LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng
dẫn khoa học của Ths.Bùi Đức Thuyết. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài
này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây. Những số liệu
trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả
thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra,
trong báo cáo còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả
khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc. Nếu phát hiện có
bất kỳ gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo của mình.
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội không liên quan đến những vi
phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (Nếu có).
Hà Nội, ngày 19 tháng 1 năm 2017
Sinh viên
Ngô Thanh Hùng
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và tri ân sâu sắc đến Ths.Bùi Đắc Thuyết đã
giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình hình thành ý tưởng , triển khai và hoàn
thành Báo cáo Khoa học. Em cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Khoa
Học biển và Hải đảo đã dạy dỗ, chỉ bảo trong thời gian em học tập. Trong quá trình
thực tập, cũng như là trong quá trình làm bài Báo cáo Khoa học, khó tránh khỏi sai sót,
rất mong thầy bỏ qua. Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn
còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận
được ý kiến đóng góp thầy để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành
tốt hơn bài báo cáo tốt nghiệp sắp tới.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
sóc các đối tượng thủy sản. Những năm qua bên cạnh việc tăng về diện tích và
sản lượng thì vấn đề ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản đã gây thiệt hại
không nhỏ cho người nuôi. Những nguyên nhân của ô nhiễm môi trường có thể
là do nước thải không được xử lý và thải không đúng quy định, do tích tụ vật
chất hữu cơ trong quá trình nuôi thủy sản như: thức ăn dư thừa, sản phẩm thải,
do sử dụng thuốc, hóa chất không được kiểm soát. Những nguyên nhân bệnh
dịch có thể xuất phát từ ô nhiễm môi trường, từ gia tăng mật độ của vi sinh vật
hoặc do khả năng kháng thuốc của chúng, do người nuôi không tuân thủ quy
4
trình nuôi… Tuy nhiên trong đó còn một số nguyên nhân cả môi trường và bệnh
đều không thể giải thích như hiện tượng ngao chết hàng loạt các năm 2009 và
2010, tu hài chết năm 2011. Cũng có thể là do biến đổi khí hậu (BĐKH) đã gây
ra những biến đổi cực đoan về môi trường (khí hậu, thời tiết…) từ đó gia tăng
stress cho vật nuôi và theo đó tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh và sự xâm lấn
của các loài ngoại lai. Sự thay đổi nhiệt độ giữa đất liền và đại dương, giữa các
vùng cực và các vùng nhiệt đới sẽ ảnh hưởng đến cường độ, tần số của các hiện
tượng khí hậu như El nino, lũ lụt, hạn hán, bão. Những sự kiện này là nguyên
nhân dẫn đến nguồn tài nguyên biển không được ổn định, tác động mạnh đến
lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
Với điều kiện địa lý và xã hội như trên, Quảng Ninh là một trong những
tỉnh chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu. Diễn biến thời tiết trong những
năm gần dây có nhiều hiện tượng bất thường, rét đậm, rét hại kéo dài, bão lũ
diễn ra kéo dài từ tháng 5 tới tháng 10 với trung bình 5-6 cơn bão lớn/năm.
