Nghiên cứu sự hài lòng của khách du lịch nội địa tại Hạ Long, Quảng Ninh - Pdf 43

MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................1
2.3.3 Phương pháp phân tích...................................................................................................................... 7


DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ẢNH
DANH MỤC ẢNH
MỤC LỤC.............................................................................................................................1
2.3.3 Phương pháp phân tích...................................................................................................................... 7


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hóa, xã
hội ở hầu hết các quốc gia. Đối với nhiều quốc gia, du lịch được xác định là một trong
những ngành kinh tế quan trọng, thậm chí là mũi nhọn trong chiến lược phát triển đất
nước. Nhiều lợi ích kinh tế, xã hội mang lại từ hoạt động du lịch thông qua việc đóng
góp vào GDP của đất nước, mang đến công ăn việc làm cho người dân, là phương tiện
quảng bá hình ảnh đất nước mạnh mẽ nhất, là sự xuất khẩu hàng hoá tại chỗ nhanh
nhất và hiệu quả nhất.
Hiện nay, Việt Nam xác định “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn, du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực phát triển
kinh tế - xã hội”. Trong định hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam, Hạ Long
(Quảng Ninh) là một trong những khu vực được đầu tư trọng điểm.
Thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh) thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,
với nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, xã hội; được ưu tiên đặc biệt của nhà nước
về đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong chiến lược phát triển kinh tế của thành
phố Hạ Long, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực thúc đẩy
phát triển các lĩnh vực kinh tế khác.

Trăng. Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp Willingness to Pay để đo lường
mức độ thỏa mãn của du khách về chi phí bỏ ra khi đi du lịch, trên cơ sở đó đề xuất
giải pháp nâng cao mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa tại Sóc Trăng.
Cùng hướng nghiên cứu về sự hài lòng của khách du lịch nội địa tại Sóc Trăng
còn có nghiên cứu của hai tác giả Hồ Lê Thu Trang và Phạm Thị Kim Loan (2012) với
đề tài “Các yếu tố quyết định sự hài lòng và sự sẵn lòng quay lại của khách nội địa đối
với du lịch tỉnh Sóc Trăng”. Nghiên cứu này đánh giá mức độ hài lòng và hành vi sau
khi đi du lịch của khách du lịch nội địa đối với du lịch Tỉnh Sóc Trăng, đồng thời tìm
hiểu các yếu tố quyết định sự hài lòng và sự sẵn lòng quay lại của du khách. Bộ tiêu
chí đánh giá mức độ hài lòng của du khách nội địa được đo lường bằng thang đo
Likert 5 mức độ. Phân tích khoảng cách Mức độ quan trọng, mức độ hài lòng và mô
hình IPA được dùng đề xuất chiến lược cho các đơn vị kinh doanh du lịch Sóc Trăng.
Bên cạnh đó, phân tích phân biệt giúp phát hiện các yếu tố quyết định sự khác biệt
giữa nhóm du khách không hài lòng và hài lòng đối với du lịch Sóc Trăng, cũng như
sự khác biệt giữa nhóm du khách sẵn lòng và không sẵn lòng quay lại. Kết quả nghiên
cứu đã đề xuất các giải pháp giúp ngành du lịch Sóc Trăng có thể nâng cao mức độ hài
lòng và sự sẵn lòng quay lại của khách du lịch nội địa.
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Gấm, Hoàng Thị Huệ, Nguyễn Tú Anh trong nghiên
cứu “Đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về dịch vụ du lịch tỉnh Thái Nguyên
thông qua mô hình phân tích nhân tố” đã sử dụng phương pháp kiểm định t và mô
hình phân tích nhân tố thông qua 9 nhân tố, 24 biến quan sát (Nhân tố thứ nhất gồm 4
biến quan sát là cơ sở vật chất và dịch vụ nổi vận tải, giá tại điểm – khu du lịch và
dịch vụ chìm tại công ty lữ hành; Nhân tố thứ hai gồm 4 biến quan sát là: dịch vụ
chìm và hàng hóa – đồ dùng vận tải, cơ sở vật chất và hàng hóa – đồ dùng tại điểm –
khu du lịch; Nhân tố thứ ba gồm 3 biến quan sát là dịch vụ nổi và dịch vụ chìm tại cơ
sở lưu trú, cơ sở vật chất tại điểm kinh doanh ăn uống; Nhân tố thứ tư gồm 2 biến quan
sát là dịch vụ nổi lữ hành và dịch vụ chìm tại điểm – khu du lịch; Nhân tố thứ năm

