niệm đầu tư
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm
thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằm mục đích sinh
lợi. Adam Smith cho rằng: Đầu tư là quá trình sử dụng vốn và là phương thức sử
dụng vốn.
Như vậy nghĩa rộng của đầu tư có thể hiểu là quá trình bỏ vốn (vốn vô hình,
vốn hữu hình, vốn tài chính...) để đạt được một hay tập hợp nhiều mục đích nhất

1.3.1. Khái niệm Tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế không còn là điều mới trong sự phát triển của nền kinh tế thế
giới. Mô hình Tập đoàn kinh tế đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với
những biến chuyển cả về chất và lượng. Kinh nghiệm của các nước phát triển và các
nước đang phát triển cho thấy, nhu cầu về sự kết hợp giữa chuyên môn hóa sâu
trong sản xuất với mở rộng ngành nghề, mở rộng quy mô kinh doanh để phân tán
rủi ro, buộc các doanh nghiệp phải vừa cạnh tranh, vừa hợp tác và trong nhiều
trường hợp phải liên kết dưới những hình thức khác nhau. Sự liên kết kinh tế là yếu
tố để các doanh nghiệp khắc phục hạn các chế của chuyên môn hoá sản xuất để
phân tán rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô và phạm vi kinh
doanh. Đây là một yêu cầu khách quan, mang tính quy luật trong kinh tế. Sự liên kết
giữa các doanh nghiệp phát triển đến một mức độ nhất định thì sẽ hình thành Tập
đoàn kinh tế.

16


Trên thế giới, Tập đoàn kinh tế nối tiếp nhau ra đời tại nước tư bản từ những
năm 60 của thế kỷ 19 dưới các hình thức như Carter, Syndicate, Trust, Concern,
Conglomerate.
Tập đoàn kinh tế là một tập hợp gồm nhiều doanh nghiệp. Theo Luật Doanh
nghiệp được Quốc hội 11 nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành
năm 2005: Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh, được thành lập nhằm mục đích chủ
yếu là thực hiện hoạt động kinh doanh, trong đó kinh doanh được hiểu là việc thực
hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Có nhiều quan điểm khác nhau về Tập đoàn kinh tế:
Quan điểm thứ nhất: Tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành
lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và tài chính. Quan điểm này cho thấy chức năng liên kết kinh tế của

xuất, bổ sung cho nhau trong quá trình gia công chế biến liên tục hoạt động thống
nhất trong Tập đoàn.
Trên thế giới hiện nay đã và đang có rất nhiều loại hình Tập đoàn kinh tế. Có
một số hình thức tổ chức Tập đoàn kinh tế tiêu biểu như sau:
Cartel: là loại Tập đoàn, giữa các công ty trong một ngành lĩnh vực sản xuất
kinh doanh cùng ký kết hợp đồng với nhau hoặc thoả thuận kinh tế nhằm mục đích
cạnh tranh. Trong các Cartel, các công ty vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp
lý, tính độc lập về kinh tế được điều hành bằng hợp đồng kinh tế. Đối tượng của
các thoả thuận kinh tế có thể là: thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu
thụ sản phẩm, nguyên liệu, thống nhất chuẩn mực, kiểu loại kích cỡ, chuyên môn
hoá sản phẩm.
Syndicate: Là một dạng đặc biệt của Cartel, có một văn phòng thương mại
chung được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các công ty
phải tiêu thụ hàng hoá thông qua kênh của văn phòng này.
Trust: Là một liên minh độc quyền các tổ chức sản xuất kinh doanh do một
ban quản trị thống nhất điều khiển. Việc thành lập Trust nhằm thu lợi nhuận độc
quyền cao, chiếm nguồn vốn nguyên liệu và khu vực đầu tư.

18


Concern: là hình thức tổ chức Tập đoàn phổ biến hiện nay, concern không có
tư cách pháp nhân, các công ty thành viên giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý.
Mối quan hệ giữa các công ty thành viên trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích
chung như phát minh sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác sản xuất và
hệ thống tài chính chung. Trong Concern thường có một “Holding Company” giữ
vai trò như “công ty mẹ” điều hành hoạt động chung.
Các công ty thành viên hoạt động ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề khác
nhau có mối quan hệ với nhau về công nghệ sản xuất trong đó có một ngành chủ
chốt. Hoạt động của các công ty thành viên nhằm phục vụ lợi ích của mình và của

hoạt động sản xuất kinh doanh như xác định quy mô sản xuất, hợp tác nghiên cứu
và trao đổi bằng phát minh sáng chế kỹ thuật, quy định giá cả, thị trường tiêu thụ,
khối lượng sản phẩm cung cấp….v.v. Về tổ chức, thường có ban quản trị chung
điều hành các hoạt động phối hợp của Tập đoàn theo một đường lối chung thống
nhất nhưng các công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về tổ chức sản xuất
và thương mại của mình. Tuy nhiên nhược điểm của hình thức này là quan hệ liên
kết giữa các thành viên tương đối lỏng lẻo.