Riêng trong năm 2009, cơn bão số 6 gây lũ lụt cho các huyện miền núi Bình
Liêu, Ba Chẽ và các huyện ven biển Tiên Yên gây thiệt hại hơn 200 tỷ đồng cho
riêng ngành NTTS. Cơn bão số 5 năm 2011 làm hư hại 93 nhà bè NTTS, trên 5
triệu con giống tu hài cấp hai, 750 bè nuôi hàu thương phẩm, 250 bè hàu giống,
2,000 lồng tu hài thương phẩm, 10 tấn cá song, 1 tấn cá Hồng Mỹ, 3 tấn cá Chim
Trong hơn 50 năm qua, nhiệt độ ở các lục địa (trừ Nam Cực) đã tăng lên đáng
kể. Nóng lên toàn cầu làm gia tăng mực nước biển. Từ năm 1961, mực nước
biển trung bình trên toàn cầu dâng cao với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm (từ
1,3 - 2,3 mm/năm) và từ năm 1993 ở mức 3,1 mm/năm (từ 2,4 - 3,8 mm/năm),
do sự dãn nở vì nhiệt, tan các mũ băng và những tảng băng ở vùng cực. Tốc độ
băng tan diễn ra nhanh nhất trong thời gian từ 1993 đến 2003 thể hiện sự biến
đổi trong một thập kỷ, chứ chưa phải là một xu thế tan chảy dài hạn rõ ràng. Từ
năm 1900 đến 2005, lượng mưa tăng đáng kể ở các khu vực phía đông của Bắc
và Nam Mỹ, Bắc Âu, Bắc và Trung Á, nhưng giảm ở Sahel, Địa Trung Hải,
Nam Phi và các khu vực Nam Á. Tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hạn hán đã
tăng lên từ những năm 1970. Bão nhiệt đới gia tăng, xuất hiện với cường độ
mạnh ở Bắc Đại Tây Dương từ khoảng năm 1970 và không thấy tăng lên ở
những nơi khác. Chúng ta chưa thể xác định được xu thế rõ ràng về số lượng các
cơn bão nhiệt đới hàng năm. Cũng như xu hướng lâu dài về hoạt động của bão,
đặc biệt trước năm 1970.
6
Nóng lên toàn cầu và nước biển dâng có thể tiếp diễn trong nhiều thế kỷ
do tính phức tạp và sự phản hồi của các quá trình khí hậu, thậm chí ngay cả khi
nồng độ các khí nhà kính đã ổn định. Với các hệ sinh thái trên cạn, mùa xuân
đến sớm hơn, xu thế dịch chuyển lên các cực và dịch chuyển lên cao đối với một
số hệ động vật, thực vật có liên quan đến hiện tượng nóng lên gần đây. Còn với
các hệ sinh thái biển và nước ngọt, những thay đổi về hệ động vật, thực vật và
sự phong phú của tảo, sinh vật phù du và cá liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ
của nước, cũng như liên quan đến những thay đổi về độ che phủ của băng, độ
mặn, hàm lượng ôxy và sự lưu thông của nước.
Đến nay, mặc dù hiện tượng BĐKH toàn cầu do con người gây ra đã được
thừa nhận, nhưng từ phương diện nghiên cứu khoa học, thông tin liên quan đến
BĐKH còn chứa nhiều yếu tố không chắc chắn. Nghiên cứu tổng quan của De
theo 3 kịch bản BĐKH đến năm 2050 của IPCC xây dựng.
Dựa trên phương pháp tiếp cận của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH về
đánh giá tác động của BĐKH, đã có một số nghiên cứu liên quan đến đánh giá
ảnh hưởng của BĐKH đến NTTS ven biển. Nghiên cứu của Chen tại Đài Loan
về tác động của nhiệt độ bề mặt nước biển đến sản lượng cá măng đã áp dụng
mô hình nhiệt độ phi tuyến tính theo thời gian để xây dựng mối quan hệ giữa
nhiệt độ trung bình năm và nhiệt độ nhỏ nhất trong mùa đông (tháng 1-3 hàng
năm) với sản lượng cá măng nuôi trên biển. Trong nghiên cứu này, dữ liệu để
chạy mô hình là sản lượng cá măng được thu thập trong giai đoạn năm 19822008 từ Cục Nông nghiệp của thành phố Cao Hùng (Đài Loan) và số liệu nhiệt
2.
độ bề mặt nước biển từ năm 1960-2008.