2


thành 7 nhóm nhân tố bao gồm năng lực phục vụ du lịch; giá cả hàng hóa và dịch vụ;
văn hóa; cơ dở vật chất; các làng nghề truyền thống; các lễ hội truyền thống; ẩm thực.
Chất lượng dịch vụ du lịch tại làng cổ bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu của du
khách với khoảng 80% du khách hài lòng. Tuy nhiên du khách còn phàn nàn về sự
nghèo nàn các dịch vụ du lịch tại làng cổ. Chính vì vậy, cần đa dạng hóa dịch vụ du
lịch, mặt khác cần duy trì và cải thiện chất lượng dịch vụ du lịch hiện có nhằm gia tăng
mức độ hài lòng của du khách thăm quan làng cổ Đường Lâm.
Tác giả Nguyễn Vương (2012) trong Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản trị

3


Kinh doanh với đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng của du khách nội địa khi đến du lịch ở
Phú Quốc” đã thực hiện nghiên cứu qua hai bước đó là nghiên cứu sơ bộ và nghiên
cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn, qua
đó khám phá, điều chỉnh, bổ sung các yếu tố và các thuộc tính đo lường tác động lên
sự hài lòng của khách. Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định
lượng thông qua bảng câu hỏi, dữ liệu trên phần mềm SPSS 19.0. Trên cơ sở kết quả
nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số biện pháp liên quan đến đào tạo, đầu tư, quản lý
và khai thác nhằm nâng cao sự hài lòng của du khách khi du lịch tại Phú Quốc.
Tác giả Trần Thị Lương (2011) trong đề tài Luận văn thạc sỹ chuyên ngành
Quản trị Kinh doanh với đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng của khách du lịch nội địa đối
với điểm đến du lịch Đà Nẵng” đã sử dụng các phương pháp phân tích hồi quy, Kiểm
định độ tin cậy của các thuộc tính, Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố, Kiểm
định t. Qua đó, nghiên cứu đã xác định các thành phần và mức độ ảnh hưởng của từng
thành phần đến sự hài lòng của du khách nội địa một cách đầy đủ và chính xác hơn.
Việc phân tích các thành phần liên quan đến mức độ hài lòng của khách hàng giúp các
nhà quản lý của các công ty du lịch hiểu rõ hơn về nhu cầu của du khách nội địa cũng
như chất lượng dịch vụ mà Công ty đang cung cấp từ đó có những cải tiến thích hợp
nhằm nâng cao chất lượng phục vụ. Ngoài ra, nghiên cứu còn đưa ra được những hàm

- Tiếp cận từ cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách du lịch nội địa;
- Tiếp cận từ thực tiễn, khảo sát đánh giá sự hài lòng của khách du lịch nội địa
tại Hạ Long, Quảng Ninh, qua đó đề xuất giải pháp.

5


CHƯƠNG 2: PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: sự hài lòng của khách du lịch nội địa tại Hạ Long
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá sự hài lòng của khách
du lịch nội địa tại khu du lịch Bãi Cháy, Hạ Long - Quảng Ninh
+ Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu sự hài lòng của khách du lịch nội địa
tại Hạ Long thông qua tiến hành khảo sát thực trạng (thực hiện từ ngày 24/3/2017
đến ngày 2/4/2017).
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- NỘI DUNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- NỘI DUNG 2: Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về sự hài lòng của khách
du lịch nội địa.
- NỘI DUNG 3: Tổng quan về thành phố Hạ Long và điều kiện đặc thù phục vụ
phát triển du lịch Hạ Long
- NỘI DUNG 4: Đánh giá sự hài lòng của khách du lịch nội địa; đưa ra giải pháp
khắc phục và nâng cao sự hài lòng của du khách tại Hạ Long, Quảng Ninh.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
* Thu thập dữ liệu sơ cấp
Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua phát phiếu điều
tra từ 350 khách du lịch nội địa đến Hạ Long trong khoảng thời gian từ ngày