Do sự phát triển cao của thị trường tài chính, Tập đoàn kinh tế
được hình thành trên cơ sở xác lập sự thống nhất về tài chính và kiểm soát tài
chính. Các công ty thành viên ký kết các hiệp định về tài chính hình thành một công
ty tài chính chung gọi là Holding company - là công ty mẹ của Tập đoàn. Đây là
hình thức phát triển cao của Tập đoàn kinh tế. Trong Tập đoàn không chỉ còn hạn
chế các hoạt động mà lúc này đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực từ tài chính đến các hoạt
động sản xuất thương mại dịch vụ. Hiện nay, đây là hình thức Tập đoàn phổ biến
nhất trên thế giới.
1.3.3. Đặc trưng của Tập đoàn kinh tế
Mỗi hình thức tổ chức khác nhau của Tập đoàn tạo nên những đặc trưng khác
nhau của Tập đoàn. Tuy nhiên, có thể thấy những đặc trưng chung nhất của Tập
đoàn kinh tế như sau:
- Đặc trưng liên kết: Việc liên kết giữa các doanh nghiệp theo các hình thức
khác nhau được thực hiện không phải bằng các biện pháp hành chính, phi kinh tế,
cơ chế cấp vốn giữa công ty mẹ và các công ty thành viên mà từ yêu cầu kinh tế,
xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp trong quá trình phát triển.

20


- Đặc trưng cấu trúc tổ chức: Tập đoàn kinh tế là tổ hợp của nhiều công ty,
với hình thức tổ chức phổ biến nhất là theo mô hình công ty mẹ – công ty con: Các


hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Tập đoàn
kinh tế sẽ có thêm khả năng tập trung, điều hoà vốn, khắc phục sự hạn chế về vốn
của từng đơn vị riêng biệt.
Nguồn vốn của Tập đoàn được huy động từ các công ty thành viên theo các
hình thức được pháp luật cho phép sẽ tập trung đầu tư vào những lĩnh vực, những
dự án có hiệu quả cao, tránh được tình trạng vốn bị phân tán trong những đơn vị
nhỏ hoặc đầu tư không hiệu quả. Với cách thức này, vốn của các công ty thành viên
nhỏ cũng được sử dụng vào những lĩnh vực, dự án hiệu quả nhất, tạo ra sức mạnh
quyết định cho sự phát triển của Tập đoàn. Đặc trưng này sẽ phát huy được vai trò
điều tiết của nhà nước thông qua các công ty mẹ đối với từng thành viên cũng như
chuyển cơ bản quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty thành viên trong Tập đoàn từ
cơ chế giao vốn và mối liên hệ hành chính sang cơ chế đầu tư vốn và các mối quan
hệ kinh tế, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tập đoàn kinh tế nhà nước
hiện nay.
- Đặc trưng về quy mô: Các Tập đoàn vừa có sự tích tụ của bản thân công ty
mẹ, vừa có sự tập trung của các công ty thành viên nên tiềm lực tài chính và quy mô
về vốn của Tập đoàn là rất mạnh. Với ưu thế vốn lớn, Tập đoàn có khả năng chi
phối và cạnh tranh mạnh trên thị trường, mở rộng nhanh chóng quy mô sản xuất
kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị
trường tạo ra doanh thu lớn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các Tập đoàn kinh tế
Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với thị trường thế giới và hội nhập kinh tế.
- Đặc trưng về ngành và lĩnh vực kinh doanh: Mặc dù đặc điểm nổi bật của
Tập đoàn là hoạt động kinh doanh đa ngành, nhưng vẫn có một số Tập đoàn kinh
doanh trong một lĩnh vực tương đối hẹp. Điều đó minh hoạ cho cả hai xu hướng
phát triển Tập đoàn kinh tế. Xu hướng thứ nhất là phát triển đa dạng hoá, đa ngành
nhằm phân tán rủi ro và tăng khả năng chi phối thị trường. Xu hướng thứ hai là phát
triển chuyên môn hoá sâu để khai thác thế mạnh về chuyên môn, bí quyết công
nghệ, uy tín đặc biệt trong ngành. Các xu hướng này thể hiện khác nhau tuỳ theo
ngành kinh doanh, lĩnh vực hoạt động. Tuy nhiên, hiện nay xu hướng đa dạng hoá,

hàng hoá, dịch vụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận những công nghệ tiên