Tình hình trong nước
Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) là ngành kinh tế có tiềm năng phát triển của
Việt Nam. Những năm gần đây NTTS của nước ta đã có những bước phát triển
mạnh mẽ và đạt đựơc nhiều thành tựu to lớn, góp phần thúc đẩy công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngành có vai trò hết sức quan trọng trong
việc góp phần xoá đói giảm nghèo, cung cấp dinh dưỡng và nâng cao thu nhập
cho nhân dân, và từng bước nâng cao kim ngạch xuất khẩu của đất nước. Đến
năm 2003, NTTS và các hoạt động thuỷ sản chiếm tới 5,1% tổng số lao động
trên toàn quốc; đến cuối năm 2006, sản lượng nuôi trồng đạt 1.526.000 tấn, tăng
8
khoảng 14% so với năm 2005. Nuôi trồng thuỷ sản tập trung chủ yếu ở đồng
bằng Nam bộ, và sau đó là đồng bằng sông Hồng. Nhiều năm qua, nuôi trồng,
chế biến, xuất khẩu thủy sản đã trở thành thế mạnh kinh tế đặc biệt ở Việt Nam,
để nước ta trở thành một vùng trọng điểm về nuôi trồng thủy sản cho tiêu dùng
và xuất khẩu của cả khu vực. Việc phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản vùng
ven biển không chỉ khai thác hiệu quả các lợi thế về điều kiện tự nhiên mà còn
nuôi xen rừng ngập mặn, nuôi luân canh (tôm-rong câu) hay nuôi xen tôm-lúa,
kết hợp tôm cua ghẹ, cá nước lợ… Riêng tôm thẻ chân trắng, mặc dù mới được
nuôi rộng rãi khoảng 5 năm lại đây nhưng đã trở thành một trong những đối
tượng chủ lực có thể thay thế tôm sú bản địa ở nhiều vùng ven biển (có dấu hiệu
suy giảm chất lượng môi trường). Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi thâm canh
hoặc nuôi ở quy mô công nghiệp trên các vùng cao triều - nơi có thể quản lí
được các yếu tố môi trường.
Việt Nam là một nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước
biển dâng. Theo tính toán của các chuyên gia nghiên cứu BĐKH đến năm 2100
nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3 0C và mực nước biển có thể
dâng 1m. Theo đó, khoảng 40.000 km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái cửa sông là những hệ sinh thái quan
trọng bậc nhất trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo tính đa dạng
nguồn lợi thủy sản tỉnh Sóc Trăng. Các yếu tố khí hậu tác động một cách tổng
hợp lên hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM). Khi khí hậu nóng lên, các yếu tố
như sự biến động nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng sẽ là những yếu tố tác
động mạnh nhất lên hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nước mặn lấn sâu vào nội địa,
làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sản nước ngọt, lợ vùng cửa
sông và vào sâu trong nội đồng. Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng
đến hệ sinh thái của một số loài thuỷ sản vùng cửa sông và trong rừng ngập
mặn. Nước biển dâng làm cho chế độ thủy lý, thủy hoá và thủy sinh xấu đi. Kết
quả là quần xã hiệu hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút của
các loài khu vực cửa sông, rừng ngập mặn. Các loài thực vật nổi, mắt xích đầu
tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi bị huỷ diệt, làm giảm mạnh động vật
10
nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của các động vật tầng giữa và tầng
trên. Nước biển dâng sẽ dẫn đến mực nước cao hơn và độ mặn ven biển ngày
càng tăng tại hệ thống các cửa sông. Các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu
biến xâm nhập mặn trở nên phức tạp hơn. Vùng nuôi tôm nước lợ ven biển tỉnh
Sóc Trăng ảnh hưởng bởi gia tăng xâm nhập mặn trong mùa khô, đặc biệt ở đây
các đầm tôm nằm bên ngoài của vùng bờ biển được bảo vệ bởi đê biển và các
cống điều tiết nước. Thêm vào đó, độ chịu mặn của tôm Sú có thể ở mức cao là
35 - 40ppt nhưng khi ở giới hạn chống chịu này thì các loài này phải đối mặt với
việc dễ bị nhiễm bệnh hơn.