các số liệu về đặc điểm kinh tế xã hội, tự nhiên của TP Hạ Long. Các chi tiêu về kinh
tế, xã hội…được công bố trên các loại sách, báo, ấn phẩm, tạp chí chuyên ngành, các
công trình nghiên cứu khoa học, các báo cáo định kỳ, báo cáo tổng kết của TP Hạ
long, Quảng Ninh.
2.3.3 Phương pháp phân tích
a. Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số
tương đối, số trung bình dựa trên việc phân chia tổng thể nghiên cứu thành các nhóm
khác nhau dựa trên một tiêu thức, tiêu chí nào đó để phân tích theo hướng mô tả kỹ,
sâu sắc thực trạng vấn đề.
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm: Mô tả lại thực trạng về mức
độ hài lòng của du khách tại Hạ Long, Quảng Ninh.
b. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu được sử dụng rộng rãi nhất để
phân tích các hiện tượng tự nhiên xã hội, để đánh giá được các mặt phát triển hay kém
phát triển, hiệu quả hay không hiệu quả, từ đó tìm ra được các định hướng và giải pháp
tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể.
Đề tài sử dụng phương pháp so sánh nhằm:
- So sánh mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa tại Hạ Long với các điểm du
lịch khác ở Việt Nam.
- So sánh thực trạng mức độ hài lòng của khách du lịch tại Việt Nam với các
nước và điểm du lịch trong khu vực.

7


2.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn, giúp các cơ quan quản lý nhà nước,
các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại Hạ Long nắm được rõ mức độ hài lòng của
khách nội địa đối với du lịch tại địa phương, qua đó kịp thời khắc phục những hạn chế

Hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đã định
nghĩa: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống
thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay
các mục đích khác ngoài hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn
một năm’’.
Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) tại điều 4, chương I đã quy định: “Du lịch là
các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong
một khoảng thời gian nhất định’’.
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham
gia, tạo thành một tổng thể phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành
kinh tế, vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội.

9


* Khách du lịch
Theo một số nhà nghiên cứu, khái niệm khách du lịch lần đầu tiên xuất hiện vào
cuối thế kỷ XVIII tại Pháp và được hiểu là: “Khách du lịch là những người thực hiện
một cuộc hành trình lớn’’.
Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa: “Khách
du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để
thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế’’.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới khách du lịch gồm có khách du lịch quốc tế và
khách du lịch nội địa. Khách du lịch quốc tế là một người ra khỏi quốc gia đang sinh
sống trong thời gian ít nhất 24h và không quá 12 tháng liên tục với mục đích không
phải là làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch nội địa là một người ra
khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó với thời
gian ít nhất 24h và không quá 12 tháng liên tục với mục đích không phải là làm việc để
nhận thu nhập ở nơi đến.

- Thích trò chuyện, trao đổi về những điều đã gặp và thường quan tâm đến nhau
trong đoàn.
- Thích thể hiện mình trong chuyến đi.
- Thích quay phim, chụp ảnh cho mình tại những điểm du lịch.
3.1.2.2. Sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng
của khách du lịch nội địa
Sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của con người bắt nguồn từ việc
so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó.
Như vậy có thể hiểu sự hài lòng của khách du lịch nói cung và khách du lịch nội
địa nói riêng chính là trạng thái/cảm nhận của khách du lịch đối với các hàng hóa, dịch
vụ mà họ đã sử dụng trong suốt chuyến đi của mình.
Sự hài lòng của khách du lịch nội địa thường bị chi phối, quyết định bởi nhiều
yếu tố, điển hình là: Khoảng cách địa lý từ nơi cư trú thường xuyên của du khách đến
điểm đến du lịch; Thu nhập; Độ tuổi.
Khoảng cách địa lý từ nơi cư trú thường xuyên của du khách đến điểm đến du
lịch là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hài lòng và các nhận định
khác của khách du lịch nội địa. Bởi lẽ, khi khoảng cách càng lớn thì sự khác biệt về
khí hậu, thời tiết, văn hóa, phong tục tập quán,…sẽ càng lớn.
Thu nhập của du khách liên quan đến sự hài lòng của họ khi đi du lịch. Theo
John Maynard Keynes, quy luật tâm lý cơ bản là ở chỗ con người có thiên hướng tăng
tiêu dùng cùng với tăng thu nhập, nhưng không tăng theo cùng một tốc độ của tăng thu
nhập. Nhìn chung phần đông du khách có thu nhập cao sẽ chi cho các dịch vụ nhiều
hơn. Và khi đó họ cũng mong muốn được nhận lại sự phục vụ có chất lượng cao. Điều
này đồng nghĩa với việc gia tăng sự kỳ vọng, và như vậy sự hài lòng sẽ khó đạt được
hơn.
Tuổi tác cũng là một yếu tố chi phối sự hài lòng của khách du lịch. Bởi lẽ, mỗi
một lứa tuổi điều kiện sức khỏe khác nhau, khả năng tài chính khác nhau, thị hiếu khác
nhau, động cơ, mục đích đi du lịch khác nhau.
3.1.2.3 Một số mô hình cơ bản ứng dụng trong đánh giá sự hài
lòng của khách du lịch