23


tiến thuận lợi hơn. Các doanh nghiệp trong nước trình độ quản lý và kinh nghiệm
kinh doanh quốc tế còn non kém, qui mô của các doanh nghiệp chủ yếu là vừa và
nhỏ, lại phải chịu sức ép cạnh tranh khốc liệt trong khi chưa kịp chuẩn bị
về tiềm lực tài chính, tổ chức quản lý và kỹ năng cạnh tranh. Do đó còn gặp nhiều
khó khăn trong hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài. Trước bối cảnh
đó, việc liên kết các tổng công ty, doanh nghiệp trong nước để hình thành mô hình
tổ chức mới là Tập đoàn kinh tế là yêu cầu cấp thiết để nâng cao khả năng cạnh
tranh với các Tập đoàn nước ngoài.
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa IX
tháng 9-2001, chỉ rõ: "Hình thành một số Tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng
công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành,
trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối
lớn trong nền kinh tế quốc dân…”. Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP của Chính phủ
về đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước,
Chính phủ đã nêu một trong những giải pháp được thực hiện là " Thí điểm chuyển
tổng công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con và
hình thành một số Tập đoàn kinh tế".
Các Tập đoàn kinh tế Việt Nam được hình thành trên cơ sở của các tổng công
ty, nhằm khắc phục những hạn chế của các tổng công ty nhà nước đó là: Tình trạng
thiếu chủ động trong điều hành hoạt động, tiềm lực tài chính bị phân tán, khả năng
cạnh tranh thấp... v.v. Từ đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế
mạnh, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, chủ động trong hội nhập kinh tế
quốc tế. Chính phủ chỉ đạo xây dựng đề án thí điểm thành lập các Tập đoàn Công
nghiệp Cao su Việt Nam, Bưu chính Viễn thông, Dầu khí, Điện lực, Xi măng… Các
Tập đoàn kinh tế được hình thành với mục tiêu tập trung nguồn lực, nâng cao tính

Cơ chế quản lý vốn của Tập đoàn kinh tế bao gồm:
- Cơ chế huy động vốn: Cơ chế huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển của Tập đoàn. Các hoạt động huy động vốn của Tập đoàn, của các thành
viên phản ánh mối quan hệ tài chính giữa Tập đoàn với thị trường tài chính. Cơ chế
huy động vốn bao gồm cơ chế vay nợ và cơ chế phát hành trái phiếu, cổ phiếu.

25


+ Cơ chế vay nợ: Nguồn vốn vay là nguồn vốn rất quan trọng đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của các Tập đoàn kinh tế. Nó bao gồm cơ chế kiểm soát
nội bộ đối với quá trình huy động tín dụng của công ty mẹ và của các công ty thành
viên; Các quy trình, thủ tục đối với việc tiến hành vay vốn; Hệ thống các định chế
của Nhà nước đối với quan hệ tín dụng. Thực tế, hoạt động tín dụng của các Tập
đoàn được phân cấp và tự do hoá để mở rộng vai trò của các công ty thành viên,
nâng cao tính chủ động, tự chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng và hiệu quả hoạt
động kinh doanh.
+ Cơ chế phát hành trái phiếu, cổ phiếu
Trái phiếu là loại chứng thư xác nhận quyền làm chủ một món nợ của người
sở hữu đối với người phát hành. Doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhằm huy động
vốn trung và dài hạn được xác định mệnh giá, lãi suất và thời hạn huy động. Người
nắm giữ trái phiếu có thu nhập ổn định trong thời hạn xác định và được hoàn trả vốn
khi đến hạn, được tự do chuyển nhượng trái phiếu.
Việc phát hành trái phiếu của Tập đoàn kinh tế phải tuân thủ những nội dung
theo quy định tại Điều 88 của Luật doanh nghiệp 2005 và Nghị định 52/2006/NĐCP ngày 19/5/2006 của Chính phủ.
Cổ phiếu, là chứng thư xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một
doanh nghiệp cổ phần, tức là xác nhận có quyền sở hữu một phần đối với công ty
theo tỷ lệ cổ phiếu của cổ đông đó. Người nắm giữ cổ phiếu là người hưởng lợi cuối
cùng trong việc phân chia lợi nhuận hay tài sản. Người sở hữu cổ phiếu có thể bán,
chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường. Việc phát hành cổ phiếu có ý nghĩa quan

Công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty con, quản lý vốn đầu tư ở các công ty
con thông qua người đại diện.
Các công ty con thuộc Tập đoàn được quyền sử dụng tài sản thuộc quyền
quản lý của công ty để đầu tư ra ngoài công ty theo quy định. Công ty con đầu tư
vốn vào các công ty cháu và quản lý vốn đầu tư ở các công ty này thông qua
người đại diện.

27



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status