BĐKH ngoài biểu hiện của nó như nước biển dâng thì nhiệt độ tăng, bão
lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan… đã ảnh hưởng
trực tiếp và gián tiếp đến các hệ sinh thái quan trọng ven bờ và nghề NTTS nói
chung trong đó các vùng nuôi trong điểm của các đối tượng như ngao, tôm nước
lợ và cá lồng biển phải chịu tác động rất lớn và ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả
sản xuất. Các biểu hiện khắc nghiệt của thời tiết có thể dẫn đến việc giảm các
loài tự nhiên là nguồn giống của NTTS, làm tăng stress cho vật nuôi ảnh hưởng
đến năng suất mà còn tăng nguy cơ bệnh tật gây thiệt hại cho nông dân. Trong
các hoạt động NTTS ven biển thì nuôi tôm nước lợ chịu nhiều bất lợi do BĐKH
gây ra. Mực nước biển dâng sẽ gây nên nhiều tác động đối với hoạt động sản
xuất NTTS nói chung trong đó nuôi tôm nước lợ sẽ phải chịu nhiều tác động
như: xâm nhập mặn, xói lở và thay đổi diện tích nuôi. Sự xâm nhập mặn ảnh
hưởng tới phân bố về không gian nuôi, thay đổi đối tượng nuôi và làm thay đổi
nguồn thức ăn tự nhiên. Nước biển dâng sẽ kéo theo tác động gây xói lở cơ sở
hạ tầng vùng nuôi, trang trại nuôi, gây thất thóa vật nuôi thậm chí nguy hiểm tới
tính mạng con người canh tác NTTS. Nước biển dâng làm thay đổi diện tích
nuôi, nuôi tôm ven biển đa số sẽ tăng diện tích nước mặn lợ và năng suất sản
lượng có thể tăng tương ứng.
Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên Việt Nam phải chịu ảnh hưởng của
hiện tượng bão và áp thấp nhiệt đới. Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mưa to gió
lớn. Bão cũng là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng nước biển
dâng và gây tác động đến việc khai thác, đánh bắt thủy sản của các tàu thuyền,
12
13
diện tích của chúng ta sẽ có nhiều hơn, có nghĩa là diện tích nuôi trồng thủy sản
mặn, lợ có thể được mở rộng, nguồn lợi thủy sản và sản lượng khai thác xa bờ sẽ
tăng lên.
Nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công cho
phát triển nuôi trồng thủy sản. Hiện tượng nắng nóng kéo dài đã làm cạn kiệt
nguồn nước ngọt, làm tăng mức độ bốc hơi nước trong các ao nuôi. Đối với các
ao nuôi gần nguồn cung cấp nước hoặc nuôi lồng bè trong vực nước lớn (sông
suối, biển) thì ảnh hưởng này không lớn, nhưng đối với ao nuôi cách xa nguồn
nước thì nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Miền Trung là nơi
có số ngày nắng, mức độ bốc hơi nước lớn nhất cả nước, cho nên hạn hán xảy ra
nghiêm trọng nhất. Nhiều ao nuôi tôm cá đã bị bỏ hoang vì không có nước để
cung cấp trong quá trình nuôi. Một số ao nuôi chưa đến thời gian thu hoạch đã bị
cạn kiệt nguồn nước trong ao, nên người dân phải thu hoạch sớm hoặc bỏ nuôi.
Tôm cá chưa đến kích thước thương phẩm bán với giá quá rẻ hoặc làm thức ăn
cho gia súc và gia cầm. Bên cạnh dó hạn hán gây thiếu nước sản xuất và ảnh
hưởng tới một số thông số môi trường như tăng độ mặn, tăng nhiệt độ ao đầm
nuôi gây sốc nhiệt và sốc độ mặn. Nắng lắm ắt phải mưa nhiều, gây ra hiện
tượng lũ lụt ở nhiều nơi. Lượng mưa trung bình khác nhau ở mỗi vùng . Lũ lụt
đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng ở nhiều địa phương trong cả nước. Nhiều nơi có
thể được xem là nơi thuận lợi phát triển nếu hiện tượng khô hạn xảy ra, nhưng
chính nơi đây là nơi dễ bị rủi ro nhất nếu lũ lụt xảy ra. Khô hạn có thể cung cấp