này, cho phép xác định được đặc điểm nào của dịch vụ là quan trọng đối với khách
hàng và khách hàng đánh giá dịch vụ ra sao để đề xuất giải pháp thỏa mãn tối đa nhu
cầu của khách hàng.
(2) Mô hình SERVQUAL
Mô hình SERVQUAL, được đề xuất bởi Parasuraman, Zeithaml, và Berry vào
năm 1988, đánh giá chất lượng dịch vụ dựa vào mức độ chênh lệch giữa giá trị kỳ
vọng của khách hàng và giá trị cảm nhận của khách hàng về dịch vụ cung ứng. Theo
đó: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng
Chất lượng dịch vụ tốt khi giá trị kỳ vọng nhỏ hơn giá trị cảm nhận, ngược lại khi
giá trị kỳ vọng cao hơn giá trị cảm nhận của khách hàng thì dịch vụ không đạt chất
lượng.
Bộ thang đo SERVQUAL được sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ gồm 2
phần (kỳ vọng trước khi sử dụng; và cảm nhận sau khi sử dụng). Mỗi phần gồm 22
biến thuộc 5 thành phần: 1. Sự tin tưởng; 2. Sự đáp ứng (Sự phản hồi); 3. Sự đảm bảo;
4. Sự cảm thông; 5. Sự hữu hình.

12


Tuy được sử dụng rộng rãi song mô hình SERVQUAL cũng có nhiều hạn chế, đó
là phải thu thập thông tin trước và sau khi khách hàng sử dụng dịch vụ. Điều này rất
khó thực hiện vì trong thực tế người nghiên cứu khó có thể tiếp xúc với một khách
hàng nhiều lần. Để khắc phục điểm này, các nghiên cứu thường phải thiết kế bảng câu
hỏi gồm 2 phần trước và sau khi sử dụng dịch vụ, khiến cho bảng câu hỏi khá dài, hơn
nữa khách hàng khó tưởng tượng lại mức độ kỳ vọng của mình sau khi đã sử dụng
dịch vụ khiến cho chất lượng dữ liệu thu thập có thể bị ảnh hưởng, làm giảm độ tin cậy
và tính không ổn định của các biến quan sát.
(2) Mô hình SERVPERF
Mô hình SERVPERF (do Cronin và Taylor đề xuất năm 1992) đánh giá chất
lượng dịch vụ dựa vào mức độ cảm nhận của khách hàng sau khi đã sử dụng dịch vụ.

với từng thuộc tính mang lại sự đo lường định lượng về mức độ hài lòng của du khách.
Tóm lại, sau khi nghiên cứu ưu điểm và hạn chế của 4 mô hình trên, căn cứ vào
điều kiện thực tiễn và năng lực hiện có, nhóm nghiên cứu quyết định chọn mô hình
SERVPERF làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa tại
Hạ Long.
3.2 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHÔ HẠ LONG VÀ ĐIỀU KIỆN ĐẶC THÙ
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HẠ LONG
3.2.1 Tổng quan về thành phố Hạ Long
3.2.1.1. Điều kiện vị trí địa lý, địa hình, khí hậu
a. Vị trí địa lý
Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích
271,95 km², với chiều dài bờ biển gần 50 km. Phía đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm
Phả, phía tây giáp thị xã Quảng Yên, phía bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía nam là vịnh
Hạ Long. Thành phố nằm dọc theo bờ vịnh Hạ Long với chiều dài khoảng 50 km,
cách thủ đô Hà Nội 165 km về phía Tây, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía Tây
Nam và cách thành phố cửa khẩu Móng Cái 184 km về phía Đông Bắc, phía nam
thông ra Biển Đông. Hạ Long có vị trí chiến lược về địa chính trị, địa kinh tế, an ninh
quốc phòng của khu vực và quốc gia.
Với vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện cho Thành phố Hạ Long có nhiều lợi
thế để phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch.

Ảnh 3.1: Toàn cảnh từ xa Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh
14


Nguồn: Cổng thông tin điện tử Thành phố Hạ Long (halongcity.gov.vn)

15



mùa hè. Tốc độ gió trung bình là 2.8m/s, hướng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ
45m/s. Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió
mạnh nhất trong các cơn báo thường là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11.
3.2.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
a. Điều kiện kinh tế
Năm 2014, GDP của thành phố đạt 22000 tỷ đồng chiếm 41% toàn tỉnh (trong đó
Công nghiệp & xây dựng chiếm 31%, Dịch vu & du lịch chiếm 53%), tổng thu ngân

16


sách chiếm 69,3% toàn tỉnh. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 12%/năm.
Năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 10,01%. Trong đó, giá
trị tăng thêm ngành công nghiệp và xây dựng đạt 12.707 tỷ đồng, tăng 10,4%; giá trị
tăng thêm ngành dịch vụ, du lịch đạt 13.872 tỷ đồng, tăng 9,6%; giá trị tăng thêm
ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 194,1 tỷ đồng, tăng 12,5%. Cơ cấu kinh tế tiếp
tục duy trì với tỷ trọng của khu vực dịch vụ, du lịch chiếm 54,1%; Công nghiệp- xây
dựng là 45,1%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm
b. Điều kiện xã hội
*Dân số
Tính đến năm 2014, dân số Thành phố là 236.972 người, trong đó nam là
121.440 người chiếm 51,2%, nữ 115.532 người chiếm 48,8%. mật độ dân số trung
bình 871 người/km2.
*Dân tộc
Thành phố Hạ Long có 16 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc kinh
chiếm đa số, còn lại là người Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân
Kiều, Cao Lan…
* Tôn giáo
Hai tôn giáo chủ đạo là đạo Phật và Công giáo. Thành phố có 2 ngôi chùa nổi
tiếng là chùa Long Tiên phường Hồng Gai và chùa Lôi Âm phường Đại Yên, 2 đền thờ

Sân bay Nội Bài (Hà Nội) –Bắc Ninh – Hạ Long: 160km. Đường từ sân bay Nội
Bài đến Hạ Long rất thuận tiện, đi bằng ô tô hành trình như sau: Sân bay Nội Bài theo
đường Nội Bài – Bắc Ninh (32km) đến Bắc Ninh rồi vào Quốc lộ 18A qua Phả Lại,
Sao Đỏ, Đông Triều, Uông Bí đến Hạ Long.
Từ Hải Phòng đến Hạ Long đi theo các tuyến sau:
Hải Phòng – Uông Bí – Hạ Long: 73km. Đây là tuyến đường bộ thuận tiện,
không qua phà, đi bằng ô tô, hành trình như sau: Hải Phòng theo đường 5 – Quán
Toan: 8km theo đường 10 thị xã Uông Bí: 25km. Uông Bí theo đường 18 – Hạ Long:
40km
Hải Phòng – Quảng Yên – Hạ Long: 70km. Đây là tuyến đường tương đối xấu,
phải qua phà Rừng. Đi bằng ô tô, hành trình như sau: Hải Phòng – Thị trấn Quảng
Yên: 20km. Quảng Yên – Hạ Long 50km
Từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và các tỉnh phía Nam – Hạ
Long đi theo các tuyến sau:
Từ các tỉnh phía Nam đi theo đường 1 đến thị xã Ninh Bình theo đường số 10,
qua Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng nối vào Quốc lộ 18A tại Uông Bí đến Hạ Long.
Hành trình như sau: Ninh Bình theo đường 10 – Nam Định: 23km. Nam Định theo
đường 10 – Thái Bình: 33km. Thái Bình theo đường 10 – Hải Phòng: 67km. Hải
Phòng theo đường 10- Uông Bí: 25km. Uông Bí theo đường 18 – Hạ Long: 40km.
Từ Lạng Sơn – Hạ Long: 250km. Đây là tuyến đường bộ rất thuận lợi, từ Lạng
Sơn đi dọc Quốc lộ 1A đến thị xã Bắc Ninh theo đường 18A qua Phả Lại, Chí Linh,
Đông Triều, Uông Bí đến Hạ Long.
Từ Móng Cái – Hạ Long: 180km. Từ cửa khẩu quốc tế Bắc Luân thị xã Móng
Cái theo đường 4B qua Hải Hà, Đầm Hà đến Tiên Yên nối vào đường 18A đến Cửa
Ông, Cẩm Phả, Hạ Long đi bằng ô tô.
 Đường sắt
Tuyến đường sắt nối Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long trên tuyến đường sắt Quốc
gia Kép – Bãi Cháy đã có. Hiện nay tuyến đường sắt đang được nỗ lực triển khai đầu
tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa từ Hà Nội tới Hạ Long và các tỉnh