nước, nhưng lũ lụt thì rất khó chống. Nhiều ao nuôi đã được chuẩn bị bao đê
kiên cố, cao để chống nước dân cao vào mùa mưa, nhưng không thể chống được
lũ lụt. Đối với nghề nuôi thủy sản mặn lợ, độ mặn lại là yếu tố ảnh hưởng rất lớn
đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi. Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong
các ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt ra khỏi ngưỡng chịu đựng làm cho tôm cá
bị sốc, chết hoặc chậm lớn. Lũ xãy ra còn làm cho độ mặn các vực nước gần bờ
biệt nghiêm trọng đối với các ao hồ có độ sâu nhỏ. Đối với các vực nước có độ
sâu cao, vực nước lớn hoặc chảy thì sự thay đổi về nhiệt độ hiện xảy ra chậm
hơn và nước ít bị nóng hơn. Vì vậy việc nuôi lồng bè trên các vực nước lớn như
sông suối, biển thường ít bị ảnh hưởng của sự tăng nhiệt độ quá mức và lâu dài,
15
còn các vực nước tù và nhỏ thường dễ bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn. Sự tăng
nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thủy sản trong các ao hồ. Nhiều nghiên
cứu cho thấy rằng khi nhiệt độ tăng lên làm cho hàm lượng oxi trong nước trong
giảm mạnh vào ban đêm, do sự tiêu thụ quá mức của các loài thực vật thủy sinh,
hoặc quá trình phân hợp chất hữu cơ. Sự suy giảm hàm lượng oxi làm ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của loài nuôi, tôm có thể bị chết hoặc
chậm lớn. Điều này dễ nhận thấy qua hiện tượng hiện tượng phù dưỡng của các
ao nuôi; cá nổi đầu vào buổi sáng trong các ao nuôi; thủy triều đỏ và tảo chết
hàng hoạt ở các vùng ven biển. Ngoài ra, nắng nóng cùng với độ mặn tăng cao
làm các loại cây cỏ thủy sinh trong vuông nuôi bị chết và phân hủy nhanh. Đây
là nguồn dinh dưỡng cho tảo phát triển mạnh, kéo theo sự biến đổi về độ trong,
đục của nước trong ao. Những yếu tố môi trường nuôi càng thay đổi giảm đột
ngột hơn khi xuất hiện những trận mưa trái vụ hay những cơn mưa đầu mùa.
Nước mưa cuốn trôi phèn từ bờ vuông xuống ao nuôi làm pH giảm thấp, nhiệt
độ thay đổi đột ngột, dẫn đến hiện tượng tôm chết do bị sốc nhiệt và pH hay tôm
nuôi yếu đi, mất khả năng đề kháng, dễ mắc bệnh. Thay đổi nhiệt độ còn là điều
kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài nuôi. Nhiệt độ tăng
cao làm cho sức khỏe của các loài nuôi, môi trường nước bị xấu đi, là điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gây hại. Trong những năm gần
đây do môi trường nuôi bị suy thoái kết hợp với sự thay đổi khắc nghiệt của thời
tiết đã gây ra hiện tượng tôm sú chết hàng loạt ở hầu hết các tỉnh, như bệnh do
nhóm vi khuẩn Vibrio gây ra, bệnh do virus (MBV, HPV). Các bệnh này thông
thường xảy ra và lan truyền rất nhanh và rộng, khó chữa nên mức độ gây rủi ro
đó, ngành thủy sản bị thiệt hại khoảng 1,5 tỷ USD năm 2010 và mức thiệt hại
này sẽ tăng lên 25 tỷ USD vào năm 2030. Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra
rằng, các tác động của BĐKH lên NTTS nói chung và NTTS ven biển nói riêng
có thể được giảm nhẹ thông qua các biện pháp thích ứng hiệu quả của người
nuôi và các tổ chức cộng đồng. Cụ thể là quản lí trang trại hiệu quả, sử dụng hợp
lí các nguồn thức ăn và năng lượng trong hoạt động nuôi, thực hiện chuyển dịch
mùa vụ, né vụ theo lịch của các cơ quan quản lí ban hành để thích ứng với diễn
biến bất lợi của thời tiết, giảm thiểu khí nhà kính từ hoạt động NTTS.