Long đến Bến tàu Hòn Gai.
Từ Móng Cái – Hạ Long: 135km. Đi bằng tàu cao tốc xuất phát từ bến tàu Dân
Tiến, Mũ Ngọc – Móng Cái về bến tàu Bãi Cháy.
Từ Hạ Long – TP Hồ Chí Minh: Cao tốc Bắc – Nam trên biển chở khách và
hàng hóa. Đi bằng tàu cao tốc Hoa Sen và một tàu nữa đều nhập từ Italy, có sức chở
630 khách. Hành trình xuất phát từ cảng khách Hòn Gai ghé qua cảng Chân Mây và
đến cảng Nhà Rồng.
 Hệ thống cung cấp điện
Lưới điện được cung cấp nguồn từ hệ thống điện miền Bắc. Hiện nay, thành phố
được cung cấp đủ năng lượng điện cho phát triển kinh tế xã hội từ lưới điện quốc gia

19


và một số nhà máy nhiệt điện than trên địa bàn tình Quảng Ninh. Tổng công suất các
nhà máy nhiệt điện trên địa bàn tỉnh khoảng 900-1.200MW. Nhà máy nhiện điện Hà Khánh
1.200 MW đã được đầu tư xây dựng và đưa vào phát điện thử nghiệm giai đoạn I.
Hệ thống phụ tải Thành phố được chia thành 2 vùng, vùng 1 là toàn bộ khu vực
Hòn Gai, được cấp điện từ trạm 110KV Gipas Khấu và trạm 110 KV Hà Tu; Vùng 2 là
toàn bộ khu vực Bãi Cháy được cấp điện từ các trạm 110 KV Giếng Đáy, Hùng Thằng,
KCN Cái Lân và KCN Việt Hưng. Các trạm biến áp 110 KV này chủ yếu được ấp điện
từ tramh 220 KV Hoàng Bồ. Ngoài ra trong thành phố còn có nhà máy điện Cái Lân
công suất 36MW đã hoàn thành và phát vào mạng lưới quốc gia.
 Hệ thông cung cấp nước
Thành phố được chia thành 2 khu vực cấp nước riêng biệt, cả 2 mạng lưới đều
sử dụng nước mặt kết hợp nước ngầm. Khu vực Bãi Cháy được cấp 13.000m 3 /ngày,
đêm từ nhà máy nước Đồng Ho. Chất lượng nước nguồn tốt, không mùi, trong và mền,
độ pH thấp (6-6,5). Nguồn nước mặt. Nguồn nước cấp cho nhà máy nước là nước mặt
đập Thác Nhông sông Đồng Ho, cách Bãi Cháy khoảng 10km. Nguồn nước ngầm:
đang sử dụng nguồn nước ngầm lấy từ các giếng khoang. Khu vực Hòn Gai được cấp

Tài nguyên du lịch tự nhiên nổi trội, độc đáo, đặc sắc nhất mà Thành phố Hạ
long may mắn có cơ hội sở hữu là Vịnh Hạ Long – một kỳ quan thiên nhiên có một
không hai của thế giới, là thắng cảnh số một của Việt Nam. Đây là một lợi thế đặc biệt
để du lịch Hạ Long có thể phát triển thành thương hiệu du lịch có tầm vóc quốc tế.
Vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới (lần thứ
nhất vào năm 1994 về cảnh quan thẩm mỹ; lần thứ hai vào năm 2000 về địa chất địa
mạo). Đó là sự khẳng định giá trị ngoại hạng và toàn cầu, vì lợi ích của toàn nhân loại.
Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, được giới hạn với phía
Đông Bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và
Tây Bắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120 km kéo dài từ thị xã Quảng
Yên, qua thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía
Đông Nam và phía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ.