17
Là tỉnh ven biển, trong những năm qua, Quảng Ninh đã phải chịu hậu quả
nặng nề do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) dẫn đến thời tiết bất
thường, nắng nóng kéo dài, mưa lớn, lũ lụt... Có thể nhận thấy, những tác động
của BĐKH tới Quảng Ninh rõ nét nhất là đợt mưa vượt ngưỡng lịch sử kéo dài
hơn một tuần qua đã gây ra những thiệt hại về người và tài sản, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt của người dân. Quảng Ninh có tài nguyên
nước khá phong phú và đặc sắc, có hầu hết các chủng loại hải sản Việt Nam: các
loại cá chim, thu, nhụ, đé, song…. Các đối tượng nhuyễn thể tự nhiên ở đây rất
đa dạng như Ngao, Tu Hài và Ốc Hương được nuôi khá phổ biến. Hàu nhập nội
(Hàu Thái Bình Dương) đang được nuôi với sản lượng lớn ở vịnh Bái Tử Long
(Quảng Ninh). Nhóm đối tượng này vừa có khả năng làm giảm phát thải khí nhà
kính (KNK) nhưng đồng thời chịu nhiều tác động tiêu cực của BĐKH làm môi
trường của chúng bị thay đổi đột ngột và dịch bệnh lây lan. Cá biển cũng là đối
tượng được chú trọng trọng những năm gần đây ở các tỉnh Quảng Ninh. Hiện
nuôi cá biển ở Việt Nam chủ yếu dựa vào nuôi cá lồng bè trong các vũng vịnh
nửa kín. Bên ngoài các lồng nuôi có thể trồng rong câu, nuôi nhuyễn thể. Thức
ăn chủ yếu của nuôi cá lồng là cá tạp. Hình thức nuôi này chịu nhiều tác động
của BĐKH do có nhiều rủi ro từ bão lũ, sóng và phát thải KNK do ô nhiễm từ
thức ăn thừa và sinh hoạt của người nuôi trên các lồng bè nổi. Nhiệt độ tăng quá
Các loại tôm he như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm rảo… đứng đầu về
chất lượng tôm Việt Nam cũng được nuôi nhiều tại Quảng Ninh. Tuy nhiên, hoạt
động này thường xuyên chịu tác động của thời tiết và thiên tai do BĐKH gây ra,
các biểu hiện như nước biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cường
và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác. Một số nghiên cứu đã cho thấy,
BĐKH có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến NTTS thông qua nguồn
nước, diện tích nuôi, môi trường nuôi, con giống, dịch bệnh… và qua đó gây
ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và cơ sở hạ tầng của các vùng NTTS nói
chung và NTTS ven biển nói riêng. Nước biển dâng có thể làm thay đổi diện
tích vùng nuôi hoặc thay đổi cả vùng nuôi. Các hiện tượng thời tiết bất thường
như bão lũ, hạn hán, nắng nóng hoặc giá rét kéo dài có thể tác động tiêu cực đến
nguồn nước và sức đề kháng của các đối tượng nuôi, gây bùng phát dịch bệnh.
19
Lượng mưa và tần suất mưa làm thay đổi độ mặn, nhiệt độ, pH gây sốc đối với
tôm nuôi, làm xói lở bờ ao đầm, hư hại cống làm tăng độ đục, giảm sức đề
kháng tạo diều kiện cho mầm bệnh phát triển và tăng tỷ lệ chết đối với tôm nuôi
ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất. Hiện tượng nhiệt độ cực đoan (cao hoặc thấp)
ảnh hưởng lớn đến tôm nuôi, làm giảm khả năng vận động và bắt mồi, dinh
dưỡng của tôm nuôi. Nhiệt độ quá thấp ảnh hưởng tới thời vụ thả tôm, nhiệt độ
cao quá ảnh hưởng tới môi trường nuôi như quá trình phân hủy chất hữu cơ xảy
ra nhanh gây bất lợi cho môi trường vào thời điểm cuối vụ nuôi. Dịch bệnh đã
gây không ít khó khăn cho người nuôi trồng thủy sản. Đã có trên 240ha tôm
nuôi bị mắc các bệnh đốm trắng, đỏ than, teo gan… chủ yếu tập trung ở các địa
phương Yên Hưng, Đầm Hà, Tiên Yên, Hải Hà…gây nhiều thiệt hại về kinh tế,
xã hội cho cộng đồng người nuôi. Các tác động bất lợi và tiêu cực này nếu
không có biện pháp can thiệp, sẽ đe dọa các mục tiêu tăng trưởng bền vững của
ngành thủy sản.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, thời gian qua Quảng Ninh đã chịu
15.000 ha/năm. Nghiên cứu tại bãi triều huyện Tiên Yên và Đầm Hà (tỉnh Quảng
Ninh) cho thấy, nước biển dâng làm thay đổi thành phần trầm tích, tăng độ muối
và mực nước trong rừng ngập mặn làm giảm một số loài cây ngập mặn như
mắm (Avicennia), bần (Sonneratia), và đước (Rhizophora), giảm dòng chảy
sông vào mùa khô kìm hãm sự phát triển của cây bần (Sonneratia spp.), thông
qua đó đe doạ sự tồn tại của rừng ngập mặn. Các thay đổi rừng ngập mặn vừa
nêu và của hệ thống bãi triều và cửa sông ở khu vực Tiên Yên và Đầm Hà gây
khó khăn cho chim kiếm ăn, làm giảm sự đa dạng và phong phú chim nước,
giảm cá và tôm. Khả năng thích ứng của đất ngập nước với BĐKH, lũ lụt ở mức
trung bình nên tính dễ bị tổn thương của đất ngập nước ở đây cũng ở mức trung
bình, nhưng lại làm giảm sinh kế của cộng đồng liên quan. Do suy thoái và giảm
diện tích rừng ngập măn nên đa dạng sinh học vùng bờ và nguồn lợi thủy hải sản
giảm sút, nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm về trữ lượng, sản lượng và kích
thước đánh bắt, năng suất nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn giảm sút
nghiêm trọng, từ 200 kg/ha/vụ năm 1980 đến nay chỉ còn 80 kg/ha/vụ; 1 ha rừng
21
ngập mặn trước kia có thể khai thác được 800 kg thủy sản, nhưng hiện chỉ thu
được 1/20 so với trước.
Do thiếu thông tin dẫn đến hạn chế về nhận thức. Do điều kiện kinh tế
khó khăn, cơ sở vật chất thấp… Để người NTTS thấy được lợi ích và trách
nhiệm trong hoạt động ứng phó BĐKH, ngoài các hoạt động thông tin tuyên
truyền, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cần phối hợp xây
dựng một số mô hình NTTS ven biển để người nuôi có thể tiếp cận trực quan và
tự điều chỉnh các hoạt động sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện đặc thù của
vùng nuôi và gia đình. Đồng thời, cần phải có những đánh giá mang tính dự báo
về tác động tiềm tàng của BĐKH lên hệ thống cơ sở hạ tầng, diện tích, năng
suất, sản lượng NTTS ven biển. Các mô hình thử nghiệm sẽ kiểm chứng tính
IV.
1.
Địa điểm: Các hộ nuôi tại khu vực nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Quảng
2.
3.
Ninh: Móng Cái, Đầm Hà, Vân Đồn, Quảng Yên, …
Thời gian: T2 – T6/2017
Đối tượng nghiên cứu: Các nông hộ tham gia trực tiếp nuôi trồng thủy sản
vùng ven biển tại tỉnh Quảng Ninh dưới tác động của BĐKH.
22
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
V.
-
Đề tài cần làm rõ những vấn đề sau
Hiện tượng BĐKH có ảnh hưởng đến sản lượng và thu nhập của các hộ nuôi
-
thủy sản hay không.
Xu hướng tác động của BĐKH đến việc nuôi thủy sản ra sao.
Các biện pháp ứng phó của hộ nuôi đối với vấn đề BĐKH
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG NGHIÊN CỨU
hỏi.
Phương pháp điều tra, khảo sát ngoài thực địa, thu thập thông tin sơ cấp : Thông
tin sơ cấp được thu thập qua tham vấn cán bộ địa phương bao gồm những dữ
liệu về biến đổi khí hậu(ví dụ nhiệt độ, mưa, lũ lụt, mực nước biển dâng và xâm
mặn) có được từ các đài khí tượng trong khu vực. Điều tra phỏng vấn các hộ gia
-
đình nuôi thủy sản.
Phương pháp phân tích số liệu: phân tích thống kê mô tả SPSS.
23
VII.
DỰ KIẾN KẾT QUẢ
Đánh giá chung tác động của biến đổi khí hậu đến việc nuôi trồng thủy
sản và cách ứng phó với vấn đề BĐHK của các hộ nông dân khu vực ven biển
tại địa bàn Quảng Ninh.
24
VIII.
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
Nội dung
Xây dựng đề cương
nghiên cứu
Báo cáo thông qua đề