Ảnh 3.2: Vịnh Hạ Long – di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Thành phố Hạ Long (halongcity.gov.vn)
Vịnh Hạ Long có diện tích 1553 km2, gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có
889 hòn đảo đã được đặt tên; có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 đến 280 triệu năm. Vùng
vịnh được bảo vệ tuyệt đối gồm 434 km2 với 775 hòn đảo, trong đó có nhiều đảo đẹp
như đảo Ti Tốp, đảo Tuần Châu, có những hòn cù lao bằng đá vôi đẹp nổi tiếng như
21


hòn Lư Hương, hòn Đầu Người, hòn Lã Vọng, hũn Đũa. Riêng hòn Gà Trọi (còn gọi là
hòn Trống Mái) là kiệt tác trong những kiệt tác lỗi lạc nhất của tạo hóa. Những hang
động huyền ảo lung linh đẹp vào loại nhất là hang Đầu Gỗ, hang Trinh Nữ hay Sửng
Sốt, hang Bồ Nâu, là động Thiên Cung, động Tam Cung, động Mê Cung…
Với 4 giá trị nổi bật: Thẩm mỹ, địa chất, sinh học và văn hoá – lịch sử, vịnh Hạ
Long đã mang lại lợi thế đặc biệt, riêng có cho du lịch Hạ Long, Quảng Ninh nói riêng
và du lịch Việt Nam nói chung trên con đường đưa vịnh Hạ Long trở thành thương
hiệu du lịch tầm quốc tế.

một vụng biển lặng sóng, xung quanh là núi đá bao bọc có tên là Vạ Giá- Cửa Vạn.
Khu vực này là một địa điểm lý tưởng cho các loại tàu neo đậu. Hiện tại, đây là điểm
hấp dẫn thu hút khách du lịch, nhất là khách du lịch quốc tế do vậy hầu hết các tour
thăm vịnh của các hãng du lịch đều chọn làng chài Cửa Vạn là một điểm đưa khách
tham quan, trải nghiệm.
Ngoài những lễ hội truyền thống, những năm gần đây thành phố Hạ Long đã phát
triển thêm loại hình lễ hội hiện đại đã thu hút khá đông khách du lịch đặc biệt là khách
du lịch nội địa, đó là lễ hội đường phố Carnaval Hạ Long. Hàng năm, lễ hội Carnaval
Hạ Long được xem như mốc thời gian khai mạc mùa du lịch biển tại đây.
Ẩm thực là một trong những yếu tố đặc trưng của du lịch Hạ Long. Các món ăn
ở đây chủ yếu được chế biến từ hải sản nhưng theo cách truyền thống của dân miền
biển và từ những loài đặc sản. Chẳng hạn như các món được chế biến từ con Ngán
Ngán là một loài nhuyễn thể chỉ sống ở biển Quảng Ninh, rất bổ dưỡng và chế biến
được nhiều món ăn ngon khác nhau như ngán luộc, ngán nướng, gỏi ngán, cháo ngán,
bún ngán. Mỗi món ngán được chế biến theo những cách khác nhau lại có hương vị
riêng. Ngoài ra còn rất nhiều đặc sản khác mà du khách không thể bỏ qua khi đến Hạ
Long như: chả mực (ăn với xôi, bánh cuốn), canh riêu Hà, sam Hạ Long, sò huyết,
ruốc, tu hài, tôm hùm, bề bề, sá sùng, cù kỳ , ghẹ, hàu, mực...Trong đó, Chả mực Hạ
Long là một món ăn nổi tiếng cả nước. Các phố ẩm thực của Hạ Long thu hút đông
người dân và du khách: phố Giếng Đồn, đường Trần Quốc Nghiễn .....
3.2.2.2. Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại Hạ Long
a. Hệ thống khách sạn
Hệ thống khách sạn khu vực Bãi Cháy, Hồng Gai tăng nhanh cả về số lượng và
nâng cấp tiêu chuẩn chất lượng, nâng hạng sao. Tuy nhiên, số lượng khách sạn xếp
hạng sao chủ yếu tập trung ở khu vực Bãi Cháy, cụ thể là:
- Khách sạn 5 sao: Signature Royal Halong Cruise; Violet Cruise- Heritage line;
Royal Wings Cruise; Alisa Premier Cruise; Emeraude Classic Cruise; Wyndham
Legend Halong; Victory Star Cruise; Royal halong Hotel; Starlight Cruise; Pelican

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status